So sánh hiệu quả kỹ thuật nuôi tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei) vụ Đông trong ao mở ngoài trời và hệ thống trong nhà tại tỉnh Nam Định

Vietnam J. Agri. Sci. 2021, Vol. 19, No. 7: 901-912  
Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2021, 19(7): 901-912  
SO SÁNH HIỆU QUẢ KỸ THUẬT NUÔI TÔM CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vannamei) VỤ ĐÔNG  
TRONG AO MỞ NGOÀI TRỜI VÀ HỆ THỐNG TRONG NHÀ TẠI TỈNH NAM ĐỊNH  
Nguyễn Hữu Vinh1,2, Đặng Thị Hóa1, Lê Thị Cẩm Vân1, Đoàn Thị Nhinh1, Trần Thị Trinh1,  
Đỗ Hoàng Hiệp3, Trương Đình Hoài1, Kim Văn Vạn1, Phạm Thị Lam Hồng1, Lê Việt Dũng1*  
1Khoa Thủy sản, Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
2Công ty VMC Việt Nam  
3Trung tâm Giống thủy hải sản Nam Định  
*Tác giả liên hệ: [email protected]du.vn  
Ngày nhận bài: 13.05.2021  
Ngày chấp nhận đăng: 03.06.2021  
TÓM TẮT  
Hệ thống nuôi tôm trong nhà ISPS (Indoor Shrimp Production System) với các hệ thống xử lý nước trong điều  
kiện nhiệt độ thấp đã được phát triển ở Nhật Bản. Nghiên cứu này được thực hiện để đánh giá mức độ phù hợp và  
hiệu quả kỹ thuật của nuôi tôm chân trắng trong hệ thống ISPS trong điều kiện Việt Nam. Hai ao nuôi trong ISPS  
được so sánh với hai ao nuôi ngoài trời trong vụ đông ở Nam Định. Kết quả cho thấy, nuôi trong ISPS cho năng suất  
tôm (51,84 ± 1,45 tấn/ha) và tốc độ sinh trưởng (0,175 ± 0,006 g/ngày) tốt hơn tôm nuôi trong ao ngoài trời (39,94 ±  
0,27 tấn/ha, 0,135 ± 0,001 g/ngày). Thành phần thực vật phù du đều đa dạng ở các ao nhưng mật độ tảo lam trong  
nước ao ISPS (< 104 tế bào/ml) thấp hơn ao nuôi ngoài trời (> 104 tế bào/ml). Mẫu nước ao nuôi trong ISPS có mật  
độ Vibrio parahaemolyticus (từ 0,6 × 101 - 4,4 × 101 CFU/ml) thấp hơn của mẫu nước ao nuôi ngoài trời (1,2 × 103 -  
2,1 × 103 CFU/ml) trong 11 tuần theo dõi. Thêm nữa, mật độ Vibrio tổng số và V. parahaemolyticus trong gan tụy tôm  
ở ao ISPS (2,3 × 102 - 3,2 × 103 CFU/ml và 1,1 × 102 - 8,9 × 102 CFU/ml, tương ứng) thấp hơn ở ao mở (1,5 × 103 -  
1,6 × 104 CFU/ml và từ 8,3 × 103 - 9,8 × 103 CFU/ml, tương ứng). Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ thống ISPS có  
tiềm năng ứng dụng nuôi tôm tại miền Bắc Việt Nam.  
Từ khóa: ISPS, Vibrio, tôm chân trắng.  
Technical Efficiency  
of White-Leg Shrimp (Litopenaeus vannamei) Culture over Winter Crop  
Between Outdoor Ponds and Indoor Shrimp Production System in Nam Dinh Province  
ABSTRACT  
The Indoor Shrimp Production System (ISPS) with the treating water systems at low temperature was developed in  
Japan. This study evaluated the applicability and technical efficiency of growing white-leg shrimp in the ISPS under  
Vietnamese conditions. Two ponds in the ISPS were compared with two outdoor ponds overwinter in Nam Dinh. The  
ISPS ponds showed a better yield (51.84 ± 1.45 ton/ha) and growth of shrimp (0.175 ± 0.006 g/day) compared with the  
outdoor ones. The phytoplankton communities of the two treatments were diverse; however, the cyanobacteria density  
in the ISPS pond water (<104 cell/ml) was lower than the outdoor water (> 104 cell/ml). The density of Vibrio  
parahaemolyticus in the ISPS pond water (0.6 101 - 4.4 101 CFU/ml) was lower than that in the probiotic one (1.2   
103 - 2.1 103 CFU/ml) over 11 weeks. In addition, the total Vibrio and V. parahaemolyticus densities of the shrimp’s  
hepatopancreas in ISPS ponds (2.3 102 - 3.2 103 CFU/ml và 1.1 102 - 8.9 102 CFU/ml, respectively) were lower  
than those in the outdoor ones (1.5 103 - 1.6 104 CFU/ml và 8.3 103 - 9.8 103 CFU/ml, respectively). The results  
demonstrated the potential applicability of the ISPS in culturing shrimp in the North of Vietnam.  
Keywords: ISPS, Vibrio, white-leg shrimp.  
Bắc có tiềm năng phát triển thâm canh hóa nuôi  
tôm chân trắng. Theo thống kê đến năm 2017,  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
diện tích nuôi của Nam Định hơn 810ha, sản  
Nam Định là một trong những tỉnh ở miền  
901  
So sánh hiệu quả kỹ thuật nuôi tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei) vụ đông trong ao mở ngoài trời và hệ thống  
trong nhà tại tỉnh Nam Định  
lượng đạt khoảng 2.654 tấn với năng suất bình  
quân 3-4 tấn/ha/năm (Sở NN&PTNT, 2018).  
Đây là các vùng có cơ sở hạ tầng cơ sở tốt và áp  
dụng các công nghệ mới trong sản xuất. Một số  
cơ sở áp dụng công nghệ kỹ thuật mới đã mang  
lại năng suất cao 35 tấn/ha/vụ. Mục tiêu tới  
năm 2025, diện tích nuôi tôm nước lợ đạt  
4.175ha với sản lượng 9.700 tấn, trong khi đến  
năm 2030 diện tích giảm còn 3.680ha nhưng  
sản lượng 11.250 tấn. Xu hướng trong thời gian  
tới về diện tích nuôi là không tăng và có nguy cơ  
giảm do nhiều diện tích đất đã được quy hoạch  
để sử dụng với mục đích khác (UBND tỉnh Nam  
Định, 2018). Việc ứng dụng công nghệ nuôi tôm  
thẻ trong nhà sẽ góp phần giải quyết các nguy  
cơ hiện tại, giúp tăng năng suất và tính bền  
vững, đáp ứng định hướng không tăng diện tích  
nuôi mà sản lượng tăng.  
2017), cao hơn so với các mô hình nuôi hiện tại ở  
tỉnh Nam Định.  
