Một số kết quả sản xuất giống bào ngư vành tai tại (Haliotis asinina Linaeus, 1758) Khánh Hòa

Nghiên cứu khoa học công nghệ  
MỘT SỐ KẾT QUẢ SẢN XUẤT GIỐNG BÀO NGƯ VÀNH TAI  
(Haliotis asinina Linaeus, 1758) TẠI KHÁNH HÒA  
ĐINH THỊ HẢI YẾN  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Bào ngư vành tai (Haliotis asinina Linaeus, 1758) là một trong những đối  
tượng có giá trị kinh tế thuộc ngành động vật thân mềm (Mollusca), được người tiêu  
dùng ưa chuộng vì có thịt thơm ngon, giá trị dinh dưỡng cao [1].  
Trong quy trình sản xuất giống bào ngư vành tai hiện nay nhằm đáp ứng nhu  
cầu thị trường trong nước và xuất khẩu ngày càng tăng, một vấn đề còn tồn tại cần  
giải quyết để hoàn thiện và nâng cao chất lượng là kỹ thuật ương nuôi bào ngư  
giống. Theo các kết quả nghiên cứu của Lê Đức Minh, 2000 [2], Poomtong T. và  
cộng sự [6], Singhagraiwan S. và cộng sự [7]: Kết quả ương nuôi bào ngư giống có  
tỷ lệ sống đạt 41,3%. Một nguyên nhân của tỷ lệ sống không cao là do thức ăn chưa  
thích hợp cho ương nuôi bào ngư giống giai đoạn 0,1 cm ÷ 0,5 cm.  
Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu 5 đợt sản xuất giống và thử nghiệm ảnh  
hưởng các loại thức ăn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống giống bào ngư vành tai, trong đó  
có thử nghiệm xác định thức ăn phù hợp cho quá trình ương nuôi bào ngư giống giai  
đoạn 0,1 ÷ 0,5 cm, được thực hiện từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 7 năm 2014.  
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Đối tượng nghiên cứu: Bào ngư vành tai Haliotis asinina Linnaeus, 1758.  
2.2. Địa điểm nghiên cứu: Trại sản xuất giống thủy sản tại Ba Làng, Đồng  
Đế, thành phố Nha Trang, Khánh Hòa.  
2.3. Phương pháp nghiên cứu: Chủ yếu dựa vào phương pháp, kỹ thuật của  
Lê Đức Minh, 2000 [2].  
2.3.1. Tuyển chọn, vận chuyển và nuôi vỗ bào ngư vành tai bố mẹ  
Nguồn bào ngư bố mẹ: Từ nguồn khai thác tự nhiên.  
Tiêu chuẩn lựa chọn: Bào ngư vành tai bố mẹ khỏe mạnh, sức bám mạnh, vận  
chuyển nhanh, không vỡ vỏ hoặc tổn thương phần mềm, vỏ láng và không bị các  
động vật thủy sinh sống bám, có kích thước vỏ lớn hơn 7 cm, khối lượng lớn hơn  
70 g. Tuyến sinh dục của con đực có màu vàng kem, căng phồng ở đầu mút của  
tuyến và ôm lấy 2/3 cơ trục vỏ. Quan sát bằng kính hiển vi có thể nhận thấy tinh  
trùng trong tuyến sinh dục đực lấp đầy xoang và hoạt động mạnh. Tuyến sinh dục  
của con cái có màu xanh lá cây đậm hoặc xanh biển. Quan sát bằng kính hiển vi có  
thể nhận thấy tế bào trứng tròn và rời nhau, nhân bé lại, lệch về một bên, đường kính  
trứng đạt 180 μm đến trên 200 μm.  
28  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 09, 12 - 2015  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Vận chuyển: Theo hai phương pháp  
- Vận chuyển nước: Bào ngư bố mẹ sau khi đã lựa chọn cho vào thùng xốp, hạ  
nhiệt độ nước xuống còn 23 ÷ 25oC bằng cách dùng đá lạnh, sục khí, vận chuyển về  
khu vực nuôi vỗ.  
- Vận chuyển khô ẩm: Bào ngư bố mẹ sau khi đã lựa chọn cho vào thùng xốp,  
cho rong câu thấm nước biển sạch vào giữ độ ẩm, vận chuyển về khu vực nuôi vỗ.  
