Đánh giá tăng trưởng và chất lượng cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi thương phẩm trong hệ thống tuần hoàn ngoài trời quy mô pilot
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
ĐÁNH GIÁ TĂNG TRƯỞNG VÀ CHẤT LƯỢNG CÁ TRA
(Pangasianodon hypophthalmus) NUÔI THƯƠNG PHẨM TRONG
HỆ THỐNG TUẦN HOÀN NGOÀI TRỜI QUY MÔ PILOT
Nguyễn Văn Huỳnh1*, Nguyễn Nhứt1, Nguyễn Hồng Quân1,
Lê Ngọc Hạnh1, Nguyễn Văn Hảo2
TÓM TẮT
Trong những năm gần đây, công nghệ nuôi cá tra trong ao truyền thống đã và đang làm ô nhiễm
môi trường nước thủy vực. Nghề nuôi cá tra cần có một công nghệ tiên tiến để nâng cao sản lượng
và hạn chế ô nhiễm môi trường. Chính vì thế, hệ thống tuần hoàn ngoài trời quy mô pilot đã được
nghiên cứu với mật độ nuôi cao, nó có thể ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và chất lượng cá. Mục
tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá sự tăng trưởng và chất lượng cá tra trong hệ thống tuần
hoàn và so sánh với các ao nuôi truyền thống. Hệ thống nuôi cá tuần hoàn ngoài trời bao gồm một
ao cá diện tích 196m2, một ao lꢀng 70m2, một hệ thống lọc sinh học 25 m3. Diện tích tổng cộng của
hệ thống tuần hoàn thí nghiệm là 226m2. Kết quả cho thấy năng suất nuôi đạt 88,2kg/m2, tỷ lệ sống
81,1%, hệ số chuyển đổi thức ăn 1,6, cá trong quần đàn đạt thịt trꢀng 100%, tỷ lệ thu hồi phi lê thô
1,95 và cá thương phẩm không nhiễm thuốc kháng sinh và hóa chất. Cá tra được nuôi trong hệ thống
tuần hoàn này thể hiện mùi làm giảm giá trị xuất khẩu. Tuy nhiên, đây là công nghệ nuôi tiên tiến
sẽ được nghiên cứu sâu hơn và phát triển ứng dụng ở quy mô lớn tại Việt Nam trong tương lai gần.
Từ khóa: cá tra, tuần hoàn, tăng trưởng, FCR, phi lê.
I. MỞ ĐẦU
nước khá lớn tạo ra một hệ thống hở. Hầu hết
các chất thải của ao nuôi cá tra không được
xử lý trước khi thải trực tiếp ra thủy vực xung
quanh và làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng
đến sự phát triển của nghề nuôi cá tra, đến sức
khỏe cộng đồng. Theo Bosma và ctv., (2008) và
Phan Thanh Lâm và ctv., (2009), lượng nước sử
dụng để sản xuất 1kg cá tra là 2.500 – 4.500L,
lượng chất thải thải ra môi trường có hàm lượng
nitrogen và phosphorus khá cao. Bên cạnh vấn
đề gây ô nhiễm, sự thay nước hàng ngày với
khối lượng lớn là cơ hội cho lây lan mầm bệnh
theo đường truyền ngang bùng nổ dịch bệnh
toàn khu vực.
Trong những năm gần đây, nghề nuôi cá tra
đã và đang phát triển, kim ngạch xuất khẩu cá
tra mang lại cho Việt Nam hàng tỷ đô la. Diện
tích nuôi 5.400 ha và tổng sản lượng 1.200.000
tấn (Phan Thanh Lâm và ctv., 2009). Bên cạnh
những thành tựu đó, nghề nuôi cá tra cũng gặp
nhiều khó khăn như: thị trường không ổn định,
quy trình nuôi truyền thống không mang tính
bền vững với môi trường xung quanh. Điều này
dẫn đến sản phẩm thịt cá chưa hấp dẫn người
tiêu dùng, sự ô nhiễm môi trường nước tăng
nhanh và bệnh dịch xảy ra với tần suất cao 15
bệnh/hội chứng xảy ra trong chu kỳ nuôi (Phan
Thanh Lam và ctv., 2009).