Công nghệ này ứng dụng các thiết bị luân  
chuyển nước, lưới lọc micron, vi bọt khí và giá thể  
vi sinh nhân tạo. Công nghệ ISPS là công nghệ  
nuôi tôm trong nhà với các khả năng quản lý  
chất lượng nước và chất thải tốt, giảm thiểu dịch  
bệnh; đặc biệt được phát triển ở Nhật Bản có  
mùa đông lạnh hơn miền Bắc Việt Nam; vì thế nó  
có thể giúp người nuôi tôm ở Nam Định đương  
đầu với những thách thức hiện nay. Trong thập  
kỷ vừa qua, hệ thống nuôi tôm trong nhà cũng  
được thử nghiệm ở nhiều nước khác nhau như  
Mỹ (Ray, 2019), Thái Lan (McIntosh, 2019) và  
Indonesia (Suantika & cs., 2018) và được xác  
định là xu hướng nuôi bền vững trong tương lai.  
Vì vậy, để đánh giá khả năng ứng dụng của  
công nghệ này trong điều kiện Việt Nam, chúng  
tôi đã thiết kế và xây dựng hệ thống ISPS và  
thử nghiệm so sánh giữa nuôi tôm trong hệ  
thống ISPS và trong ao ngoài trời.  
Ngoài vấn đề diện tích nuôi hạn chế, tình  
hình dịch bệnh tôm nuôi trên địa bàn tỉnh Nam  
Định cũng diễn biến phức tạp. Tại một số vùng  
nuôi tôm tập trung của huyện Hải Hậu, huyện  
Giao Thủy thường xuyên xuất hiện bệnh đốm  
trắng và bệnh hoại tử gan tụy cấp (Sở  
NN&PTNT, 2018). Hầu hết khi bị bệnh, nước  
thải ao nuôi không được xử lý đều được xả trực  
tiếp ra môi trường, do đó mầm bệnh lây lan  
nhanh. Người nuôi tôm chủ yếu theo các quy  
trình công nghệ thay nước hoặc vi sinh hoặc  
phần lớn dựa vào kinh nghiệm. Việc ứng dụng  
công nghệ thay nước đang gặp khó khăn lớn do  
diện tích đất có hạn và lượng chất thải nhiều.  
Bên cạnh đó với tình hình biến đổi khí hậu thất  
thường cùng với mùa đông nhiệt độ thấp khiến  
công nghệ vi sinh gặp nhiều thách thức. Vì vậy,  
nghiên cứu ứng dụng các công nghệ mới vào  
nuôi tôm vụ đông là rất cấp thiết để giải quyết  
các vấn đề gặp phải, góp phần vào sự phát triển  
bền vững nghề nuôi tôm tại Nam Định.  
Từ những năm 2000, Trung tâm Nghiên cứu  
Khoa học nông nghiệp quốc tế Nhật Bản đã hợp  
tác với Trung tâm Khuyến ngư quốc gia Nhật  
Bản, Công ty TNHH Công nghệ thủy sản quốc tế  
IMTE và một số doanh nghiệp Nhật Bản nghiên  
cứu hoàn thiện công nghệ nuôi tôm trong nhà  
ISPS. Kết quả thử nghiệm với công nghệ ISPS  
tại Nhật Bản cho thấy năng suất nuôi tôm đạt  
9,43 kg/m3 với tỉ lệ sống 75% (Wider & Nohara,  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Hệ thống và thiết kế thí nghiệm  
Thiết kế hệ thống ISPS được thực hiện theo  
nguyên lý được mô tả trong Wider & Nohara  
(2017). Tất cả các trang thiết bi, hệ thống vận  
hành đi kèm sử dụng trong nghiên cứu được  
nghiên cứu chế tạo, lắp đặt tại Việt Nam. Thí  
nghiệm được thực hiện ở trang trại nuôi tôm tại  
Nam Định với 04 ao liền nhau (dài rộng sâu,  
25 20 2m). Tôm nuôi theo công nghệ ISPS  
được thử nghiệm trong 2 ao có mái che. Vật liệu  
phủ gồm 2 lớp bạt dệt PE ngăn mưa từ đỉnh phủ  
đến sát mặt dầm bê tông, bụi và giữ nhiệt cho  
mùa đông có khả năng cắt 30% ánh sáng. Tôm  
nuôi theo công nghệ vi sinh được triển khai ở 2  
ao ngoài trời (2 ao đối chứng). Hai ao đối chứng  
được trang bị sục khí và quạt nước giống như  
hai ao ISPS (gồm 1 máy thổi khí 3HP/2 ao và 2  
quạt 1,5 kW/ao). Hai ao có mái che được trang bị  
hệ thống lọc tuần hoàn và hệ thống cung cấp  
oxy (Sansolver, Sanso, Nhật Bản). Hệ thống lọc  
tuần hoàn gồm 1 bể hàu, 1 bể lọc lưới (Sakae), 1  
bể lọc vi sinh và 1 hệ thống điện hóa siêu âm  
(Jetek, Huetronics). Bể hàu có thể tích 1m3 và  
chứa 200kg hàu. Bể lọc lưới (3m3) có kích cỡ mắt  
902  
Nguyễn Hữu Vinh, Đặng Thị Hóa, Lê Thị Cẩm Vân, Đoàn Thị Nhinh, Trần Thị Trinh,  
Đỗ Hoàng Hiệp, Trương Đình Hoài, Kim Văn Vạn, Phạm Thị Lam Hồng, Lê Việt Dũng  
lưới 50µm và bộ tự động xịt rửa để loại bỏ cặn.  
2.3. Quản lý chất lượng nước  
Bể lọc vi sinh 3m3 chứa giá thể lọc kadness. Hệ  
thống điện hóa siêu âm có thể tích 400l với công  
suất bơm 60 m3/h, cường độ điện hóa 8,9V và  
cường độ siêu âm 1.200W. Hệ thống nâng oxy  
gồm máy trộn khí và bình oxy. Sơ đồ bố trí hệ  
thống nuôi tôm ISPS được mô tả ở hình 1.  
2.3.1. Quản lý các thông số thủy lý thủy hóa  
Chế độ thay nước trong 2 ao nuôi ngoài trời  
là 5-20%/ngày và trong 2 ao nuôi ISPS là  
2-5%/ngày theo kích cỡ tôm, tôm càng to thì tỉ  
lệ thay nước càng lớn. Oxy trong ao ngoài trời  
và ao ISPS được duy trì ở mức tương ứng 5 và  
7ppm. Các chỉ tiêu độ mặn, nhiệt độ và oxy hòa  
tan được đo hàng ngày và chỉ tiêu pH được đo 2  
lần/ngày bằng máy đo các yếu tố môi trường đa  
năng Aqua TROLL 500 (In-situ, Mỹ). Chỉ tiêu  
tổng ammonia (TAN) và NO2 được đo 3  
ngày/lần bằng kit Sera. Hệ thống cấp oxy, sục  
khí và quạt nước được kết hợp vận hành để  
cung cấp oxy hòa tan và quản lý chất thải rắn.  