Nuôi vỗ: Theo hai hình thức  
- Nuôi vỗ trong bể xi măng: Bể có thể tích 3,6 m3 (2m x 1,5m x 1,2m), làm  
dàn treo các lồng nuôi. Lồng nuôi bằng nhựa có kích thước 30cm x 40cm x 28cm,  
thả ống nhựa vào lồng làm vật bám để bào ngư trú ẩn; nuôi 12 lồng/bể, mật độ nuôi:  
25 con/lồng. Bể có hệ thống lọc sinh học tuần hoàn. Nguồn nước nuôi là nguồn  
nước biển lọc sạch (độ mặn 30 ÷ 35‰; pH 7,5 ÷ 8,5). Hàng ngày vệ sinh đáy bể và  
thay 50% nước trong bể nuôi. Hàng tuần kiểm tra tuyến sinh dục.  
- Nuôi vỗ ở hệ thống lồng bè: Bè nuôi được đặt tại khu vực biển Đầm Báy,  
đảo Hòn Tre, vịnh Nha Trang. Làm hệ thống dàn treo; lồng nuôi bằng nhựa có kích  
thước 30cm x 40cm x 28cm, dùng gạch làm giá thể cho bào ngư và giúp cho lồng  
chìm xuống nước. Mật độ 25 con/lồng. Độ sâu thả lồng 2,5 m. Định kỳ vệ sinh lồng  
2 lần/tuần. Hàng tuần kiểm tra tuyến sinh dục.  
2.3.2. Kỹ thuật kích thích bào ngư vành tai sinh sản  
Kích thích bằng 2 phương pháp:  
- Dùng đèn cực tím: Cho nước biển lọc sạch qua hệ thống đèn cực tím có công  
suất 10W. Sau khoảng 10 ÷ 20 phút, bào ngư bắt đầu tham gia sinh sản.  
- Kích thích đẻ bằng phương pháp gây sốc nhiệt kết hợp với đèn cực tím:  
Dùng đèn tia cực tím có công suất 10W kết hợp nâng nhiệt độ nước trong bể đẻ lên  
30 ÷ 31oC để khoảng 3 giờ, sau đó hạ nhiệt độ nước về 27oC. Thời điểm bắt đầu  
kích thích bào ngư sinh sản vào khoảng từ 21 giờ đến 22 giờ.  
2.3.3. Kỹ thuật thu, xử lý, ấp nở trứng bào ngư vành tai  
Sau khi đẻ, chuyển bào ngư bố mẹ ra khỏi bể, đậy bạt kín và sục khí nhẹ. Tiến  
hành thu, lọc, rửa trứng và chuyển trứng sang bể ấp và ương nuôi ấu trùng trôi nổi.  
Mật độ ấp trứng là 300 ÷ 400 trứng/l. Sục khí nhẹ, thay 100% nước 1 lần/ngày.  
2.3.4. Kỹ thuật ương nuôi ấu trùng trôi nổi  
Sau 5 ÷ 7 giờ ấp ấu trùng Trochophore nở. Chuyển ấu trùng sang bể ương nuôi  
và sau 20 giờ biến thái thành ấu trùng Veliger. Giai đoạn này không cho ăn thức ăn  
ngoài, mật độ ương nuôi 100 ÷ 200 con/l. Hàng ngày vệ sinh đáy bể, thay 50% nước  
1 lần/ngày vào buổi sáng.  
Khi ấu trùng bắt đầu biến thái chuyển sang ấu trùng bám (Spat), thả vật bám đã cấy  
tảo đáy Navicula sp vào bể nuôi. Vật bám làm bằng nilon có kích thước 50cm x 50cm.  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 09, 12 - 2015  
29  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
2.3.5. Kỹ thuật ương nuôi ấu trùng bám (Spat) và bào ngư giống 0,5 cm  
Giai đoạn này cần cung cấp đủ thức ăn là tảo. Quy trình kỹ thuật gây nuôi tảo  
đáy được thực hiện theo công thức cấy tảo trong môi trường F/2 (Guilard R.R.L.,  
1975) [4].  