Trước bối cảnh khó khăn đó, Viện Nghiên
cứu Nuôi trồng Thủy sản 2 đã tìm kiếm một
giải pháp nuôi cá tra bền vững, an toàn sinh học
Tính không bền vững về môi trường của
công nghệ nuôi hiện nay ở ĐBSCL là việc thay
1 Phòng Sinh học Thực Nghiệm, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2.
*Email: huynhnguy[email protected]
2 Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2.
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014
37
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
bằng tiếp cận công nghệ nuôi tuần hoàn (RAS) Long. Hệ thống nuôi cá thương phẩm tuần hoàn
ít thay nước cho cá tra nuôi thương phẩm trên thiết kế theo đề tài “Nghiên cứu xây dựng công
đề tài khoa học nuôi thử nghiệm mô hình RAS nghệ nuôi cá tra thâm canh bằng hệ thống tuần
quy mô pilot. Tuy nhiên, việc áp dụng RAS cho hoàn đảm bảo an toàn sinh học và không gây
cá tra phải mang lại hai lợi ích là giảm thiểu ô nhiễm môi trường”. Hệ thống nuôi ao đất tại
ô nhiễm môi trường và chất lượng cá đạt chỉ Vĩnh Long và Đồng Tháp.
tiêu xuất khẩu. Vì vậy, nghiên cứu này tập trung
đánh giá tăng trưởng và chất lượng cá tra nuôi
thương phẩm bằng hệ thống tuần hoàn.
2.2. Bố trí thí nghiệm
Hệ thống tuần hoàn pilot ngoài trời
Cấu tạo hệ thống: hệ thống tuần hoàn bao
gồm một ao nuôi xi măng hình vuông diện tích
196 m2, một bể lꢀng xử lý chất thải rꢀn diện
tích 70 m2 và hệ thống lọc sinh học sử dụng
giá thể bám vi sinh diện tích đặc hiệu 800 m2/
m3, thể tích lồng sinh học 25 m3, vật thể bám vi
sinh chiếm 60% thể tích lồng sinh học (14 m3)
được lꢀp đặt giữa ao và hai góc ao (hình 1). Hệ
thống bơm cung cấp khí và bơm phân thải bằng
airlift. Thời gian lưu của hệ thống lọc sinh học
HRT=11 phút.
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Nguyên vật liệu
Cá tra giai đoạn giống có kích cỡ 16,1 g
và 34-46 g được thả nuôi trong hệ thống RAS
và ao nuôi tương ứng. Thức ăn thương mại của
công ty Vĩnh Hoàn có protein 28-30 % sử dụng
cho ao nuôi ở Đồng Tháp và công ty Green
Feed protein 28-30% sử dụng cho ao nuôi Vĩnh
Hình 1. Thiết kế hệ thống tuần hoàn cho ao nuôi cá tra thương phẩm quy mô pilot
Nguyên lý hoạt động hệ thống: nước từ ao Phương pháp nuôi: cá tra giống nuôi trong
nuôi chứa chất thải hòa tan và chất thải rꢀn, hệ hệ thống tuần hoàn với mật độ 140 con/m2 có
thống airlift cung cấp oxy cho ao tạo dòng chảy khối lượng trung bình là 16,1 g/con. Thời gian
li tâm gom chất thải rꢀn giữa ao vào hố thu phân nuôi 210 ngày. Sử dụng thức ăn thương mại của
có đường kính 1 m, sâu 1 m. Phân cá được airlift công ty Dehues với hàm lượng protein 28-30%.
bơm sang hệ thống ao lꢀng với vận tốc 16 L/s, Lượng cho ăn theo nhu cầu của cá, sử dụng
nơi đây diễn ra lꢀng chất thải và thực hiện quá phương pháp cho ăn bằng tay 4 lần/ngày. Chế
trình khử nitrate sử dụng nguồn carbon hữu cơ từ độ và tỷ lệ thay nước phù thuộc vào chất lượng
phân cá. Nước được lꢀng xử lý nitrate bơm trở lại nước ao tại thời điểm. Vị trí thực hiện tại Trung
ao nuôi. Trong nội tại ao nuôi chất thải lỏng được Tâm Quốc Gia Giống Thủy Sản Nước Ngọt
hệ thống lọc sinh học hoạt động 24 giờ/ngày khử Nam Bộ - Xã An Thái Trung, Huyện Cái Bè,
ammonia và nitrite trong nước làm sạch nước.