Trước và trong khi cho ăn, hệ thống cung cấp  
oxy và sục khí được chạy, sau khi cho ăn một  
đến hai giờ, hệ thống quạt nước được vận hành  
để gom chất thải. Siphon chất thải 2-3  
lần/ngày và cấp bù nước đã qua xử lý. Tăng  
sinh vi khuẩn có lợi hiếu khí từ 1 gói chế phẩm  
vi sinh bột (gói 1kg, chứa các chủng Bacillus  
spp. như Bacillus licheniformis, Bacillus  
megaterium, Bacillus pumilus với lượng tối  
thiểu 1 × 1012 CFU) trong xô 20L và bổ sung  
vào ao 2-3 ngày/xô cùng với mật đường theo tỉ  
lệ 20-30% lượng thức ăn sử dụng. Chế phẩm  
EM và vi khuẩn tía dạng lỏng được nhân sinh  
khối rồi tạt đều xuống ao 3 lần/tuần với lượng  
100 l/lần.  
2.2. Quản lý thức ăn  
Tôm chân trắng PL35 được chuyển từ bể  
ương xuống các ao thí nghiệm vào đầu tháng  
12/2020 và được nuôi tiếp trong 77 ngày, tương  
đương ngày nuôi 112 tính từ PL12. Mật độ tôm  
nuôi trong 4 ao là 400 con/m3. Tôm được cho ăn  
thức ăn Grobest No.2, No.2M, No.2ML, No.2L,  
No.3 và No.4 (Protein thô: 39-40%; Chất béo  
tổng số 5-7%; Lysine tổng số min 1,7%;  
Methionine + Cystine tổng số min 0,9%) theo  
từng giai đoạn phát trển. Tôm được cho ăn bằng  
máy tự động cho đến khi thu hoạch. Máy được  
cài đặt chế độ 10 phút quay một lần, một lần  
quay 12 giây. Tôm được cho ăn 16 tiếng/ngày.  
Trong một số ngày nhiệt độ thấp hoặc thời tiết  
thay đổi, tôm có thể được dừng cho ăn hoặc giảm  
50% lượng thức ăn đồng loạt ở các ao thí  
nghiệm. Khẩu phần ăn hàng ngày được ước tính  
theo % sinh khối của đàn tôm và điều chỉnh  
thông qua hoạt động kiểm tra nhá. Nếu trong  
nhá không còn thức ăn thì tăng lượng thời gian  
lên 2 giây và ngược lại. Trộn men hỗ trợ tiêu  
hóa và thảo dược phòng bệnh vào thức ăn.  
Lọc  
Lọc hàu  
Lọc sinh học  
Sakae  
Ghi chú: : Điểm lắp dây khí ;  
: Hệ thống nâng oxy:  
: Hệ thống điện hóa siêu âm.  
Hình 1. Sơ đồ hệ thống nuôi tôm ISPS  
903  
So sánh hiệu quả kỹ thuật nuôi tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei) vụ đông trong ao mở ngoài trời và hệ thống  
trong nhà tại tỉnh Nam Định  
tôm được thu tại sàng ăn với số lượng 15  
2.3.2. Theo dõi thành phần và mật độ tảo  
con/ao/tuần và được chuyển ngay theo phương  
Một lít nước được thu ở mỗi góc ao và trộn  
pháp vận chuyển kín về phòng thí nghiệm. Các  
đều với nhau. Một lít nước mẫu được thu từ hỗn  
khối gan tụy được tách ra trong điều kiện vô  
hợp này và bảo quản trong thùng xốp mát. Mẫu  
khuẩn, trộn đều, nghiền để đồng nhất mẫu.  
nước được gửi về phòng phân tích 1 tuần/lần để  
Tiến hành lấy 0,1g và pha loãng theo dãy nồng  
xác định thành phần và mật độ tảo trong nước.  
độ để định lượng vi khuẩn. Phương pháp định  
Một lượng 100ml mẫu nước ao được cố định bằng  
lượng được thực hiện theo tiêu chuẩn TCVN  
8988:2012.  
formalin 4%. Xác định mật độ tế bào được tiến  
hành bằng cách đếm tế bào trên buồng đếm hồng  
cầu (thể tích 10-4ml; Neubauer improved, Đức).  
Công thức tính mật độ tế bào: D = A × 104 (tb/ml),  
trong đó: A là tổng số tế bào đếm được trong  
buống đếm. Mỗi mẫu được đếm ba lần và giá trị  
trung bình của ba lần đếm được tính là mật độ  
của mẫu. Mật độ của từng loài tảo của mỗi ao  
được tính bằng giá trị trung bình của mật độ loài  
đó trong cả quá trình theo dõi. Tảo được phân  
loại và định danh dựa trên hình thái theo  
Nguyễn Văn Tuyên (2003) và Tan & cs. (2016).  
2.4.3. Định danh V. parahaemolyticus  
Ít nhất 5 khuẩn lạc điển hình và đại điện ở  
các mẫu được lựa chọn ngẫu nhiên trên các đĩa  
môi trường TCBS, nuôi cấy thuần và tăng sinh.  
Kit API 20E được sử dụng để định danh sơ bộ vi  
khuẩn theo hướng dẫn của nhà sản xuất. DNA  
vi khuẩn được tách từ môi trường tăng sinh sử  
dụng kít tách chiết InstaGene™ Matrix (Bio-  
Rad, USA), theo hướng dẫn của nhà sản xuất.  
Để giám định V. parahaemolyticus, cặp mồi đặc  
hiệu phát gen độc độc lực toxR, mồi xuôi toxR-F:  
GTCTTCTGACGCAATCGTTG và mồi ngược  
toxR-R: ATACGAGTGGTTGCTGTCATG (Kim  
& cs., 1999) được sử dụng. Đối chứng dương là  
2.3.3. Định lượng vi khuẩn Vibrio tổng số  
và V. parahaemolyticus trong nước ao nuôi  
Phương pháp thu mẫu nước được thực hiện  
theo TCVN 5998:1995. Tại mỗi ao nuôi, tiến  
hành thu 4 mẫu nước/ao với tần suất 1 tuần/lần  
để định lượng vi khuẩn Vibrio tổng số và V.  
parahaemolyticus. Mẫu được bảo quản ở nhiệt  
độ 4°C và chuyển về phòng thí nghiệm trong  
vòng 3-5 giờ để định lượng ngay sau đó. Mật độ  
Vibrio tổng số và V. parahaemolyticus được xác  
định theo tiêu chuẩn TCVN 8988:2012.  
DNA  
được  
tách  
chiết  
từ  
chủng  
V. parahaemolyticus VNUA05-19 được cung cấp  
bởi Học viện Nông nghiệp Việt Nam.  
2.5. Phân tích số liệu  
Dữ liệu quan trắc từng yếu tố môi trường  
trong thời gian dõi thí nghiệm được tổng hợp  
ở dạng giá trị trung bình theo ngày cho từng  
ao nuôi.  
2.4. Quản lý sức khỏe tôm  
2.4.1. Theo dõi sức khỏe và sinh trưởng tôm  
Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của tôm (ADR;  
g/ngày) = (Khối lượng tôm ở thời điểm ngày nuôi  
112 - Khối lượng tôm ban đầu)/Số ngày nuôi.  
