Ước tính các thông số di truyền một số tính trạng quan trọng trên quần thể chọn giống rô phi đỏ thế hệ thứ 5 tại Việt Nam

Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
49  
Genetic parameter estimates for important traits on the fifth generation in red tilapia  
in Vietnam  
Sang V. Nguyen∗, Phuc H. Tran, Truong V. Dang, & Khoa D. Pham  
Research Institute for Aquaculture No. 2, Ho Chi Minh City, Vietnam  
ARTICLE INFO  
ABSTRACT  
Research Paper  
Genetic parameters comprising heritability, genetic correlation and geno-  
type by environment interaction (GxE) for growth survival rate and body  
colour at harvest were estimated on the 5th selective generation of red  
tilapia grown in two environments, freshwater and brackishwater ponds.  
A total of 116 full- half-sib families was produced as well as 4,432 and  
3,811 tagged individuals were tested in freshwater and brackishwater  
ponds, respectively. Genetic parameters were estimated by ASReml 4.1  
software. The heritability for body weight and survival rate was high  
while medium heritability for body colour in freshwater was observed.  
The heritability for those traits of red tilapia in brackishwater. Together  
with the figures in earlier publication on previous generations (G1 to  
G4) in the same selective population, the expected medium to high re-  
sponse acquires if selection is done for each trait. Genetic correlations  
among harvest body weight, survival rate and body colour are insignifi-  
cantly different and ranging from -0.25 to 0.37 (P > 0.05). These results  
implied that selection on one trait do not influence on responses of the  
other traits. GxE interaction for body weight and body colour between  
two tested environments is mostly negligible with genetic correlations  
Received: January 21, 2021  
Revised: February 18, 2021  
Accepted: February 26, 2021  
Keywords  
Body colour  
Genetic parameters  
Growth  
Red tilapia  
Survival  
∗Corresponding author  
ranging from 0.63 - 0.80 while it is important for survival trait (rg  
-0.17 0.40).  
=
Nguyen Van Sang  
Email: nvsangumb@gmail.com  
Cited as: Nguyen, S. V., Tran, P. H., Dang, T. V., & Pham, K. D. (2021). Genetic parameter  
estimates for important traits on the fifth generation in red tilapia in Vietnam. The Journal of  
Agriculture and Development 20(1), 49-57.  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(1)  
 
50  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
Ước tính các thông số di truyền một số tính trạng quan trọng trên quần thể chọn  
giống rô phi đỏ thế hệ thứ 5 tại Việt Nam  
Nguyễn Văn Sáng∗, Trần Hữu Phúc, Đặng Văn Trường & Phạm Đăng Khoa  
Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản II, TP. Hồ Chí Minh  
TÓM TẮT  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
Bài báo khoa học  
Nghiên cứu thực hiện ước tính các thông số di truyền bao gồm hệ số di  
truyền, tương quan di truyền và tương tác giữa kiểu gen và môi trường  
(GxE) các tính trạng tăng trưởng, tỷ lệ sống và màu sắc rô phi đỏ chọn  
giống thế hệ thứ năm sau khi nuôi ở ao nước ngọt và lợ mặn. Tổng cộng  
có 116 gia đình full- và half-sib được tạo ra, 4.432 và 3.811 cá giống được  
đánh dấu từng cá thể và thả nuôi đánh giá các tính trạng tương ứng  
trong ao nước ngọt và ao lợ mặn. Các thông số di truyền được ước tính  
bằng phần mềm ASReml 4.1. Hệ số di truyền đạt mức cao cho tính trạng  
khối lượng (0,42), tỷ lệ sống (0,58) và mức trung bình cho màu sắc (0,23)  
nuôi ở môi trường nước ngọt, trong khi đó 3 tính trạng tương ứng ở môi  
trường nước lợ là 0,26; 0,26 và 0,29. Kết quả này cùng với các giá trị  
công bố ở các thế hệ trước cho thấy tiềm năng chọn lọc mang lại hiệu  
quả từ trung bình đến cao cho từng tính trạng. Tương quan di truyền  
khác zero (0) không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05) được tìm thấy giữa  
ba tính trạng (từ -0,25 đến 0,37) cho thấy chọn lọc nâng cao một trong  
ba tính trạng sẽ không ảnh hưởng đến hiệu quả của tính trạng còn lại.  
Tương tác GxE cho các tính trạng tăng trưởng và màu sắc giữa hai môi  
trường nước ngọt và lợ mặn là không đáng kể (với hệ số tương quan 0,63  
- 0,80), nhưng tương tác đáng kể cho tính trạng tỷ lệ sống giữa hai môi  
trường nuôi được tìm thấy (rg = -0,17 0,40).  
Ngày nhận: 21/01/2021  
Ngày chỉnh sửa: 18/02/2021  
Ngày chấp nhận: 26/02/2021  
Từ khóa  
Màu sắc  
Rô phi đỏ  
Tăng trưởng  
Thông số di truyền  
Tỷ lệ sống  
∗Tác giả liên hệ  
Nguyễn Văn Sáng  
Email: nvsangumb@gmail.com  
1. Đặt Vấn Đề  
những cá thể có màu hồng phấn hoàn toàn, không  
lẫn đốm đen.  
Cá rô phi đỏ và vằn là 2 đối tượng nuôi nước  
ngọt chủ lực sau cá tra với sản lượng năm 2020  
đạt 260.000 tấn (Nguyen, 2021). Cá rô phi đỏ  
hiện được nuôi tập trung chủ yếu ở Nam Bộ.  