Kỹ thuật ương nuôi ấu trùng bám và bào ngư giống: Chia làm 2 giai đoạn.  
- Giai đoạn 1 từ ấu trùng bám (Spat) đến con giống 0,2 ÷ 0,3 cm, mật độ ương  
100 ÷ 300 con/bản, cho ăn thức ăn là tảo đáy Navicula sp., ương khoảng 10 ÷ 15 ngày.  
- Giai đoạn 2 từ con giống 0,2 ÷ 0,3 cm đến kích thước 0,5 cm, mật độ ương  
50 ÷ 100 con/bản, cho ăn thức ăn là tảo đáy Navicula sp. kết hợp rong câu non băm nhỏ.  
Quản lý và chăm sóc: Hàng ngày vệ sinh thường xuyên đáy bể, thay 50%  
lượng nước trong bể, cung cấp thêm tảo đã cấy sẵn.  
2.4. Phương pháp xử lý số liệu  
Theo phương pháp thống kê sinh học dựa trên phần mềm SPSS 15.0, sử dụng  
ANOVA - Oneway.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Kết quả nuôi vỗ bào ngư vành tai bố mẹ  
Kết quả nuôi vỗ bào ngư vành tai bố mẹ trong bể xi măng và lồng bè cho thấy  
bào ngư vành tai bố mẹ có thể thành thục khi điều kiện nuôi nhân tạo gần tương tự  
như điều kiện môi trường sống của bào ngư ngoài tự nhiên (bảng 1).  
Bảng 1. Kết quả nuôi vỗ bào ngư bố mẹ thành thục  
Nuôi vỗ trong  
bể xi măng  
Nuôi vỗ ở lồng bè khu  
vực Đầm Báy  
Các yếu tố đánh giá  
Điều kiện môi trường nuôi to nước: 27,0 ÷ 28,5oC  
pH: 7,8 ÷ 8,0  
Độ mặn: 28,0 ÷ 30,0‰  
DO:  
to nước: 26,0 ÷ 28,5oC  
pH:  
7,8 ÷ 8,2  
Độ mặn: 28,0 ÷ 33,0‰  
≥ 6,0 ÷ 8,0 mg/l  
≥ 6,0 ÷ 8,0 mg/l DO:  
Tỷ lệ thành thục (%)  
57,15 ± 3,98  
296,750 ± 887,563  
63,24 ± 3,63  
Sức sinh sản (trứng/cá thể)  
887,762 ± 45,782  
Như vậy, có thể áp dụng cả 2 phương pháp nuôi vỗ trong bể xi măng và lồng  
nuôi treo trên bè. Tuy nhiên, phương pháp nuôi vỗ bào ngư trong lồng bè (63,24%)  
cho tỷ lệ thành thục cao hơn so với nuôi vỗ trong bể xi măng (57,15%).  
30  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 09, 12 - 2015  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
3.2. Kết quả kích thích bào ngư vành tai sinh sản nhân tạo  
Kết quả thí nghiệm ở hai hình thức kích thích bào ngư vành tai bố mẹ sinh sản  
nhân tạo thể hiện ở hình 1.  
Hình 1. Tỷ lệ bào ngư tham gia sinh sản  
Có thể thấy, phương pháp kích thích bằng sốc nhiệt kết hợp đèn cực tím cho  
kết quả tỷ lệ tham gia sinh sản là 71,42%, cao hơn so với kết quả của Lê Đức Minh,  
2000 [2]. Khi sử dụng phương pháp kích thích bằng đèn cực tím, tỷ lệ tham gia sinh  
sản chỉ đạt 47,56%.  
3.3. Kết quả ấp nở trứng trong sản xuất giống nhân tạo bào ngư vành tai  
Kết quả thử nghiệm 5 đợt cho bào ngư vành tai sinh sản nhân tạo, được thể  
hiện ở bảng 2.  