Hàng ngày kiểm tra lượng tôm lột xác mỗi  
khi xả đáy xong, nếu có hiện tượng tôm chết sẽ  
áp dụng các biện pháp xử lý kịp thời. Thường  
xuyên kiểm tra sức khỏe của tôm nuôi: gan tụy,  
đường ruột, các phụ bộ, màu sắc thân tôm, độ  
trong và mỏng của vỏ và hoạt động bơi lội. Tôm  
được bắt mẫu đo khối lượng 1 tuần 1 lần để  
đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng.  
Tốc độ sinh trưởng tương đối của tôm (SGR;  
%/ngày) = (ln(Khối lượng tôm ở thời điểm ngày  
nuôi 112) - ln(Khối lượng tôm ban đầu))/Số ngày  
nuôi × 100%.  
Tổng khối lượng tôm ước tính (kg) = Lượng  
thức ăn ở ngày nuôi 112 chia cho tỉ lệ phần trăm  
thức ăn trên khối lượng tôm (2%) do tôm chưa  
thu vào thời điểm kết thúc thí nghiệm. Lượng  
tôm ước tính này đã được xác nhận sát với lượng  
tôm cân được sau đó.  
2.4.2. Định lượng vi khuẩn Vibrio tổng số  
và V. parahaemolyticus trong gan tụy tôm  
Mật độ Vibrio tổng số từ gan tụy của tôm  
cũng được xác định theo TCVN 8988:2012. Mẫu  
904  
Nguyễn Hữu Vinh, Đặng Thị Hóa, Lê Thị Cẩm Vân, Đoàn Thị Nhinh, Trần Thị Trinh,  
Đỗ Hoàng Hiệp, Trương Đình Hoài, Kim Văn Vạn, Phạm Thị Lam Hồng, Lê Việt Dũng  
trung bình trong 77 ngày theo dõi của nghiệm  
thức ISPS luôn cao hơn 2°C so với ao đối chứng  
(P <0,05). Giá trị trung bình tổng đạm ammonia  
(TAN) của các ao nuôi ISPS cao hơn so với của  
các ao đối chứng (P <0,05). Hàm lượng NO2  
trong nước ở các ao ISPS thấp hơn có ý nghĩa  
thống kê với các ao đối chứng (P <0,05). Độ kiềm  
của ao ISPS được xác định cao hơn so với các ao  
đối chứng (P <0,05). Nồng độ oxy hòa tan của  
các ao ISPS cũng cao hơn của các ao đối chứng  
khoảng 2 mg/l (P <0,05).  
Tỉ lệ sống (%) = (Tổng khối lượng tôm ước  
tính/Kích cỡ tôm) /Số tôm thả ban đầu × 100%.  
FCR = Lượng thức ăn sử dụng/ Tổng khối  
lượng tăng ước tính của tôm.  
Năng suất (tấn/ha) = Tổng khối lượng tôm  
ước tính (tấn)/Diện tích ao × 10.000  
Giá trị trung bình và độ lệch chuẩn (SD)  
của các số liệu môi trường, sinh trưởng, FCR, tỉ  
lệ sống và năng suất ước tính của từng nghiệm  
thức được tính cho hai lần lặp lại, tương đương 2  
ao. Số liệu tỉ lệ sống được chuyển sang dạng  
arcsin trước khi phân tích thống kê. Các thông  
số này giữa hai nghiệm thức được so sánh thống  
kê one-way ANOVA và phương pháp Tukey’s  
test với độ tin cậy 95% bằng phần mềm Minitab.  
Số liệu mật độ tảo, mật độ Vibrio tổng số và  
V. parahaemolyticus được phân tích theo thống  
kê mô tả.  
Các yếu tố môi trường như pH, TAN, NO2  
và độ kiềm của cả 2 nghiệm thức đều ở ngưỡng  
thích hợp cho sinh trưởng của tôm do đều được  
bổ sung chế phẩm vi sinh và khoáng định kỳ  
trong suốt quá trình nuôi. Giá trị pH có xu  
hướng giảm dần trong thời gian theo dõi và nằm  
trong ngưỡng thích hợp cho tôm thẻ chân trắng  
(Zhang & cs., 2006). Toàn bộ kết quả đo  
ammonia đều nằm dưới ngưỡng an toàn cho tôm  
chân trắng (Lin & Chen, 2001), trong khi hàm  
lượng NO2 cũng ở mức không gây ảnh hưởng tới  
khả năng sống sót hay sinh trưởng của tôm  
(MELO & cs., 2018). Độ kiềm được duy trì trong  
khoảng khuyến cáo phù hợp cho sinh trưởng của  
tôm theo Ebeling & cs. (2006). Hàm lượng oxy  
hòa tan và nhiệt độ trong ao ISPS luôn ở mức  
cao hơn so với các ao đối chứng. Đây là ưu điểm  
của công nghệ ISPS trong nuôi tôm vụ đông,  
làm tăng tốc độ sinh trưởng của tôm.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Biến động một số chỉ tiêu hóa lý trong  
môi trường nước  
Giá trị pH nước của các ao nuôi theo công  
nghệ ISPS và ao đối chứng có giá trị tương  
đương nhau trong suốt quá trình theo dõi (Bảng  
1). Chênh lệch pH nước giữa sáng và chiều  
trong các ao nuôi ISPS và đối chứng không có sự  
khác biệt (P >0,05). Tuy nhiên, nhiệt độ nước ao  
Bảng 1. Các chỉ tiêu môi trường của hai nghiệm thức ISPS và đối chứng  
Nghiệm thức  
Chỉ tiêu  
ISPS (TB ± SD, n = 2)  
7,3-7,9  
ĐC (TB ± SD, n = 2)  
7,1-7,5  
pH sáng  
pH chiều  
7,5-8,0  
7,3-7,8  
Chênh lệch pH sáng - chiều  
Nhiệt độ (°C)  
Độ mặn (ppt)  
TAN (mg/l)  
0,1-0,3  
0,1-0,3  
22,04a ± 0,00  
20a ± 0,00  
20,08b ± 0,06  
20b ± 0,00  
2,09a ± 0,021  
1,23a ± 0,028  
144,28a ± 0,76  
6,93a ± 0,011  
1,30b ± 0,007  
1,82b ± 0,085  
131,79b ± 1,12  
4,94b ± 0,017  
NO2 (mg/l)  
Độ kiềm (mg/l)  
DO (mg/l)  
Ghi chú: Các số liệu trong cùng một hàng có mang chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa  
thống kê (P <0,05).  