Tuy nhiên, nghề nuôi cá rô phi đỏ hiện còn nhiều  
hạn chế về chất lượng con giống. Thứ nhất, tăng  
trưởng kém, cá rô phi đỏ nuôi bè hoặc nuôi đăng  
quần sau 6 tháng chỉ mới đạt trung bình 500  
g/con, chỉ bằng 80% so với cá rô phi vằn dòng  
GIFT, do đó hiệu quả kinh tế chưa cao. Thứ hai,  
sức sống thấp, con giống dễ bệnh, tỷ lệ hao hụt  
cao (tỷ lệ chết là 35% vào năm 2014) và có thời  
điểm tỷ lệ hao hụt lên tới 70% từ giai đoạn cá  
giống đến khi thu hoạch, làm tăng chi phí sản  
xuất, nghề nuôi đạt hiệu quả kém (Trinh & ctv.,  
2016). Thứ ba, cá rô phi đỏ hiện nay có màu  
sắc không thuần nhất, đôi khi lẫn nhiều đốm  
đen, chưa phù hợp thị hiếu người tiêu dùng. Thị  
trường luôn ưa chuộng và trả giá cao hơn cho  
Cá rô phi đỏ chọn giống tại Viện Nghiên cứu  
Nuôi trồng Thủy sản II (Viện 2) có nguồn gốc  
từ các dòng cá Ecuador, Đài Loan, Malaysia và  
Thái Lan. Chương trình chọn giống cá rô phi đỏ  
tại Viện 2 dựa trên lý thuyết di truyền số lượng  
đã được chứng minh là cách thức khoa học và  
có hiệu quả nhằm nâng cao các tính trạng mong  
muốn. Hệ số di truyền ước tính cho tính trạng  
tăng trưởng dao động từ mức trung bình đến cao  
qua các thế hệ chọn giống thứ 1 đến thứ 4 (G1  
- G4) là 0,19 - 0,35 và cho tính trạng màu sắc  
(theo 3 mức đốm đen: không đốm, đốm ít, đốm  
nhiều) ở mức trung bình đến cao (0,27 - 0,33) khi  
nuôi ở môi trường nước ngọt. Trong môi trường  
nuôi nước mặn, hệ số di truyền ước tính đạt mức  
trung bình cho tính trạng tăng trưởng 0,26 - 0,28  
(G1-G2) và về màu sắc ở mức trung bình đến  
cao (0,30 ở G1 và 0,24 ở G2). Kết quả đánh giá  
tương tác kiểu gen và môi trường (GxE) của cả  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(1)  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
51  
hai tính trạng (tăng trưởng và màu sắc) thông con/gia đình. Thả nuôi đánh giá tăng trưởng ao  
qua hệ số tương quan của cùng tính trạng đánh nuôi nước ngọt 4.432 cá thể đã đánh dấu PIT tại  
giá ở 2 môi trường nuôi nước ngọt và lợ mặn ở Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản Nước ngọt  
mức 0,67-0,85 tức tương tác yếu (G1 - G2) cho Nam Bộ, Tiền Giang trong một ao 2.000 m2, độ  
tăng trưởng (Trinh & ctv., 2016). Mục tiêu của sâu nước 1,5 m và 3.811 cá thể trong ao nước lợ  
nghiên cứu này là đánh giá tính ổn định của hệ số mặn tại Trại Thực nghiệm Thủy sản nước lợ Nam  
di truyền, khẳng định tương tác GxE cho hai tính Sông Hậu, Bạc Liêu trong một ao 2.000 m2, độ  
trạng tăng trưởng và màu sắc, khả năng di truyền sâu nước 1,5 m. Độ mặn nước trong ao nuôi lợ  
tính trạng mới quan tâm là tỷ lệ sống nuôi ở cả mặn trung bình 17,4%₀, cao nhất 22,5%₀và thấp  
2 môi trường nước ngọt và lợ mặn thực hiện trên nhất 12,0%₀. Cho cá ăn 3 - 5% khối lượng thân  
quần thể chọn giống thế hệ thứ 5, phục vụ cho bằng thức ăn viên công nghiệp ở nhiều vị trí khác  
định hướng chọn lọc lâu dài và cung cấp giống nhau trong ao nuôi để giảm thiểu khả năng ảnh  
phục vụ sản xuất tại Việt Nam.  
hưởng của thức ăn lên các tính trạng khảo sát.  
Sục khí liên tục trong ao nuôi. Sử dụng định kỳ  
2. Vật Liệu và Phương Pháp Nghiên Cứu chế phẩm vi sinh nhằm cải thiện chất lượng nước  
ao nuôi. Thay nước 2 lần/tháng và thay liên tục  
hàng ngày trong thời gian triều cường, mỗi lần  
thay 30% thể tích nước ao. Theo dõi các chỉ tiêu  
2.1. Nuôi vỗ bố mẹ G4, ghép cặp cho sinh sản,  
ấp và ương riêng rẽ đến kích cỡ đánh dấu  
thủy lý hóa nước ao nuôi như oxy hòa tan, pH và  
Cá bố mẹ đã chọn lọc tăng trưởng nhanh thế  
hệ G4 được nuôi vỗ theo qui trình sản xuất giống  
cá rô phi đỏ được hoàn thiện tại Viện 2 (Trinh &  
ctv., 2016). Khi tỷ lệ cá cái sẵn sàng đẻ là 64,3%,  
tỷ lệ cá đực sẵn sàng đẻ là 100% và khối lượng  
trung bình tương ứng là 499 g và 816 g thì tiến  
hành cho sinh sản. Kỹ thuật lựa chọn cá đực, cá  
cái thành thục và phương pháp ghép cặp để sản  
xuất gia đình full- và half-sib dựa theo phương  
pháp sản xuất giống trong chương trình chọn  
giống rô phi dòng GIFT (WFC, 2004). Kết quả  
sau 29 ngày ghép cặp (từ ngày 4/1 - 2/2/2018)  
đã thu được 196 gia đình cá rô phi đỏ G5 (thế hệ  
thứ 5) theo 7 đợt sinh sản từ 116 cá mẹ và 63 cá  
bố. Trong đó, có 10 gia đình cùng cha cùng mẹ  
(full-sib) và không có cùng cha khác mẹ (half-sib)  
và 53 gia đình cá cùng cha khác mẹ thứ 2 (half-sib  
2).  
nhiệt độ. Khi cá hết thời gian nuôi tăng trưởng,  
phân biệt được cá đực và cá cái, tiến hành thu  
thập số liệu cho tính trạng tăng trưởng, màu sắc  
và tỷ lệ sống.  