Tỉnh Tiền Giang.
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014
38
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
Hệ thống ao nuôi cá thương phẩm theo
tra mùi, thịt hấp chín không có mùi bùn và mùi
rong tảo được xem là đạt chất lượng xuất khẩu.
Đánh giá sự săn chꢀc cơ thịt dựa vào phương
pháp cảm quan về sự đàn hồi của thịt phi lê và
độ phân rã của thịt trong vòng 15 phút. Đánh
giá chỉ tiêu màu sꢀc cá thịt phi lê chia thành 4
cấp độ từ cao đến thấp bằng mꢀt thường như:
cấp 1 (thịt trꢀng), cấp 2 (thịt hồng nhạt), cấp 3
(hồng đậm) và cấp 4 (màu vàng chanh). Chỉ tiêu
đánh giá vi sinh, thịt cá phân tích thành phần
vi khuẩn Coliform sp và Ecoli sp bằng phương
pháp trải đĩa thạch agar tính khuẩn lạc, và nội ký
sinh trùng tạo kén trong thịt cá dưới kính hiển vi
phóng đại 160 lần.
phương thức truyền thống
Phương pháp nuôi: Bốn ao nuôi cá tra
thương phẩm ở hai tỉnh Vĩnh Long (Xã Thanh
Bình, huyệnVũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long) và tỉnh
Đồng Tháp (Xã Mꢁ Xương, huyện Cao Lãnh,
tỉnh Đồng Tháp). Diện tích trung bình 1 ha, mật
độ thả trung bình 47 con/m2. Trọng lượng cá tra
giống thả 46 g/con. Thức ăn thương mại có hàm
lượng protein 28-30%. Cho ăn 2 lần/ngày bằng
tay. Chế độ và tỷ lệ thay nước diễn ra hàng ngày
từ 50 – 100% thể tích ao. Trong suốt chu kỳ
nuôi trung bình 270 ngày.
Phương pháp lấy mẫu và phân tích
Phương pháp phân tích chất lượng nước
Mẫu cá tra nuôi thương phẩm trong hệ
thống nuôi RAS và ao truyền thống được thu
mẫu định kỳ 15 ngày cân trọng lượng tính
trung bình trọng lượng, xác định mầm bệnh
ký sinh trùng và vi khuẩn. Cá thu hoạch được
phân tích tỷ lệ thu hồi phi lê và đánh giá các chỉ
tiêu chất lượng đạt xuất khẩu. Lượng thức ăn
và số lượng cá chết ghi nhận hàng ngày trong
suốt chu kỳ nuôi.
Chất lượng nước trong hệ thống RAS và
trong ao nuôi theo phương pháp truyền thống
được phân tích hàng ngày với các chỉ tiêu như:
oxy hòa tan, pH và nhiệt độ nước theo phương
pháp đo bằng máy cầm tay đa chỉ tiêu HANNA
- Hi 9384 đo 2 lần/ngày. Các chỉ tiêu ammonia
tổng, nitrite, nitrate, kiềm tổng, H2S, độ trong,
TSS, chlorophyll-a, carbonic, COD và BOD5
được đo định kỳ 15 ngày/lần theo phương pháp
chuẩn của APHA (2005).
Phương pháp tính hệ số chuyển đổi thức
ăn (FCR), tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ chết
Phương pháp xử lý số liệu
Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) từng chu
kỳ = tổng thức ăn của chu kỳ/ tổng trọng lượng
cá tăng trưởng. Tốc độ tăng trưởng đặc hiệu
(%wb/ngày) = [ln(wbt1) – ln(wbt2)]/t. Trong
đó, wb là trọng lượng, wbt1 là trọng lượng cá
giai đoạn đầu, wbt2 là trọng lượng cá giai đoạn
sau, t là ngày nuôi. Tỷ lệ chết từng chu kỳ (%) =
[số cá thể chết trong chu kỳ/tổng số cá thể ban
đầu] x 100.
Thu thập thông tin bằng ghi nhật ký hàng
ngày. Sử dụng phần mềm Excel sꢀp xếp mô tả
biểu đồ, tính toán giá trị trung bình số liệu về
tăng trưởng cá, tổng thức ăn, tổng khối lượng
cá và giá trị trung bình các chỉ tiêu môi trường.