905  
So sánh hiệu quả kỹ thuật nuôi tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei) vụ đông trong ao mở ngoài trời và hệ thống  
trong nhà tại tỉnh Nam Định  
Bảng 2. Các chỉ tiêu sinh trưởng và tỉ lệ sống của tôm  
ở hai nghiệm thức ISPS và đối chứng  
ISPS (TB ± SD, n = 2)  
Đối chứng (TB ± SD, n = 2)  
Nghiệm thức  
1,80 ± 0,12  
1,823 ± 0,005  
Wo (g)  
Wt (g)  
16,308a ± 0,601  
0,188a ± 0,006  
2,286a ± 0,039  
79,5a ± 0,71  
13,225b ± 0,035  
0,148b ± 0,001  
2,573b ± 0,007  
75,5b ± 0,71  
ADW (g/ngày)  
SGR (%/ngày)  
Tỉ lệ sống  
1,400 ± 0,014  
51,84a ± 1,45  
1,425 ± 0,007  
FCR  
39,94b ± 0,27  
Năng suất (tấn/ha)  
Ghi chú: Các số liệu trong cùng một hàng có mang chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa  
thống kê (P <0,05).  
Hormogoneae, 3 bộ Chroococcales, Nostocales  
3.2. Sinh trưởng của tôm  
và Oscillatoriales,  
Merismopediaceae,  
Anabaenaceae,  
7
họ Coccobactreaceae,  
Microcystidaceae,  
Oscillatoriaceae,  
Khi bắt đầu thí nghiệm, tôm có khối lượng  
khoảng 1,8g. Sau 77 ngày nuôi, khối lượng tôm  
trung bình ở các ao ISPS, lớn hơn có ý nghĩa  
thống kê với khối lượng tôm trung bình ở ao đối  
chứng (Bảng 2, P <0,05). Tốc độ sinh trưởng  
tuyệt đối của tôm ở ao ISPS cao hơn so với ao  
đối chứng (P <0,05). Tương tự, tốc độ sinh  
trưởng tương đối của tôm ở ao ISPS cao hơn có ý  
nghĩa thống kê so với tôm nuôi ở ao đối chứng  
(P <0,05). Tỉ lệ sống của tôm nuôi trong các ao  
ISPS cao hơn so với của các ao đối chứng  
(P <0,05). Không có sự khác biệt về FCR giữa  
các ao nuôi tôm ISPS và ao nuôi đối chứng  
(P >0,05). Năng suất trung bình của các ao nuôi  
tôm theo công nghệ ISPS đạt 51,84 ± 1,45  
tấn/ha, cao hơn so với của các ao nuôi đối chứng  
(P <0,05).  
Pseudonostocaceae và Gloeocapsaceae. Trong  
ngành Bacillariophyta, các loài tảo được tìm  
thấy trong 1 lớp Centricae, 4 bộ Discinales,  
Biddulphiales, Thalassiosirales và Raphinales,  
5
họ  
Coscinodiscaceae,  
Chaetocertaceae,  
Thalassiosiraceae,  
Naviculaceae  
và  
Nitzschiaceae. Trong ngành Euglenophyta, tảo  
chỉ xuất hiện trong 1 lớp Euglenophyceace, 1 bộ  
Euglenales, 1 họ Euglenaceace. Trong ngành  
Ochrophyta, tảo chỉ được tìm thấy trong 1 lớp  
Xanthophyceae, 1 bộ Heterothrichales và 1 họ  
Tribonemataceae. Tương tự, trong ngành  
Pyrrophyta, tảo được tìm thấy trong 1 lớp  
Dinophyceae, 1 bộ Gymonodimales và 1 họ  
Gymnodiniaceae.  
3.3. Thành phần thực vật phù du  
Thành phần tảo trong những ao nuôi đối  
chứng đa dạng hơn trong những ao ISPS. Số loài  
tảo xác định được trong các ao đối chứng là 54  
loài và trong ao ISPS là 41 loài (Hình 2). Các  
loài tảo xác định được trong ao ISPS đều được  
tìm thấy trong ao đối chứng. Mật độ tảo trong  
ao đối chứng cũng cao hơn so với ao ISPS. Điển  
hình nhất là tảo lục Chlamydomonas sp. (> 104  
tế bào/ml) và Chlorella spp. (> 104 tế bào/ml);  
tảo lam Aphanpcapsa sp. (< 104 tế bào/ml),  
Microcytis aeruginosa (> 104 tế bào/ml),  
Anabaena sp. (> 104 tế bào/ml) và  
Ankistrodesmus falcatus (< 104 tế bào/ml).  
Có tổng cộng 6 ngành tảo Chlorophyta,  
Cyanobacteriophyta,  
Bacillariophyta,  
Euglenophyta, Xanthophyta và Pyrrophyta đều  
được xác định trong cả ao ISPS và đối chứng.  
Trong ngành Chlorphyta, xuất hiện 1 lớp  
Chlorophycease, 4 bộ Volvocales, Tetrasporales,  
Shizogoniales,  
Chlorococcales  
và  
7
họ  
Chlamydomonadaceae, Polybleplepharidaceae,  
Volvocaceae, Tetreasporaceae, Oocystaceae,  
Coelastraceae và Micractiniaceae trong nước ao  
nuôi. Trong ngành Cyanobacteriophyta, xuất  
hiện tảo thuộc  
2
lớp Chroococceae và  
906  
Nguyễn Hữu Vinh, Đặng Thị Hóa, Lê Thị Cẩm Vân, Đoàn Thị Nhinh, Trần Thị Trinh,  
Đỗ Hoàng Hiệp, Trương Đình Hoài, Kim Văn Vạn, Phạm Thị Lam Hồng, Lê Việt Dũng  
Hình 2. Thành phần loài tảo trong hai nghiệm thức ISPS và đối chứng  
Thành phần thực vật phù du là chỉ số quan  
trọng để đánh giá điều kiện môi trường và sức  
khỏe động vật thủy sản trong ao vì nó nhạy cảm  
với những thay đổi môi trường cả về sinh khối và  
mức độ da dạng (Li & cs., 2009). Dương Thị  
Hoàng Oanh & cs. (2014) đã quan sát thấy ở các  
ao tôm bệnh, mật độ các ngành tảo giáp, tảo mắt,  
tảo lam đều cao hơn so với ao tôm khoẻ và cao  
nhất là tảo lam. Tương tự như các nghiên cứu  
trước (Yusoff & cs., 2002; Meng & cs., 2018),  
nghiên cứu này cho thấy rằng Chlorophyta,  
Bacillariophyta và Cyanobacteriaphyta là những  
ngành tảo có thành phần loài chiếm ưu thế. Mật  
độ tảo cao hầu hết đều được quan sát thấy trên  
một số loài tảo lam và tảo lục. Mật độ tảo lam ở  
mức thấp hơn trong các ao ISPS so với các ao đối  
chứng, chứng tỏ hệ thống lọc và thiết bị điện hóa  
siêu âm đã có tác dụng trong việc kiểm soát tảo  
lam. Khả năng loại bỏ tảo lam bằng siêu âm cũng  
đã được chứng minh trong các nghiên cứu trong  
điều kiện phòng thí nghiệm (Wu & cs., 2011;  
Huang & cs., 2020). Các ao đối chứng có mật độ  
tảo lam vượt mức 104 tế bào/ml, cho thấy tình  
trạng phú dưỡng cao hơn ao ISPS. Theo Paerl  
(1988), tảo nở hoa khi một hay hai loài chiếm ứu  
thế với mật độ 104-106 tế bào/ml và các loài này  
chiếm 95-99% trong tổng sinh khối. Mặc dù tảo  
lam ở mật độ cao trong các ao đối chứng, nhưng  
chưa xuất hiện hiện tượng tảo nở hoa trong hệ  
thống nuôi. Điều này có thể do thành phần loài  
tảo trong nước nuôi khá đa dạng (nhiều hơn 8  
loài tảo/mẫu) khiến quần xã tảo chưa bị đẩy tới  
pha tàn.  