2.3. Thu thập và xử lý số liệu  
2.3.1. Thu thập số liệu  
Sau gần 6 tháng (162 - 175 ngày) nuôi trong  
ao nước ngọt và hơn 5 tháng (156 - 162 ngày)  
nuôi trong ao nước lợ mặn tiến hành thu hoạch  
thu thập số liệu. Cá được gây mê bằng ethylene  
glycol monophenyl ether nồng độ 0,25 ppm. Từng  
cá thể được truy dấu từ PIT; ghi nhận giới tính  
(đực, cái); chiều dài tổng, chiều dài chuẩn, chiều  
cao thân, chiều rộng (dầy thân) được đo bằng  
thước và thước kẹp đến 1 mm; khối lượng được  
cân đến 0,1 g; tỷ lệ sống được ghi nhận tương  
ứng là “0” và “1” nếu cá thể đó đã chết và còn  
sống lúc thu hoạch; màu sắc được đánh giá bằng  
mắt thường sự hiện diện của đốm đen trên bề  
mặt cơ thể, được ghi nhận theo ba mức độ là (1)  
“không đốm”, (2) “ít đốm” (< 5% diện tích bề  
mặt cơ thể) và (3) “nhiều đốm” (> 5% diện tích  
bề mặt cơ thể). Tính trạng màu sắc được chia  
làm 2 nhóm là ‘đạt’ (không đốm và ít đốm) và  
‘không đạt’ (nhiều đốm).  
Trứng thụ tinh được thu, ấp nở và ương riêng  
rẽ theo gia đình đến kích cỡ đánh dấu. Sau thời  
gian ương trung bình là 105 ngày (dao động trong  
khoảng 74 đến 130 ngày), cá giống có kích cỡ  
trung bình 7,9 g theo khối lượng ( SD =  
3,6), 7,6 cm chiều dài tổng ( 1,2), 6,0 cm chiều  
dài chuẩn ( 1,3) và 2,3 cm chiều cao thân (  
0,6) được đánh dấu từ PIT (Passive Integrated  
Transponder) theo từng cá thể.  
2.2. Đánh dấu, nuôi đánh giá các tính trạng ở  
hai môi trường nuôi nước ngọt và lợ mặn  
2.3.2. Xử lý số liệu  
Phương sai thành phần và hệ số di truyền  
các tính trạng khảo sát  
Đối với các gia đình có số lượng cá thể đạt kích  
cỡ cá giống nhỏ hơn 60 con thì đánh dấu PIT  
hết số lượng và số gia đình còn lại đánh dấu 60  
Số liệu được lưu giữ và kiểm tra bằng phần  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(1)  
52  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
mềm Microsoft  
Excel 2010. Mô tả thống kê ảnh hưởng môi trường ương riêng rẽ đến kích cỡ  
bằng phần mềm R (V 3.4.4). Mô hình tuyến tính đánh dấu, δe2 là phương sai số dư và δP2 là phương  
hỗn hợp cá thể (animal linear mixed model) (Mô sai kiểu hình được ước tính bằng các mô hình  
hình 1) được dùng để ước tính các thành phần nếu trên. Hệ số di truyền (heritability, h2) được  
phương sai bằng phần mềm ASReml phiên bản định nghĩa là tỉ số giữa phương sai của giá trị di  
4.1 (Gilmour & ctv., 2015) và từ đó ước tính các truyền cộng gộp (additive genetic variance, σA2 )  
thông số di truyền của tính trạng tăng trưởng và phương sai kiểu hình đo đạc được của tính  
(chiều dài, khối lượng lúc thu hoạch):  
trạng chọn lọc (phenotypic variance, σP2 ). Tính  
trạng có hệ số di truyền cao đồng nghĩa với việc  
kiểu hình được đo đạc ước đoán tốt cho kiểu gen  
của tính trạng đó và ngược lại.  
Tăng trưởngijkl  
=
+ β1 × tuổi cái + β2×  
(tuổi cá)2i + giới tínhj + cá thểk + cá mẹl + eijkl  
(1).  
Đối với tính trạng tăng trưởng (chiều dài, khối  
Trong đó:  
lượng lúc thu hoạch), hệ số di truyền (h2) được  
Tăng trưởngijkl là tăng trưởng khi thu hoạch  
của cá thể k.  
σA2  
tính theo công thức h2 =  
(4).  
σA2 + σC2 + σE2  
là giá trị trung bình của quần thể.  
σA2  
σA2 + σE2  
Đối với tính trạng màu sắc  
bao gồm ảnh hưởng c2.  
(5), không  
β1 là hệ số hồi quy của hiệp biến ‘tuổi cá’.  
tuổi cái là ảnh hưởng cố định của tuổi i của  
từng cá thể tính từ ngày cá được đẻ ra đến ngày  
thu hoạch lên tăng trưởng.  
σA2  
Tỷ lệ sống h2 =  
(6) do không  
π2  
σA2 + σE2 ×  
β2 là hệ số hồi quy bậc hai (quadratic regres-  
sion) của hiệp biến bình phương tuổi cá ‘(thời  
gian nuôi)2’.  
(tuổi cá)2i là ảnh hưởng cố định bậc hai của  
tuổi i của từng cá thể tính từ ngày cá được đẻ ra  
đến ngày thu hoạch lên tăng trưởng.  