III. KẾT QUẢ
3.1. Chất lượng nước trong hệ thống
tuần hoàn
Phương pháp đánh giá chất lượng cá
Kết quả ở bảng 1, cho thấy chất lượng nước
trong ao nuôi cá tra bằng công nghệ tuần hoàn
nằm trong ngưỡng sinh trưởng và phát triển của
cá. Riêng chỉ tiêu ammonia tổng cộng có sự
biến động lớn có thời điểm lên đến 26,3 mg/L.
Tuy nhiên, pH nước tại thời điểm đó duy trì ở
mức trung tính là 7, đã hạn chế tính độc của
ammoniac gây độc cho cá.
Chọn 30 con cá tra ngẫu nhiên rửa sạch,
cá được phi lê và đánh giá tỷ lệ thu hồi phi lê
thô bằng tổng khối lượng cá nguyên liệu để đạt
được một kg phi lê thô. Phi lê thô là phi lê bỏ da
nhưng không loại bỏ thịt đỏ, rìa mỡ,…. như phi
lê thành phẩm. Mùi thịt cá được đánh giá bằng
phương pháp cảm quan, thịt cá phi lê gói kín
trong túi nhựa dày đưa đi hấp chín sau đó kiểm
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014
39
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
Bảng 1. Chất lượng nước trong hệ thống tuần hoàn
Thông số
pH nước
Nhiệt độ nước
Độ trong
Tổng chất rꢀn lở lững
Tổng độ kiềm
CO2
COD
BOD5
TAN
NH3
Đơn vị
-
Min-Max
6,2-8,2
TB ± SD
7,07 ± 0,43
30,1 ± 0,96
49,77 ± 22,9
58,3 ± 24,4
85,6 ± 19,6
19,13 ±17,9
25,16 ± 9,4
29,09 ± 8,7
6,44 ± 7,83
0,06 ± 0,07
1,08 ± 1,2
39,1 ± 15,6
3,2 ± 2,7
0C
28,1-33,2
18-107
9,5-99,5
43-140
0,98-76,2
10,3-45,73
6,3-33,7
0,09- 26,3
0,001-0,27
0,1 – 4,7
1,55 – 76,4
0,01 -9,6
0 – 0,18
cm
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
mg/L
NO2-N
NO3-N
PO4-P
H2S
0,02 ± 0,03
Chlorophyll-a
µg/L
1,2 – 52,7
11,35 ± 15,2
3.2. Đánh giá năng suất và tăng trưởng độ thả, năng suất thu hoạch và tỷ lệ sống của cá.
của cá nuôi trong hệ thống
Kết quả cũng cho thấy rằng năng suất nuôi của
ao nuôi cá tra bằng công nghệ RAS cao hơn ao
nuôi truyền thống 3,3-3,8 lần tính trên đơn vị
diện tích nuôi do mật độ nuôi cao hơn 4 lần so
với ao nuôi thông thường.
Tại bảng 2, kết quả năng suất nuôi và tăng
trưởng cá tra nuôi thương phẩm trong các hệ
thống nuôi RAS và ao theo công nghệ truyền
thống được so sánh có sự khác biệt lớn về mật
Bảng 2. Ước tính tăng trưởng cá tra trong hệ thống tuần hoàn ngoài trời và ao nuôi thông thường
Hệ thống
RAS
Ao Vĩnh
Long
Thông số tăng trưởng cá
Đơn vị
Ao Đồng Tháp
Diện tích ao nuôi
Số cá thả ban đầu
Số cá thu hoạch
m2
con
con
266
26.000
21.060
10.135
470.000
333.700
10.076
552.565
279.518
Trọng lượng ban đầu
Trọng lượng thu hoạch
g/con
g/con
16,1
819
46,47
801
31
830
Chu kỳ nuôi
ngày
260
257
279
Tổng sinh khối cá
Năng suất
Năng suất quy đổi
kg/ao
kg/m2/vụ
tấn/ha/vụ
17.336,4
88,2
882
267.293,7
26,73
267
232.000
23,2
232
Tỷ lệ sống
%
81,1
71,3
2,83
1,33
1,5
50,6
2,77
1,18
1,68
Tốc độ tăng trưởng
SGR (tăng trưởng đặc biệt)
FCR
g/con/ngày 3,1
%bw/ngày 1,5
-
1,6
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014
40
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
Tốc độ tăng trưởng của cá
Hình 2. Tăng trưởng của cá Tra nuôi trong hệ thống RAS và ao nuôi tại Vĩnh Long và Đồng Tháp
Trong thời gian nuôi 261 ngày, trọng lượng ao nuôi thông thường tại Vĩnh Long và ao nuôi
trung bình của cá nuôi đạt 819 g/con và được tại Đồng Tháp (Bảng 2) dù mật độ nuôi cao hơn
đánh giá tăng trưởng nhanh thể hiện qua tốc độ và cá giống thả có trọng lượng nhỏ khoảng 40-
tăng trưởng 3,1 g/con/ngày và tăng trưởng đặc 50% so với ao nuôi theo dõi của 2 công ty nuôi
hiệu SGR = 1,5; các chỉ tiêu này cao hơn so với thương mại.