3.4. Vibrio tổng số và V. parahaemolyticus  
từ mẫu nước và gan tụy tôm  
Các khuẩn lạc phát triển trên TCBS có hình  
thái điển hình như tròn, lồi, bờ đều, màu xanh  
đều cho kết quả kiểm tra sinh hóa tương đồng với  
chủng chuẩn V. parahaemolyticus VNUA05-19  
gây bệnh hoại tử gan tụy cấp ở tôm nuôi (Hình  
3). Kết quả giám định PCR từ DNA vi khuẩn có  
khuẩn lạc đặc trưng cũng dương tính và có sản  
phẩm 368bp trùng với sản phẩm của chủng đối  
chứng dương (Hình 4). Như vậy những khuẩn lạc  
vi khuẩn phát triển trên môi trường TCBS có  
hình thái đặc trưng như trên được định danh là  
vi khuẩn V. parahaemolyticus, vì vậy kết quả  
907  
So sánh hiệu quả kỹ thuật nuôi tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei) vụ đông trong ao mở ngoài trời và hệ thống  
trong nhà tại tỉnh Nam Định  
104 - 1,6 × 104 CFU/ml) và 56 (3,4 × 104 - 4,4 ×  
104 CFU/ml). Tương tự, mật độ vi khuẩn  
V. parahaemolyticus tăng mạnh vào cùng thời  
điểm ngày 42 (2,2 × 103 - 2,5 × 103 CFU/ml) và  
ngày 56 (6,0 × 103 - 1,6 × 104 CFU/ml). Mặc dù  
không tăng mạnh vào sau ngày 56, mật độ  
Vibrio tổng số và V. parahaemolyticus ở ao đối  
chứng vẫn có xu hướng tăng theo chu kỳ 3 tuần  
tương ứng từ khoảng 0 tới 4,0 × 103 CFU/ml và 0  
tới 2,7 × 103 CFU/ml. Trong khi đó, mật độ vi  
khuẩn Vibrio tổng số và V. parahaemolyticus  
của nước ao ISPS được kiểm soát liên tục ở mức  
thấp (< 103 CFU/ml và < 102 CFU/ml, tương  
ứng) như khuyến cáo của Tang & cs. (2020) và  
không tăng theo chu kỳ.  
đếm riêng những khuẩn lạc dạng này phát triển  
trên đĩa nuôi cấy từ nước ao hoặc từ gan tụy tôm  
được sử dụng để tính mật độ vi khuẩn  
V. parahaemolyticus.  
Mật  
độ  
Vibrio  
tổng  
số  
và  
V. parahaemolyticus (0-1,3 × 103 CFU/ml và  
0-2,0 × 102 CFU/ml, tương ứng) trong mẫu nước  
ao ISPS thấp hơn nhiều so với của ao đối chứng  
trong suốt quá trình thử nghiệm (0-4,4 × 104  
CFU/ml và 0-1,6 × 104 CFU/ml, tương ứng;  
Hình 5). Mật độ Vibrio tổng số và  
V. parahaemolyticus trong mẫu nước ao đối  
chứng có xu hướng tăng dần trong quá trình  
nuôi. Hai ao đối chứng có mật độ Vibrio tổng số  
trong nước tăng mạnh vào ngày nuôi 42 (1,4 ×  
Hình 3. Nuôi cấy vi khuẩn Vibrio tổng số (A)  
và cấy thuần V. parahaemolyticus (B) trên môi trường thạch TCBS  
Ghi chú: M-Marker; 1-5: một số chủng đại diện V. parahaemolyticus phân lập từ mẫu nước và gan tụy tôm;  
6: đối chứng âm; 7: đối chứng dương (chủng VNUA05-19).  
Hình 4. Nhuộm Gram vi khuẩn V. parahaemolyticus sau khi cấy thuần (A)  
và kết quả giám định vi khuẩn bằng kỹ thuật PCR (B)  
908  
Nguyễn Hữu Vinh, Đặng Thị Hóa, Lê Thị Cẩm Vân, Đoàn Thị Nhinh, Trần Thị Trinh,  
Đỗ Hoàng Hiệp, Trương Đình Hoài, Kim Văn Vạn, Phạm Thị Lam Hồng, Lê Việt Dũng  
Ghi chú: Đường đứt đoạn ngang là mức khuyến cáo theo Tang & cs. (2020).  
Hình 5. Mật độ Vibrio tổng số (A)  
và V. parahaemolyticus (B) trong nước ao giữa hai nghiệm thức ISPS và đối chứng  
Tôm có tỉ lệ sống và tốc độ sinh trưởng  
trong nghiệm thức ISPS cao hơn trong nghiệm  
thức đối chứng. Một phần nguyên nhân tỉ lệ  
sống cao hơn có thể là do mật độ Vibrio tổng số  
và V. parahaemolyticus trong nước và gan tụy  
tôm được kiểm soát ở mức thấp hơn trong các  
ao ISPS. Khi cảm nhiễm tôm thẻ chân trắng  
với V. parahaemolyticus ở nồng độ 104 và 105  
CFU/ml, Soto-Rodriguez & cs. (2015) đã quan  
sát thấy tỉ lệ chết tương ứng là 50% và 93% sau  
46 giờ, trong khi mật độ vi khuẩn này ở mức  
dưới 103 CFU/ml thì không gây chết cho tôm  
chân trắng sau 167 giờ. Nước ở 2 ao đối chứng  
có mật độ V. parahaemolyticus lên tới 6 × 103  
và 1,6 × 104 CFU/ml vào ngày 56, có thể là  
nguyên nhân gây chết, giảm tỷ lệ sống của tôm  
909  
So sánh hiệu quả kỹ thuật nuôi tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei) vụ đông trong ao mở ngoài trời và hệ thống  
trong nhà tại tỉnh Nam Định  
trong hệ thống nuôi này. Ngay sau khi có kết  
quả phân tích, chúng tôi đã tiến hành khử  
trùng nước kịp thời để giảm mật độ vi khuẩn  
trong nước ao đối chứng, làm giảm tỷ lệ tôm  
chết. Trong khi đó, nước trong các ao ISPS  
được kiểm soát mật độ khuẩn Vibrio liên tục,  
hầu hết các thời điểm đều thấp hơn 103 CFU/ml  
nhờ khả năng diệt khuẩn của thiết bị điện hóa  
siêu âm. Hiệu suất diệt khuẩn của thiết bị này  
có thể đạt tới 94,4% trong 300 giây với mẫu  
nước ao tôm có mật độ Vibrio 19,7 × 103  
CFU/ml (Nguyễn Văn Cường, 2016). Sóng siêu  
âm tạo ra các vi bọt khí trong nước do áp suất  
tĩnh của chất lỏng giảm dưới mức ấp suất bay  
hơi của nó (Doosti & cs., 2012). Khi các bọt khí  
vỡ, một nguồn năng lượng lớn được giải phóng,  
áp suất có thể đạt tới 500-10.000 atm và nhiệt  
độ lên đến 3.000- 5.000°K các gốc tự do  
hydroxyl (OH°) và hydro (H°) sẽ được hình  
thành (Patil & Pantid, 2007). Sau đó, nhiệt độ  
và áp suất cao cục bộ cùng với các gốc tự do  
giết chết vi khuẩn (Piyasena & cs., 2003).  