3
bao gồm ảnh hưởng c2 (vì mô hình toán không  
hội tụ được) và khi sử dụng hàm logit thì σE2 được  
cố định bằng 1.  
Ảnh hưởng c2 của môi trường ương nuôi riêng  
rẽ của tính trạng tăng trưởng (chiều dài, khối  
lượng lúc thu hoạch) được tính theo công thức c2  
σC2  
giới tínhj là ảnh hưởng cố định của giới tính j  
(đực hoặc cái) lên tăng trưởng.  
=
(7).  
σA2 + σC2 + σE2  
cá thểk là ảnh hưởng di truyền cộng gộp của  
cá thể k.  
Tương tác kiểu gen - môi trường (tương  
tác G E)  
cá mẹl là ảnh hưởng của môi trường chung (en-  
vironmental effect common to full-sibs, c2) của  
các cá con của cùng một cá mẹ l.  
Tương tác G E của quần thể G5 nuôi trong  
hai môi trường nước ngọt và lợ mặn được đánh  
giá thông qua tương quan di truyền (rg) của tính  
trạng (chiều dài, khối lượng, màu sắc và tỷ lệ  
sống) khi thu hoạch giữa hai môi trường và tương  
eijkl là ảnh hưởng của số dư.  
Đối với tính trạng nhị phân màu sắc  
(“đạt”/”không đạt”) và tỷ lệ sống (“sống”/”chết”),  
phương trình tuyến tính cá thể hỗn hợp sử dụng  
hàm logit (logit link function, phần mềm tự  
chuyển số liệu sang dạng logarit trước khi phân  
tích), với ảnh hưởng cố định là ‘giới tính’, ‘tuổi  
cá’, ‘tuổi đánh dấu’ và ảnh hưởng ngẫu nhiên là  
‘cá thể’. ‘Tuổi đánh dấu’ là ảnh hưởng cố định  
của tuổi của từng cá thể tính từ ngày cá được đẻ  
ra đến ngày đánh dấu từ PIT.  
quan di truyền được tính theo công thức: rg  
=
σ12  
σ12 + σ22  
p
p
(8).  
Trong đó σ12 là hiệp phương sai của ảnh hưởng  
di truyền cộng gộp của khối lượng thu hoạch  
trong hai môi trường nuôi, σ12 và σ22 lần lượt là  
phương sai của ảnh hưởng di truyền cộng gộp của  
tính trạng (chiều dài, khối lượng, màu sắc và tỷ  
lệ sống) thu hoạch trong môi trường nước ngọt và  
môi trường nước lợ mặn và được ước tính bằng  
mô hình hai biến với các biến cố định và ngẫu  
nhiên tương tự như mô tả trong mô hình (1), (2)  
và (3) tương ứng cho từng tính trạng thu hoạch  
(chiều dài, khối lượng, màu sắc và tỷ lệ sống).  
Màu sắcijk  
=
+ β1× tuổi cái + β2× (tuổi  
cá)2i + giới tínhj + cá thểk + eijkl (2).  
Tỷ lệ sốngij  
thểj + eij (3).  
=
+ β1× tuổi đánh dấui + cá  
Các thành phần phương sai bao gồm δa2 là  
phương sai di truyền cộng gộp, δc2 là phương sai  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(1)  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
53  
Tương quan di truyền có thể được tính toán bằng dài tổng và chiều dài chuẩn thấp nhất ở cả hai  
phần mềm ASReml 4.1 (Gilmour & ctv., 2015). môi trường nuôi (9,0 - 9,5%) và 8,8 – 9,8%).  
Tương quan di truyền (genetic correla-  
tion, rg) giữa các tính trạng khảo sát  
3.2. Hệ số di truyền các tính trạng nghiên cứu  
Tương quan di truyền (genetic correlation, rg)  
Các thành phần phương sai và hệ số di truyền  
cho biết mối tương quan di truyền của hai tính  
của tính trạng tăng trưởng (thông qua khối  
trạng quan tâm bao gồm chiều dài, khối lượng,  
lượng), màu sắc và tỷ lệ sống tại thời điểm thu  
màu sắc và tỷ lệ sống trong từng môi trường nuôi.  
hoạch của thế hệ G5 được trình bày tại Bảng 2.  
Hệ số di truyền ước tính (h2) của khối lượng thu  
hoạch đạt ở mức cao (0,42) ở nước ngọt và trung  
3. Kết Quả và Thảo Luận  
bình (0,26) ở nước lợ mặn, khác biệt có ý nghĩa  
3.1. Giá trị kiểu hình các tính trạng nghiên  
thống kê so với 0 (zero). Hệ số di truyền cho khối  
cứu  
lượng lúc thu hoạch ở nghiên cứu này trên thế  
hệ G5 ở nước ngọt cao hơn ở các thế hệ trước  
Khi thu hoạch số lượng các cá thể còn sống  
(G1: 0,35; G2: 0,22; G3: 0,19 và G4: 0,29) và ở  
thuộc đầy đủ 116 gia đình còn cho 2 môi trường  
nước lợ mặn là tương đương với các thế hệ trước  
nuôi. Số lượng, khối lượng trung bình và tỷ lệ sống  
(G1: 0,28; G2: 0,33) (Trinh & ctv., 2013; Trinh  
trung bình tương ứng cho 2 môi trường nước ngọt  
& ctv., 2017). Với hệ số di truyền cho tính trạng  
và lợ mặn là 3.470 cá thể, 473,3 g, 78,3% và 3.231  
khối lượng lúc thu hoạch ở mức trung bình và cao  
cá thể, 434,4 g và 84,9%. Chiều dài tổng và chuẩn  
qua các thế hệ từ 1 đến 5 cho thấy tiềm năng cải  
trung bình tương ứng cho 2 môi trường nước ngọt  
thiện di truyền sẽ ở mức trung bình và cao nếu  
và lợ mặn là 27,7 cm và 22,8 cm, 27,3 cm và 22,5  
chúng ta cho chọn lọc cho tính trạng này. Ảnh  
hưởng của môi trường ương nuôi riêng rẽ (c2) lên  
khối lượng lúc thu hoạch ở cả 2 môi trường ở mức  
thấp và khác biệt không có ý nghĩa so với zero  
(0,05 0,03 và 0,05 0,03). Giá trị c2 ở mức cao  
hơn và khác zero có ý nghĩa thống kê được công  
bố ở các thế hệ trước G1 - G4 trên cùng quần  
thể chọn giống (0,07 - 0,17; Trinh & ctv., 2013;  
Trinh & ctv., 2017). Theo Bentsen & ctv. (2012),  
ảnh hưởng của môi trường c2 trên cá rô phi vằn  
dao động trong khoảng 0,08 - 0,21. Do đó, đối với  
quần thể G5 thì ảnh hưởng c2 được cải thiện nhờ  
thời gian sinh sản các gia đình, thời gian ương  
các gia đình được rút ngắn nên giảm thiểu ảnh  
hưởng c2.  