Bảng 2. Kết quả ấp nở trứng của bào ngư vành tai  
Số lượng  
bào ngư  
sinh sản  
Số lượng  
ấu trùng  
bánh xe  
Trocho-  
phora  
Thời  
điểm  
bào  
ngư  
sinh  
sản  
Số ấu  
trùng  
bám -  
Spat  
Số bào  
ngư  
giống  
(con)  
Số lượng  
trứng đẻ  
(trứng)  
Đợt  
TN  
Thời gian  
Đực Cái  
(con)  
(con)  
28/4 -  
15/6/2013  
1
2
3
4
5
1
2
2
3
2
4
8
8
0 giờ 549.000  
2 giờ 520.000  
23 giờ 580.000  
516.500 235.120 120.320  
460.000 180.300 84.770  
526.600 218.720 119.360  
243.000 109.250 55.730  
20/6 -  
15/7/2013  
18/7 -  
30/8/2013  
2/12/2013 -  
15/1/2014  
4/3 -  
20/4/2014  
12 0 giờ 268.000  
8
22 giờ 350.000  
298.700 126.380 67.250  
Trung bình  
453.400  
408.960 173.954 89.486  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 09, 12 - 2015  
31  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Từ kết quả thí nghiệm thấy rằng:  
- Bào ngư vành tai thường sinh sản vào ban đêm, kết quả ấp nở trung bình đạt  
tỷ lệ nở 90% (453.400 trứng nở được 408.960 ấu trùng bánh xe Trochophora), cao  
hơn so với thử nghiệm của Lê Đức Minh, 2000 [2] chỉ đạt tỷ lệ sống trung bình 75%.  
- Ương nuôi ấu trùng đến giai đoạn ấu thể bám, trung bình từ 408.960 ấu trùng  
bánh xe đã thu được 173.954 ấu thể bám, đạt tỷ lệ sống trung bình 42,53%, cao hơn  
so với thử nghiệm của Lê Đức Minh, 2000 [2] chỉ đạt tỷ lệ sống trung bình 33%.  
- Ương nuôi ấu trùng đến giai đoạn con giống 0,5 cm, trung bình 173.954 ấu  
trùng bám đã thu được 89.486 bào ngư giống, đạt tỷ lệ sống trung bình 51,44%.  
Từ thí nghiệm cũng cho thấy tỷ lệ đẻ, nở phụ thuộc rất lớn vào chất lượng  
tuyến sinh dục thành thục và phương pháp kích thích. Vì vậy, việc lựa chọn bào ngư  
bố mẹ thành thục sinh dục là việc quan trọng quyết định hiệu quả sinh sản nhân tạo  
trong các đợt sản xuất. Tỷ lệ đực/cái cho sinh sản bào ngư vành tai là 1/4.  
3.4. Ương bào ngư vành tai giống 0,1 cm đến 0,5 cm  
3.4.1. Các yếu tố môi trường trong bể ương nuôi  
Trong quá trình ương nuôi bào ngư vành tai giống đã tiến hành đo các yếu tố môi  
trường vào thời điểm 8 giờ và 16 giờ hàng ngày, kết quả thu được thể hiện ở bảng 3.  
Bảng 3. Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường trong bể ương nuôi  
Các yếu tố môi trường  
Nhiệt độ nước (oC)  
Độ mặn (‰)  
pH  
Khoảng dao động  
27,0 ÷ 29,2  
30,0 ÷ 34,7  
7,6 ÷ 8,5  
Trung bình  
27,5 ± 0,2  
31,8 ± 0,7  
7,9 ± 0,5  
DO (mg/l)  
5,0 ÷ 5,5  
5,2 ± 0,4  
Theo công bố của FAO, điều kiện thích hợp để ấu trùng phát triển: Độ mặn  
25,0 ÷ 35,0‰; nhiệt độ 16,0 ÷ 35,0oC; DO ≥ 4 mg/l [5] thì kết quả theo dõi các yếu  
tố môi trường trong bể ương nuôi ở bảng 3 đều nằm trong giới hạn cho phép, thuận  
lợi cho sinh trưởng, phát triển của ấu trùng và bào ngư giống.  