Ghi chú: Đường đứt đoạn ngang là mức khuyến cáo theo Tang & cs. (2020).  
Hình 6. Mật độ Vibrio tổng số (A)  
và V. parahaemolyticus (B) trong gan tụy tôm giữa hai nghiệm thức ISPS và đối chứng  
910  
Nguyễn Hữu Vinh, Đặng Thị Hóa, Lê Thị Cẩm Vân, Đoàn Thị Nhinh, Trần Thị Trinh,  
Đỗ Hoàng Hiệp, Trương Đình Hoài, Kim Văn Vạn, Phạm Thị Lam Hồng, Lê Việt Dũng  
(2010). Pathogenicity and infection route of Vibrio  
parahaemolyticus in American white shrimp,  
Litopenaeus vannamei. Journal of the World  
Năng suất nuôi tôm trong nhà dao động lớn  
giữa các công bố. Đối với các ao trong nhà có  
diện tích lớn (0,5-0,8ha) ở Trung Quốc, năng  
suất lại chỉ đạt 0,69 kg/m3 (Peng & cs., 2014). So  
với hệ thống nuôi tôm trong các bể 100 L tuần  
hoàn trong nhà ở Indonesia (Suantika & cs.,  
2018) hệ thống ISPS hiện tại có năng suất tương  
đương (5 kg/m3). Với công nghệ ISPS đã được tối  
ưu hóa (như nhiệt độ, độ mặn, oxy hòa tan, lọc  
sinh học) ở Nhật Bản, năng suất nuôi tôm dao  
động 6-9 kg/m3 (Wider & Nohara, 2017). Trong  
khi đó, năng suất nuôi tôm trong nhà sử dụng  
các bể 40 và 100m3 ở Mỹ dao động 4-9 kg/m3  
(Samocha, 2019). Như vậy, việc ứng dụng các  
công nghệ tiên tiến trong hệ thống nuôi tôm  
trong nhà đã giúp tăng năng suất nuôi tôm.  
Aquaculture  
Society.  
41:  
464-470.  
Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (1995). TCVN  
5998:1995. Tiêu chuẩn Việt Nam về Chất lượng  
nước - Lấy mẫu - Hướng dẫn lấy mẫu nước biển.  
Bộ Khoa học và Công nghệ (2012). TCVN 8988:2012  
(2012). Tiêu chuẩn quốc gia về Vi sinh vật trong  
thực phẩm, phương pháp định lượng Vibrio  
parahaemolyticus.  
Doosti M.R., Kargar R. & Sayadi M.H. (2012). Water  
treatment using ultrasonic assistance: A review.  
Proceedings of the International Academy of  
Ecology and Environmental Sciences. 14: 96-110.  
Dương Thị Hoàng Oanh, Huỳnh Trường Giang &  
Nguyễn Thị Kim Liên (2014). Mối liên hệ giữa sức  
khỏe tôm và biến động quần thể phytoplankton  
trong các ao nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus  
vannamei) thâm canh. Tạp chí Khoa học, Trường  
Đại học Cần Thơ. 2. 159-168.  
4. KẾT LUẬN  
Ebeling J.M., Timmons M.B. & Bisogni J.J. (2006).  
Engineering analysis of the stoichiometry of  
photoautotrophic, autotrophic, and heterotrophic  
removal of ammonia-nitrogen in aquaculture  
systems. Aquaculture. 257: 346-358.  
Năng suất nuôi tôm của công nghệ ISPS  
lần đầu được thử nghiệm tại Việt Nam ở quy mô  
ao 500m2 cho thấy tiềm năng ứng dụng công  
nghệ này vào thực tiễn sản xuất. Năng suất ước  
tính vào ngày nuôi thứ 112 từ PL12 ở các ao  
ISPS (51 tấn/ha) cao hơn ở các ao đối chứng (39  
tấn/ha). Mặc dù năng suất này chưa bằng kết  
quả thử nghiệm tại Nhật nhưng cơ sở vật chất  
và thiết bị đều được xây dựng và chế tạo trong  
nước. Một số ưu điểm có thể thấy của công nghệ  
ISPS là khả năng kiểm soát môi trường, mật độ  
vi khuẩn và mật độ tảo tốt hơn so với nuôi ao  
ngoài trời.  
Gomez-Gil B., Lucia Tron-Mayén, Ana Roque, James  
F. Turnbull, Valerie Inglis & Ana L. Guerra-  
Flores, (1998). Species of Vibrio isolated from  
hepatopancreas, haemolymph and digestive tract of  
a
population of healthy juvenile Penaeus  
vannamei. Aquaculture. 163(1-2): 1-9.  
Gomez-Gil B., Soto-Rodríguez S., Lozano R. &  
Betancourt-Lozano M. (2014). Draft genome  
sequence of Vibrio parahaemolyticus strain  
M0605, which causes severe mortalities of shrimps  
in Mexico. Genome Announc. 2(2): 14.  
Huang Haocai, Wu Gang, Sheng Chaowu, Wu Jiannan,  
Li Danhua & Wang Hangzhou (2020). Improved  
cyanobacteria removal from harmful algae blooms  
by two-cycle, low-frequency, low-density, and  
LỜI CẢM ƠN  
Nghiên cứu này được tài trợ bởi “Chương  
trình Khoa học và Công nghệ phục vụ xây dựng  
Nông thôn mới giai đoạn 2018-2020”. Chúng tôi  
xin chân thành cảm ơn các đơn vị phối hợp đã  
đóng góp cơ sở vật chất để thực hiện đề tài này.  
Xin cám ơn sự trợ giúp kỹ thuật của các sinh viên  
Khoa Thủy sản trong việc thu và phân tích mẫu.  
short-duration  
12(9): 2431.  
ultrasonic  
radiation. Water.  
Kim Y.B., Okuda J., Matsumoto C., Takahashi N.,  
Hashimoto S. Nishibuchi M. (1999).  
&
Identification of Vibrio parahaemolyticus strains at  
the species level by PCR targeted to the toxR gene.  
J. Clin. Microbiol. 37: 1173-1177.  
Li W.K., McLaughlin F.A., Lovejoy C. & Carmack  
E.C. (2009). Smallest algae thrive as the  
arctic ocean freshens. Science. 326: 539  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Lin Y.C. & Chen J.C. (2001). Acute toxicity of ammonia  
on Litopenaeus vannamei Boone juveniles at  
different salinity levels. Journal of Experimental  
Marine Biology and Ecology. 259: 109-119.  