Hệ số di truyền ước tính (h2) trên tính trạng  
màu sắc ở mức trung bình (0,23) và (0,29) ở nước  
ngọt và lợ mặn và khác biệt có ý nghĩa thống kê  
so với 0 (zero). Hệ số di truyền này nằm trong  
khoảng công bố trên cùng quần thể chọn giống  
nhưng ở thế hệ trước ở nước ngọt G2-G4 (dao  
động 0,27 - 0,33) và nước lợ mặn G1 - G2 (0,24 -  
0,31). Với hệ số di truyền cho tính trạng màu sắc  
lúc thu hoạch ở mức trung bình và cao qua các  
thế hệ từ 2 đến 5 cho thấy tiềm năng hiệu quả  
mang lại sẽ ở mức trung bình và cao nếu chúng  
ta chọn lọc cho tính trạng này. Thêm vào đó, hệ  
số di truyền cao cũng được công bố trên quần thể  
chọn giống cá rô phi đỏ Progift tại Trung Quốc  
(0,51) (Thodesen & ctv., 2013) càng hỗ trợ cho  
nhận định trên. Hệ số di truyền ước tính (h2)  
cm (Bảng 1). Nhìn chung, các chỉ tiêu tính trạng  
tăng trưởng khi cá nuôi nước ngọt bao gồm khối  
lượng, chiều dài tổng, chiều dài chuẩn là cao hơn  
so với cá nuôi nước lợ mặn. Tỷ lệ sống của G5  
- nước ngọt (78,3%) thấp hơn tỷ lệ sống của G5  
- lợ mặn (84,9%) kết quả này phù hợp với báo  
cáo trên cùng quần thể chọn giống nhưng ở thế  
hệ trước, G1 - nước ngọt (65,0%) và G1 - lợ mặn  
(66,7%) là cá nuôi trong môi trường nước mặn có  
tỷ lệ sống cao hơn nuôi trong môi trường nước  
ngọt (Trinh & ctv., 2013). Tỷ lệ cá có màu sắc  
“đạt” và màu sắc “không đạt” tương ứng cho 2  
môi trường nước ngọt và lợ mặn là 99,0%, 1,0%  
và 82,0%, 16,0%.  
Hệ số biến thiên (CV, %) là một đại lượng quan  
trọng dùng để nghiên cứu mức độ biến dị và đặc  
biệt khi cần so sánh mức độ biến dị của tính trạng  
giữa các nhóm, các quần thể hay các loài khác  
nhau hoặc giữa các tính trạng khác nhau trong  
cùng một loài (Tran & Dang, 2005). Trong nghiên  
cứu này, giá trị CV của khối lượng thu hoạch cao  
ở cả hai môi trường ao nuôi nước ngọt và nước lợ  
mặn lần lượt 25,7% và 29,1%. Tỷ lệ sống có giá  
trị CV cao ở ao nuôi nước ngọt 32,6%, trong khi  
các tính trạng tăng trưởng khác và tỷ lệ sống của  
ao nuôi nước lợ mặn có giá trị CV thấp hơn (8,8  
- 12,2%). Hệ số biến thiên của tính trạng khối  
lượng nằm trong khoảng báo cáo cá rô phi đỏ các  
thế hệ G2, G3, G4 (dao động 21,7 - 30,1%; Trinh  
& ctv., 2017). Hệ số biến thiên tính trạng chiều  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(1)  
54  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
Bảng 1. Giá trị kiểu hình các tính trạng kháo sát tại thời điểm thu hoạch ở hai môi trường nuôi  
Trung bình Độ  
Môi trường nuôi Tính trạng  
Khối lượng  
Đơn vị  
Hệ số biến thiên CV (%)  
lệch chuẩn SD  
473,3 121,9  
27,7 2,5  
22,8 2,0  
78,3 25,5  
g
25,7  
9,0  
8,8  
Chiều dài tổng  
cm  
cm  
%
Chiều dài chuẩn  
Tỷ lệ sống  
Màu sắc  
Nước ngọt  
32,6  
Ưa chuộng  
Không  
%
%
99,0  
1,0  
Khối lượng  
Chiều dài tổng  
Chiều dài chuẩn  
Tỷ lệ sống  
Màu sắc  
g
434,4 126,4  
27,3 2,6  
22,5 2,2  
84,9 8,4  
29,1  
9,5  
9,8  
9,9  
cm  
cm  
%
Nước lợ mặn  
Ưa chuộng  
Không  
%
%
82,0  
18,0  
Bảng 2. Các thành phần phương sai, hệ số di truyền và ảnh hưởng của môi trường ương riêng  
rẽ các tính trạng kháo sát tại thời điểm thu hoạch ở hai môi trường nuôi  
Tính trạng  
Nước ngọt  
σA2  
σC2  
σE2  
σP2  
h2 ± SE  
c2 ± SE  
Tăng trưởng 1235,7  
987,6  
-
-
6701,6  
0,07  
456,4  
8924,9  
0,3  
600,6  
0,42 0,12 0,05 0,05  
Tỷ lệ sống  
Màu sắc  
0,2  
144,2  
0,58 0,06  
0,23 0,05  
-
-
Lợ mặn  
Tăng trưởng 867,7 1.067,9 9.350,2 11.286,0 0,26 0,09 0,05 0,03  
Tỷ lệ sống  
Màu sắc  
0,0009  
488,2  
-
-