Tỷ lệ sống
Hình 3. Tỷ lệ sống của cá tra nuôi trong hệ thống nuôi RAS và ao
Suốt chu kỳ nuôi số lượng cá chết được ghi tiếp tục giảm đến thời điểm thu hoạch đạt 50 –
nhận hàng ngày và tính toán tỷ lệ sống thể hiện 71%. Tỷ lệ sống của cá thể hiện ở ao nuôi thấp
kết quả ở hình 3. Kết quả cho thấy 30 ngày nuôi hơn 10 – 30,5% so với công nghệ nuôi RAS.
đầu tỷ lệ chết của cá nuôi cao chiếm 20% cho
Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR)
hệ thống nuôi RAS và ao. Sau thời gian nuôi 30
Sự biến động hệ số FCR trong suốt quá
trình nuôi được đánh giá thể hiện qua hình 4.
Kết quả cho thấy xu thế của FCR của hệ thống
ngày tỷ lệ sống của cá trong hệ thống RAS ổn
định chiếm 81,1%. Trong khi đó, hệ thống nuôi
ao theo công nghệ truyền thống có tỷ lệ sống
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014
41
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
3.3. Đánh giá chất lượng cá tra nuôi
nuôi RAS và ao tăng dần theo chu kỳ nuôi. Khi
thương phẩm
so sánh cùng tại thời điểm thu hoạch, FCR ở ao
nuôi tại Vĩnh Long cho kết quả thấp hơn ở ao
nuôi tại Đồng Tháp và RAS.
Kết quả thể hiện ở bảng 3 cho thấy so sánh
chất lượng cá thu hoạch của hệ thống RAS và
nuôi ao có sự khác nhau về tỷ lệ thịt trꢀng, tỷ lệ
thu hồi phi lê và mùi thịt. Kết quả cho thấy cá
tra nuôi bằng hệ thống RAS cho 100% tỷ lệ thịt
trꢀng đạt cấp độ 1 của chỉ tiêu xuất khẩu. Trong
khi đó, tỷ lệ nuôi trong ao đạt tỷ lệ thịt phi lê
trꢀng chiếm 84,3%. Khi phân tích thành phần vi
sinh và thành phần sinh hóa của thịt cá cho kết
quả tương đồng giữa nuôi bằng công nghệ tuần
hoàn và ao theo phương pháp truyền thống.
Hình 4. Hệ số chuyển đổi thức ăn theo chu kỳ nuôi
Bảng 3. Chất lượng thịt cá tra thu hoạch
Các chỉ tiêu chất lượng cá
Chỉ tiêu cảm quan
Màu thịt phi lê trꢀng loại I
Độ săn chꢀc thịt
Vị của cơ thịt
Tỷ lệ thu hồi phi lê thô
Mùi bùn/rong
Đơn vị
RAS
Ao
%
%
%
100
100
100
1,95
10
84,3
100
100
2,04
0
g cá/g thịt
%
%
Nhiễm kháng sinh/hóa chất cấm
Nhiễm vi sinh :
0
0
Coliform sp
E.Coli sp
Kí sinh trùng trong cơ thịt
Thành phần sinh hóa:
Tổng nitrogen
đạt/không
đạt/không
%
đạt
đạt
0
đạt
đạt
0
%
%
%
2,5
1,6
0,56
2,4
1,5
0,6
Tổng chất béo
Tổng phosphorus
hệ thống nuôi RAS theo xu thế giảm dần đến
cuối vụ nuôi. Điều này là do ảnh hưởng của quá
trình tích lũy hữu cơ từ nguồn thức ăn, từ chất
thải của cá tăng dần. Ammonia, nitrite và nitrate
là những chỉ tiêu quan trọng được quan tâm
trong hệ thống nuôi thủy sản nói chung và hệ
thống tuần hoàn nói riêng (Nguyễn Nhứt và ctv.,
2014), các yếu tố này cần được giảm thiểu và
hạn chế sự gây độc đối với cá nuôi. Tuy nhiên,
IV. THẢO LUẬN
4.1. Chất lượng nước
Chất lượng nước trong hệ thống tuần hoàn
được quan tâm quản lý chặt chẽ nhằm đáp ứng
cho cá tăng trưởng và thích ứng với hệ vi sinh
vật trong hệ thống lọc sinh học (Timmon, 2005).