3.4.2. Ảnh hưởng của thức ăn đến sự tăng trưởng và tỷ lệ sống của ương  
bào ngư vành tai giống giai đoạn 0,1 cm ÷ 0,5 cm  
Khi ương nuôi bào ngư giống giai đoạn 0,1 ÷ 0,5 cm, ngoài thức ăn phù hợp  
thì quá trình chuyển đổi thức ăn rất quan trọng và ảnh hưởng lớn đến tốc độ tăng  
trưởng, tỷ lệ sống của con giống giai đoạn này. Để lựa chọn thức ăn thích hợp ương  
bào ngư vành tai giống giai đoạn 0,1 ÷ 0,5 cm, đã tiến hành thí nghiệm với 3 cách  
cho ăn khác nhau:  
32  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 09, 12 - 2015  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
- TN1: Cho ăn hoàn toàn bằng tảo bám Navicula sp.;  
- TN2: Cho ăn tảo bám Navicula sp. kết hợp với rong câu non băm nhỏ;  
- TN3: Cho ăn hoàn toàn bằng rong câu non băm nhỏ trong 9 bể composite thí  
nghiệm, mỗi bể có dung tích 250 lít.  
Mật độ nuôi 200 con/bể. Thí nghiệm được bố trí trong 30 ngày, kết quả thể  
hiện ở bảng 4 và hình 2.  
Bảng 4. Sự tăng trưởng của bào ngư giống ở các loại thức ăn khác nhau  
Chiêu dài vỏ (mm)  
Thời gian  
Tảo bám Navicula Hoàn toàn tảo  
TT  
Hoàn toàn rong câu  
(ngày thứ)  
sp. + Rong câu  
băm nhỏ  
bám Navicula  
băm nhỏ  
sp.  
1,00  
1,00  
1,00  
1
2
1
1,00 a  
1,20 ± 0,30 b  
1,40 ± 0,40 b  
1,60 ± 0,50 b  
1,70 ± 0,60 b  
2,10 ± 0,10 b  
2,30 ± 0,90 b  
2,70 ± 0,10 b  
2,90 ± 0,10 b  
3,30 ± 0,10 b  
3,90 ± 0,20 b  
1,20 ± 0,30 b  
1,40 ± 0,40 b  
1,60 ± 0,40 b  
1,80 ± 0,40 b  
2,30 c ± 0,30 c  
2,40 ± 0,30 b  
2,50 ± 0,30 b  
2,60 ab ± 0,30 ab  
2,70 ab ± 0,30 ab  
2,80 ± 0,30 a  
3
1,20 ± 0,30 a  
1,40 ± 0,40 a  
1,50 ± 0,40 a  
1,60 ± 0,40 a  
1,80 ± 0,60 a  
2,10 ± 0,10 a  
2,30 ± 0,20 a  
2,40 ± 0,20 a  
2,60 ± 0,20 a  
3
6
4
9
5
12  
15  
18  
21  
24  
27  
30  
6
7
8
9
10  
11  
Ghi chú: Các chữ cái ở cùng một hàng khác nhau có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)  
Kết quả phân tích ANOVA về ảnh hưởng thức ăn lên sinh trưởng, tỷ lệ sống  
của giai đoạn ương bào ngư vành tai giống kích thước vỏ 0,1 cm đến 0,5 cm cho  
thấy sự khác nhau giữa các loại thức ăn. Kết quả chứng tỏ giai đoạn giống phát triển  
kích thước từ 0,1 cm đến 0,5 cm có sự chuyển đổi thức ăn. Ở giai đoạn này, thí  
nghiệm khi cho ăn tảo bám Navicula sp. kết hợp với rong tươi băm nhỏ trong thời  
gian 30 ngày cho kết quả cao nhất, tốc độ tăng trưởng đạt 3,90 mm; tỷ lệ sống đạt  
65,37%. Còn ở thí nghiệm cho ăn tảo bám Navicula sp. hoàn toàn và cho ăn rong  
tươi băm nhỏ hoàn toàn thì tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống đạt thấp hơn.  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 09, 12 - 2015  
33  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Hình 2. Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống bào ngư giống giai đoạn  
0,1cm ÷ 0,5 cm  
Chính vì vậy, giai đoạn ương giống bào ngư giai đoạn từ 0,1 cm đến 0,5 cm  
nên có sự phối hợp thức ăn giữa tảo bám và rong tươi băm nhỏ là thích hợp nhất, đạt  
tỷ lệ sống 65,37%, cao hơn kết quả nghiên cứu của Lê Đức Minh, 2000 [2] chỉ đạt  
41,30%.  