0,1  
986,8  
0,1  
1475,0  
0,26 0,04  
0,29 0,05  
-
-
trên tính trạng tỷ lệ sống đạt ở mức cao ở môi ngọt và lợ mặn trên quần thể chọn giống thế hệ  
trường nước ngọt (0,58) và ở mức trung bình ở G5. Tương quan di truyền thuận và gần như tuyệt  
môi trường nước lợ mặn (0,26) và khác biệt có ý đối giữa chiều dài tổng và chuẩn (0,98 - 0,99),  
nghĩa thống kê so với 0 (zero). Chưa có công bố cho thấy chúng ta có thể chọn một trong hai chỉ  
hệ số di truyền tính trạng tỷ lệ sống trên cá rô phi tiêu trong tương lai cho ước tính các thông số di  
đỏ ở các thế hệ chọn giống trước, nhưng ở cá tra truyền và chọn lọc. Tương quan di truyền thuận  
và tôm sú thì hệ số di truyền này tương ứng cũng và cao được tìm thấy giữa tính trạng khối lượng  
ở mức trung bình (0,27; Nguyen & ctv., 2019) và với chiều dài tổng và chiều dài chuẩn ở cả 2 môi  
mức cao (0,34 - 0,45; Nguyen & ctv., 2020). Tính trường nuôi (0,83 - 0,86), cho phép nhận định  
trạng tỷ lệ sống rất quan trọng quyết định đến nếu chúng ta chọn lọc nâng cao khối lượng thì  
hiệu quả của nghề nuôi, nên với hệ số di truyền cũng nâng cao chiều dài tương ứng hay nói cách  
trung bình và cao ở quần thể rô phi đỏ chọn giống khác không làm thay đổi hình dạng của cá. Tương  
G5 cho thấy tiềm nay chọn lọc mang lại hiệu quả quan di truyền thuận hay nghịch thấp được tìm  
của tính trạng này.  
thấy giữa tính trạng khối lượng với tính trạng  
tỷ lệ sống ở 2 môi trường nuôi (0,25 và 0,27) và  
với màu sắc (- 0,08 và 0,16) và tương quan này  
khác zero không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05).  
Tương quan di truyền nghịch và thấp (- 0,25 và  
- 0,22) được tìm thấy giữa các tính trạng màu  
sắc và tỷ lệ sống tương ứng 2 môi trường nuôi và  
3.3. Tương quan di truyền giữa các tính trạng  
nghiên cứu  
Bảng 3 thể hiện tương quan di truyền và kiểu  
hình các tính trạng tăng trưởng, màu sắc và tỷ lệ  
sống nghiên cứu trong môi trường ao nuôi nước  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(1)  
   
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
55  
tương quan này khác zero không có ý nghĩa thống  
kê. Kết quả này cho thấy nếu chọn lọc nâng cao  
khối lượng hay 1 trong 2 tính trạng kia thì không  
làm thay đổi lớn cải thiện di truyền 2 tính trạng  
còn lại. Đây được xem là kết quả công bố đầu  
tiên về tương quan giữa tăng trưởng với màu sắc  
và tỷ lệ sống trên cá rô phi đỏ. Tương quan di  
truyền thuận và thấp, khác zero (0) có ý nghĩa  
thống kê giữa khối lượng với tính trạng tỷ lệ sống  
cũng được tìm thấy trên cá tra qua 3 thế hệ chọn  
giống (0,27; Nguyen & ctv., 2019) và thuận trung  
bình và khác zero (0) có ý nghĩa thống kê giữa  
2 tính trạng cũng được tìm thấy ở thế hệ chọn  
giống tôm sú thứ 4 (Nguyen & ctv., 2020).  
3.4. Tương tác kiểu gen và môi trường (G E)  
các tính trạng nghiên cứu ở hai môi trường  
nuôi khác nhau  
Bảng 4 trình bày tương quan di truyền cùng  
tính trạng được xem như là 2 tính trạng ở 2 môi  
trường nuôi khác nhau. Nhìn chung, tương quan  
di truyền tính trạng tăng trưởng (khối lượng,  
chiều dài tổng, chiều dài chuẩn) giữa 2 môi trường  
ao nuôi nước ngọt và ao nuôi nước lợ mặn đều là  
tương quan thuận và ở mức cao (0,63 - 0,80) và  
khác 1 có ý nghĩa thống kê (P < 0,05), ngoại  
trừ giá trị này cho khối lượng thu hoạch. Theo  
Robertson (1959) giá trị tương quan di truyền  
rg ở mức 0,8 là cột mốc để đánh giá G x E có  
hoặc không hiện diện. Theo đó, khi tương quan  
di truyền lớn hơn 0,8 thì GxE là không tồn tại.  