Quá trình diễn biến các yếu tố môi trường như
oxy hòa tan, pH, độ trong, chlorophyll-a trong
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014
42
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
nghiên cứu cho thấy trong 120 ngày nuôi, tất cả 5 m tương đương với năng suất (5,3 kg/m3).
các chỉ số môi trường được duy trì thích hợp cho Qua thực nghiệm thấy rằng phương thức nuôi
cá phát triển. Sau 120 đến 260 ngày các thông số cá bằng hệ thống tuần hoàn không cần phải sử
COD, CO2 và TSS tích lũy trong hệ thống nuôi dụng mực nước sâu như ao truyền thống nhưng
tăng dần gây cản trở sự hoạt động của nhóm vẫn đáp ứng được năng suất nuôi tối đa. Cụ thể
vi khuẩn tự dưỡng trong hệ thống tuần hoàn. trong hệ thống nuôi RAS thực nghiệm trong nhà
Việc này đồng nghĩa với sự khử ammonia giảm cho cá tra thương phẩm (Nguyễn Nhứt và ctv.,
gây ra quá trình tích lũy ammonia, nitrite trong 2014) sử dụng mực nước nuôi thấp 0,8m cho
nước cao. Để quản lý chất lượng nước tối ưu năng suất 199 kg/m3. Quan niệm người nuôi cá
cho trường hợp hệ thống sinh học bị ức chế, sự tra với mực nước sâu để tăng năng suất tối ưu
thay nước và khống chế pH nước duy trì bằng chỉ đúng trong trường hợp với ao nuôi truyền
7 đồng thời kết hợp với giải pháp cho ăn hợp lý thống, trong khi đó cá tra thương phẩm chủ yếu
nhiều lần trong ngày được thực hiện đã mang phân tầng sống từ độ sâu 2 m nước trở lên tính
lại sự cải thiện chất lượng nước tốt cho hệ thống từ đáy ao chiếm hơn 80% được nghiên cứu bởi
nuôi tuần hoàn, cá phát triển tốt. Hệ thống nuôi Lefevre và ctv., (2011). Có nghĩa 2-3 m nước
ao theo công nghệ truyền thống với chế độ thay gần đáy ao cá không sử dụng không gian để
nước liên tục từ 50 -100% thể tích nước mang sống và sinh trưởng nhưng xây dựng ao nuôi
lại cải thiện chất lượng nước đáng kể và ít ô chi phí cao hơn và ảnh hưởng đến nguồn nước
nhiễm trong ao nuôi hơn so với nuôi công nghệ ngầm khi dinh dưỡng trong nước ao nuôi thẩm
nuôi tuần hoàn. Tuy nhiên, tần suất thay nước thấu sâu xuống các tầng nước ngầm.
cao đồng nghĩa với việc thải ra môi trường xung
quanh một lượng thải gây ô nhiễm thủy vực và
điều kiện nuôi hở thích hợp cho sự lây lan mầm
bệnh cao hơn so với hệ thống RAS. Điều này
đã chứng minh rằng ao nuôi truyền thống đã
xuất hiện 15 lần nhiễm bệnh trong suốt vụ nuôi
(Phan Thanh Lam và ctv., 2009) trong khi đó hệ
thống ao nuôi tuần hoàn tần số xuất hiện bệnh
rất thấp (1 lần trong suốt vụ nuôi).