4. KẾT LUẬN  
- Nuôi vỗ bào ngư vành tai bố mẹ bằng hình thức lồng bè ngoài tự nhiên cho  
tỷ lệ thành thục cao hơn (63,24%) so với nuôi vỗ trong bể xi măng (57,15%).  
- Phương pháp kích thích bằng sốc nhiệt kết hợp với đèn cực tím cho kết quả  
tốt hơn kích thích bằng đèn cực tím, tỷ lệ tham gia sinh sản của bào ngư vành tai  
đạt 71,42%.  
- Giai đoạn ương giống bào ngư từ giai đoạn 0,1 cm đến 0,5 cm nên cho ăn  
phối hợp thức ăn giữa ăn tảo bám Navicula sp. và rong tươi băm nhỏ để bào ngư phát  
triển nhanh hơn. Sau 30 ngày ương nuôi tốc độ tăng trưởng tăng đạt 1,00 ÷ 3,90 mm;  
tỷ lệ sống đạt 65,37%.  
- Qua 5 đợt thử nghiệm sản xuất giống bào ngư vành tai tại Đồng Đế, Nha  
Trang đã thu được 89.486 bào ngư giống, đạt tỷ lệ sống trung bình 51,44%.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1.  
2.  
Nguyễn Chính, Một số động vật nhuyễn thể (Mollusca) có giá trị kinh tế ở  
biển Việt Nam, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1996, tr.132.  
Lê Đức Minh, Sinh học và kỹ thuật sản xuất giống bào ngư vành tai (Haliots  
asinina Linaeus,1758), Nxb. Nông nghiệp, Tp.HCM, 2000, tr.51.  
34  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 09, 12 - 2015  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
3.  
Le Duc Minh, Reproduction of Haliotis asinina Linnaeus in NhaTrang Bay,  
South Central Viet Nam, Phuket Marine Biological Center Special Publication,  
1999, 19(1):51-53  
4.  
5.  
6.  
7.  
Guilard R.R.L., Culture of phytopankton for feeding marine invertebrates.  
Plemm Publishing Corporation, Massachusetts, 1975, p.29-60.  
FAO, Training Manual on Artificial Breedings of Abalone (Haliotis discus  
hannai) in Korea DPR, Training Manual 7, September 1990, p.107.  
Shepherd S.A., Studies on Southern Australian abalone (Genus Haliotis), XIV,  
Growth of H.laevigata on Eyre Peninsula J. Malac. Soc. Aust., 13/1992, 99-113.  
Poomtong T., Sahawatcharin S., Sanguanngam K., Induced spawning, seed  
production, and juvenile growth of the Donkey’s ear abalone Haliotis asinina Linne  
1758, Phuket Marine Biological Center Special Publication, 1997, 17(1):229-235.  
SUMMARY  
SOME RESULTS OF ABALONE (Haliotis asinina Linaeus, 1758)  
BREED PRODUCTION IN KHANH HOA PROVINCE  
The results of abalone (Haliotis asinina) breed production in Khanh Hoa  
Province are as follows:  
After the 30 day - trial farming parent abalone (Haliotis asinina) in cement  
tanks and the natural habitat, the matured ratio are 57,15% and 63,24% respectively.  
Spawning with thermal shock combined with UV gives the fertility  
participation rate of 71,42%.  
The trial rearing of abalone (Haliotis asinina) of 0.1 cm ÷ 0.5 cm length with  
different foods shows that the most suitable food is Navicula sp. mixed with  
chopped fresh algae seaweed and the growth is from 1,0 mm to 3,9 mm, the survival  
rate is 65,37%.  
Average survival rate after 5 rounds of artificial breeding is 51,44%.  
Từ khóa: Bào ngư vành tai, sản xuất giống, ảnh hưởng, thức ăn, Haliotis asinina.  
Nhận bài ngày 07 tháng 9 năm 2015  
Hoàn thiện ngày 28 tháng 10 năm 2015  
Chi nhánh Ven Biển, Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 09, 12 - 2015  
35  
pdf 8 trang yennguyen 15920 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số kết quả sản xuất giống bào ngư vành tai tại (Haliotis asinina Linaeus, 1758) Khánh Hòa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_ket_qua_san_xuat_giong_bao_ngu_vanh_tai_tai_haliotis.pdf