Trong khi tương quan ở mức nhỏ hơn 0,8 và lớn  
hơn 0,65 thì tương tác G x E được xem là có  
xuất hiện, nhưng không có ý nghĩa về mặt sinh  
học (Robertson, 1959). Tuy nhiên, về mặt toán  
học thì chỉ hoàn toàn không có tương tác khi rg  
là 1, nếu rg nhỏ hơn 1 thì luôn có tương tác. Giá  
trị rg thuận và cao cho tính trạng khối lượng (rg  
= 0,63), cho thấy có GxE ở mức thấp. Do đó, khi  
áp dụng chọn lọc đối với tính trạng khối lượng lúc  
thu hoạch cần xem xét chọn những cá thể thuộc  
các gia đình tăng trưởng tốt ở cả môi trường nước  
ngọt và lợ mặn, vì xu hướng nuôi cá rô phi đỏ  
trong nước lợ mặn ngày càng tăng. Từ ba giá trị  
tương quan trên ta có thể thấy rằng, các số liệu  
ước tính cho các tính trạng tăng trưởng trong ao  
nuôi nước ngọt có thể sử dụng để đánh giá và  
chọn lọc cho các tính trạng tăng trưởng trong ao  
nuôi nước lợ mặn và ngược lại. Kết quả tương  
quan di truyền trong nghiên cứu này phù hợp với  
cùng quần thể chọn giống ở thế hệ G1, tính trạng  
khối lượng giữa hai môi trường nuôi là 0,67 cho  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(1)  
 
56  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
thấy có G x E thấp cho tính trạng khối lượng thu nghiên cứu này có tương quan di truyền cũng như  
hoạch giữa cá nuôi trong nước ngọt và lợ mặn G x E khi ước tính với sai số (SE) lớn. Trong khi  
(Trinh & ctv., 2013) nhưng hầu như không tồn đó, chương trình chọn giống cũng đã có số liệu  
tại G x E ở G2 (rg = 0,63; Trinh và ctv., 2016). đánh giá tính trạng ở môi trường nước ngọt qua  
5 thế hệ và lợ mặn 3 thế hệ (G1, G2, G5), nếu  
Ở cá rô phi đỏ, tương quan di truyền giữa tăng  
chúng ta gộp số liệu nhiều thế hệ và xử lý chung  
trưởng trong ao và lồng nuôi nước ngọt rất cao  
thì có thể ước tính các thông số di truyền chính  
(0,92 0,06), trong khi đó giữa ao nước ngọt và  
xác hơn với sai số nhỏ hơn.  
bể nước lợ thấp (0,33 0,14) (Thodesen & ctv.,  
2013). Một kết quả tương tự khi nuôi cá rô phi đỏ  
trong môi trường nước ngọt nhưng mô hình nuôi  
4. Kết Luận  
khác nhau là ao và lồng, Nguyen & ctv. (2017)  
Hệ số di truyền tính trạng khối lượng, tỷ lệ  
đã báo cáo tương quan di truyền các tính trạng  
sống và màu sắc lúc thu hoạch cá rô phi đỏ chọn  
là tương quan thuận và cao (rg = 0,90).  
giống thế hệ thứ 5 ở mức trung bình đến cao,  
tiềm năng cho chọn lọc tiếp theo mang lại hiệu  
quả ở mức trung bình đến cao. Tương quan di  
truyền giữa 3 tính trạng này khác zero không có  
Bảng 4. Tương quan di truyền cùng tính trạng được  
xem như là 2 tính trạng ở 2 môi trường nuôi khác  
nhau  
ý nghĩa thống kê, nên nếu chọn lọc nâng cao khối  
lượng hay 1 trong 2 tính trạng kia thì không làm  
thay đổi lớn cải thiện di truyền 2 tính trạng còn  
lại. Tương tác kiểu gen và môi trường cho tính  
trạng khối lượng và màu sắc tồn tại ở mức thấp  
giữa 2 môi trường nuôi nước ngọt và lợ mặn, nên  
việc chọn giống vẫn có thể thực hiện tạo quần thể  
có đặc tính tốt cho từng tính trạng. Đối với tính  
trạng tỷ lệ sống do có tương tác kiểu gen và môi  
trường nên cần chú ý khi tính toán đến chọn lọc  
đồng thời cho 2 môi trường hay thành lập 2 quần  
thể chọn giống theo tính trạng này.  
Tương quan di  
truyền (rg SE)  
0,63 0,17  
Chỉ tiêu tăng trưởng  
Khối lượng (g)  
Chiều dài tổng (cm)  
Chiều dài chuẩn (cm)  
Tỷ lệ sống  
0,80 0,15  
0,74 0,17  
-0,17 0,40  
0,77 0,10  
Màu sắc  
Tương tự đối với tính trạng màu sắc, tương  
quan di truyền (rg) thuận và cao được ước tính  
giữa ao nuôi nước ngọt và ao nuôi nước lợ mặn  
(0,77  
0,10). Kết quả này cho thấy có G x E  
thấp giữa hai môi trường. Do đó, khi áp dụng  
chọn lọc cũng cần lưu ý như cho tính trạng khối  
lượng thu hoạch. Đối với tỷ lệ sống, tương quan  
di truyền nghịch và thấp (- 0,17), sai số chuẩn cao  
và cho thấy có G x E. Kết quả này chỉ ra rằng  
các số liệu ước tính cho tỷ lệ sống trong ao nuôi  
nước ngọt không thể sử dụng để đánh giá và chọn  
lọc cho tỷ lệ sống trong ao nuôi nước lợ mặn. Do  
đó, đối với tính trạng tỷ lệ sống, cần lưu ý nếu  
muốn chọn lọc nâng cao tính trạng ở 2 môi trường  
cần có quần đàn chọn giống riêng hoặc có thể sử  
dụng chỉ số chọn giống (selection index) để chọn  
lọc, nhưng khi đó hiệu quả mang lại cho từng môi  
trường sẽ thấp (Gjerde, 2005). Theo Sae-Lim &  
ctv. (2016) khi tổng quan G x E tính trạng tăng  
trưởng và tỷ lệ sống ở một số đối tượng thuỷ sản  
trên thế giới cho thấy tương quan di truyền (rg)  
nằm trong khoảng 0,54 - 0,72. Từ đây, nhóm tác  
giả cũng lưu ý xem xét chọn lọc đình tính trạng  
quan tâm cho cá thể hay gia đình biểu hiện tốt  
cả 2 môi trường và có thể hình thành 2 quần thể  
chọn giống khác nhau cho 2 môi trường.  