Aguirre‐Guzmán  
Pérez‐Castañeda  
G.,  
Sánchez‐Martínez  
Palacios‐Monzón  
J.G.,  
A.,  
R.,  
Trujillo‐Rodríguez T. & De La Cruz‐Hernández N.I.  
911  
So sánh hiệu quả kỹ thuật nuôi tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei) vụ đông trong ao mở ngoài trời và hệ thống  
trong nhà tại tỉnh Nam Định  
Mexico. Journal of the World Aquaculture Society.  
41: 76-83.  
McIntosh (2019). Modeling a sustainable shrimp  
industry. Shrimp: Modelling for Sustainability,  
INFOFISH, Thailand.  
Suantika G., Situmorang M.L., Nurfathurahmi A.,  
Taufk I., Aditiawati P., Yusuf, N., Aulia, R. (2018)  
Application of Indoor Recirculation Aquaculture  
System for White Shrimp (Litopenaeus vannamei)  
Growout Super-Intensive Culture at Low Salinity  
Condition. J Aquac Res Development 9: 530. doi:  
10.4172/2155-9546.1000530.  
MELO F.B., Ferreira M.G.P., Braga Í.F.M. & Correia  
E.d.S. (2018). Toxicity of nitrite on shrimp  
Litopenaeus vannamei reared in clear water and  
biofloc systems. Boletim do Instituto de Pesca.  
42(4): 855-865.  
Meng N., Yuan J.L., Liu M. & Gu Z.M. (2018).  
Assessment of water quality and phytoplankton  
community of Litopenaeus vannamei pond in  
intertidal zone of Hangzhou Bay, China.  
Aquaculture Reports. 11: 53-58.  
Sở NN&PTNT tỉnh Nam Định (2017). Báo cáo Quy  
hoạch phát triển kinh tế thủy sản và bảo vệ nguồn  
lợi thủy sản tỉnh Nam Định đến năm 2025, định  
hướng đến năm 2030. tr. 180.  
Tan TohHii, Leaw Chui Pin, Leong Sandric, LIM Lay,  
Chew S.M., Teng Sing Tung & Lim Po Teen  
(2016). Marine micro-phytoplankton of Singapore,  
with a review of harmful microalgae in the region.  
Raffles Bulletin of Zoology. 34: 78-96.  
Nguyễn Văn Cường (2016). Nghiên cứu ứng dụng siêu  
âm xử lý khuẩn và tảo trong môi trường nước.  
Luận văn thạc sĩ. Đại học Khoa học Huế. tr. 58  
Nguyễn Văn Tuyên (2003). Đa dạng sinh học tảo trong  
thủy vực nội địa Việt Nam triển vọng và thử thách.  
Nhà xuất bản Nông Nghiệp. tr. 264-483.  
Tang K.F.J., Bondad-Reantaso M.G., Arthur J.R.,  
MacKinnon B., Hao B., Alday-Sanz V., Liang Y.  
& Dong X. (2020). Shrimp acute hepatopancreatic  
necrosis disease strategy manual. FAO Fisheries  
and Aquaculture Circular No. 1190. Rome, FAO.  
Paerl H.W. (1988). Nuisance phytoplankton blooms in  
coastal, estuarine and inland waters. Limnology  
and Oceanography. 33: 823-847.  
Patil M.N. & Pandit A.B. (2007). Cavitation - a novel  
technique for making stable nanosuspensions.  
Ultrasonics Sonochemistry. 14: 519-530.  
Tran L., Nunan L., Redman R.M., Mohney L.L.,  
Pantoja C.R., Fitzsimmons K. & Lightner D.V.  
(2013). Determination of the infectious nature of  
the agent of acute hepatopancreatic necrosis  
syndrome affecting penaeid shrimp. Dis. Aquat.  
Organ. 105(1): 45-55.  
Peng J., Dong Qiufen, Zhang Song & Yang Yong  
(2014). Shrimp farming in greenhouses:  
a
profitable model to culture Penaeus vannamei  
in China. International Aquafeed, January-  
February. p. 53.  
UBND tỉnh Nam Định (2018). Quyết định V/v phê  
duyệt Quy hoạch phát triển kinh tế thủy sản và bảo  
vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Nam Định đến năm  
2025, định hướng đến năm 2030. tr. 14.  
Piyasena P., Mohareb E. & McKellar R.C. (2003).  
Inactivation of microbes using ultrasound: a  
review. Int. J. Food Microbiol. 87: 207-216.  
Wu X.G., Eadaoin M. Joyce & Timothy J. Mason  
(2011). The effects of ultrasound on cyanobacteria.  
Harmful Alga., 10(6): 738-743.  
Ray A.J. (2019). Indoor Marine Shrimp Farming.  
SRAC Publication No. 2602: 1-7.  
Samocha T.M. (2019). Sustainable Biofloc Systems  
For Marine Shrimp. Academic Press. ISBN 978-0-  
12-818040-2.  
Wilder M.N.  
&
Nohara S. (2017). White  
Shrimp Litopenaeus vannamei. In: Takeuchi T.  
(eds) Application of Recirculating Aquaculture  
Systems in Japan. Fisheries Science Series.  
Springer, Tokyo. pp. 145-173.  
Soto-Rodriguez S.A., Gomez-Gil B., Lozano-Olvera  
R., Betancourt-Lozano M. & Morales-Covarrubias  
M.S. (2015). Field and experimental evidence of  
Vibrio parahaemolyticus as the causative agent of  
acute hepatopancreatic necrosis disease of cultured  
shrimp (Litopenaeus vannamei) in northwestern  
Mexico. Appl. Environ. Microbiol. 81: 1689-1699.  
doi:10.1128/AEM.03610-14.  
Yusoff F.M., Zubaidah M.S., Matias H.B. & Kwan T.S.  
(2002). Phytoplankton succession in intensive  
marine shrimp culture ponds treated with a  
commercial bacterial product. Aquaculture  
Research. 33: 269-278.  
Zhang P., Zhang X., Li J. & Huang G. (2006). The  
effects of body weight, temperature, salinity, pH,  
light intensity and feeding condition on lethal DO  
levels of whiteleg shrimp, Litopenaeus vannamei  
(Boone, 1931). Aquaculture. 256(1-4): 579-587.  
Soto-Rodriguez S.A., Gomez Gil B., Lozano R. &  
Roque A. (2010). Density of vibrios in hemolymph  
and hepatopancreas of diseased pacific white  
shrimp, Litopenaeus vannamei, from Northwestern  
912  
pdf 12 trang yennguyen 17940 Free
Bạn đang xem tài liệu "So sánh hiệu quả kỹ thuật nuôi tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei) vụ Đông trong ao mở ngoài trời và hệ thống trong nhà tại tỉnh Nam Định", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfso_sanh_hieu_qua_ky_thuat_nuoi_tom_chan_trang_litopenaeus_va.pdf