Lời Cam Đoan  
Chúng tôi xin tuyên bố không có mâu thuẫn  
nào giữa các tác giả và đồng tác giả của bài báo.  
Lời Cảm Ơn  
Nghiên cứu được thực hiện trong khuôn khổ  
dự án ‘Hoàn thiện công nghệ chọn tạo giống rô  
phi đỏ (Oreochromis spp.) tăng trưởng nhanh,  
2017-2019’ thuộc chương trình Công nghệ Sinh  
học Nông nghiệp và Thuỷ sản - Bộ Nông Nghiệp  
và Phát triển Nông thôn. Chân thành cám ơn các  
anh chị thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy  
sản II đã tham gia một số công việc liên quan  
cùng nhóm nghiên.  
Tài Liệu Tham Khảo (References)  
Bentsen, H. B., Gjerde, B., Nguyen, N. H., Rye, M., Pon-  
zoni, R. W., Palada de Vera, M. S., Bolivar, H. L.,  
Velasco, R. R., Danting, J. C., Dionisio, E. E., Longa-  
long, F. M., Reyes, R. A., Abella, T. A., Tayamen, M.  
M., & Eknath, A. E. (2012). Genetic improvement of  
Đối với quần thể chọn giống rô phi đỏ G5 trong  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(1)  
   
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
57  
farmed tilapias: Genetic parameters for body weight at  
harvest in Nile tilapia (Oreochromis niloticus) during  
five generations of testing in multiple environments.  
Aquaculture 338-341, 56-65.  
Thodesen, J., Rye, M., Wang, Y. X., Li, S. J., Bentsen,  
H. B., & Yazdi, M. H., & Gjedrem, T. (2013). Genetic  
improvement of tilapias in China: genetic parameters  
and selection responses in growth, survival and exter-  
nal color traits of red tilapia (Oreochromis spp.) after  
four generations of multi-trait selection. Aquaculture  
416, 354-366.  
Gilmour, A., Gogel, B., Cullis, B., Welham, S., & Thomp-  
son, R. (2015). ASReml user guide release 4.1 struc-  
tural specifcation. Hemel Hempstead, England: VSN  
International.  
Tran, D. T., & Dang, H. L. (2005). Genetic basis and  
selective breeding in fish. Nha Trang, Vietnam: Nha  
Trang Fisheries University.  
Gjerde, B. (2005). Design of breeding programs. In  
Gjedrem, T. (Ed.). Selection and breeding programs  
in aquaculture (73-195). Heidelberg, Netherlands:  
Springer.  
Trinh, Q. T., Nguyen, V.S., Tran, H. P., Nguyen, C. M.,  
Pham, D. K., Lao, T. T., & Le, T. D. (2013). Ge-  
netic papameters of growth rate on red tilapia (Oreo-  
choromis spp.). Mekong Journal of Fisheries 02, 24-  
29.  
Nguyen, H. N., Hamzah, A., & Thoa, N. P. (2017). Effects  
of genotype by environment interaction on genetic gain  
and genetic parameter estimates in red tilapia (Ore-  
ochromis spp.). Frontiers in Genetics 8, 82.  
Trinh, Q. T., Phạm, D. K., Le, T. D., Nguyen, T. T.,  
Nguyen, T. V., & Nguyen, T. D. (2017). Red tilapia  
seed improvement through 3 generations of selection.  
Mekong Journal of Fisheries 10, 66-75.  
Nguyen, H. V. (2021). “Mighty eagerness” in the version  
for the lunar new year. Vietnam Fisheries Magazine,  
3&4, 86-87.  
Trinh, Q. T., Phạm, D. K., Le, T. D., Nguyen, T.  
T., Nguyen, T. V., Nguyen, T. D., & Tran, H. P.  
(2016). Final report of project ‘application of molecu-  
lar and quantitative genetics for selective breeding of  
red tilapia (Oreochromis spp.) for improving growth  
rate’. Ho Chi Minh City, Vietnam: Research Institute  
of Aquaculture 2.  
Nguyen, T. V., Nguyen, V. S., Tran, H. P., Nguyen, T. V.,  
& Nguyen, N. H. (2019). Genetic evaluation of a 15-  
year selection program for high growth in striped cat-  
fish Pangasianodon hypophthalmus. Aquaculture 509,  
221-226.  
Nguyen, V. S., Nguyen, T. L., Nguyen, V. H., Tran, V. N.,  
Nguyen, T. V., & Nguyen, H. N. (2020). Genotype by  
environment interaction for survival and harvest body  
weight between recirculating tank system and pond  
culture in Penaeus monodon. Aquaculture 525, 735-  
278.  
WFC (World Fish Center). (2004). GIFT technol-  
ogy manual: An aid to tilapia selective breeding.  
Penang, Malaysia. Retrieved January 21, 2021,  
Robertson, A. (1959). The sampling variance of the ge-  
netic correlation coefficient. Biometrics 15(3), 469-85.  
Sae-Lim, P., Gjerde, B., Nielsen, H. M., Mulder, H.,  
&
Kause, A. (2016). A review of genotype-by-  
environment interaction and micro-environmental  
sensitivity in aquaculture species. Aquaculrue 8,  
369-393.  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(1)  
pdf 9 trang yennguyen 17640 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ước tính các thông số di truyền một số tính trạng quan trọng trên quần thể chọn giống rô phi đỏ thế hệ thứ 5 tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfuoc_tinh_cac_thong_so_di_truyen_mot_so_tinh_trang_quan_trong.pdf