Mặc dù mật độ nuôi trong hệ thống RAS
(140 con/m2) cao hơn khá nhiều so với hệ thống
nuôi cá tra thương phẩm trong ao (27-33 con/
m2). Nhưng tốc độ tăng trưởng đặc trưng của
cá tra trong hệ thống RAS cao hơn so với ao
nuôi từ 0,17-0,32%/con/ngày. Sự khác biệt này
chủ yếu có thể là do tần suất xuất hiện bệnh của
cá trong ao nuôi cao hơn đồng nghĩa với thời
gian chữa trị, giảm thức ăn kéo dài làm tốc độ
tăng trưởng giảm. Hơn thế nữa, việc sử dụng
hóa chất và kháng sinh trong quá trình nuôi tác
động đến sự sinh trưởng của cá tra trong ao nuôi
truyền thống.
4.2. Sản lượng và tăng trưởng cá
Kết quả năng suất cá nuôi bằng hệ thống
tuần hoàn ngoài trời trong thí nghiệm này đạt
được 88,2kg/m2 cao hơn nuôi thực tế của mô
hình sản xuất truyền thống ở hai công ty thương
mại tại Vĩnh Long và Đồng Tháp (năng suất
29,7 kg/m2) và gấp 3,3 lần theo số liệu thống kê
của Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn
(2012). Nếu tính theo năng suất cá sản xuất trên
đơn vị thể tích thì kết quả của mô hình nuôi RAS
cao hơn gấp 9 lần ao nuôi thương phẩm bằng
phương pháp truyền thống. Sự khác biệt lớn này
là do hệ thống nuôi RAS sử dụng mực nước 1,8
m với năng suất 49kg/m3, trong khi đó ao nuôi
truyền thống sử dụng mực nước thông thường
Qua số liệu ghi nhận cho thấy tỷ lệ cá chết
20% trong hệ thống RAS ở thời gian 1 tháng
đầu kể từ ngày thả giống cá có dấu hiệu nhiễm
bệnh xuất huyết, tỷ lệ chết 25 ngày đầu từ 0,2-
0,5%/ngày không đáng kể nên việc can thiệp
giải pháp chữa trị không được thực hiện vì đa số
cá bị xây xát trong quá trình vận chuyển do kéo
lưới tạo nên. Kết quả này cũng tương đồng với
kết quả tỷ lệ chết của các ao nuôi truyền thống
ở Vĩnh Long và Đồng Tháp. Ao nuôi bằng hệ
thống RAS có tỷ lệ chết kéo dài và bùng phát
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014
43
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
mạnh ở ngày 30-37 của chu kỳ nuôi khoảng khi thực hiện giải pháp cho ăn ít và bỏ đói để
5-8% bệnh có dấu hiệu lây lan mạnh trong hệ khử mùi hôi bùn và rong của thịt cá. Thí nghiệm
thống, giải pháp can thiệp chữa trị cho cá bằng được thử nghiệm kéo dài trong trình trạng thức
sử dụng kháng sinh oxyteramycine liều lượng ăn hạn chế và bỏ đói cá, cá không thể phát triển
trộn vào thức ăn 10g/kg suốt 7 ngày tỷ lệ chết nếu thiếu năng lượng cho cá hoạt động vì thế cá
giảm rõ rệt bằng 0%. Nguyên nhân này được giảm trọng lượng trong thời gian xử lý và làm
khẳng định giống như hiện tượng cá chết trong tăng FCR ở thời gian cuối chu kỳ nuôi đạt 1,6.
3 tháng nuôi đầu tiên sau khi thả giống ở các Nếu như trong quá trình thực nghiệm đã có các
ao nuôi thương phẩm theo phương pháp truyền giải pháp chủ động khử mùi hôi bùn của cá có
thống được báo cáo bởi Phan Thanh Lam và lẽ hệ số FCR của cá đạt khoảng 1,4 và rất có ý
ctv., (2009) cho tỷ lệ chết đến 30%. Phải chăng nghĩa trong sản xuất, sẽ tiết kiệm 12,5% thức
sự nhiễm bệnh của đàn cá giống tại cơ sở sản ăn đối với hệ thống nuôi bằng công nghệ tuần
xuất giống cùng với tác nhân vận chuyển đường hoàn. Nếu tính toán với FCR = 1,6 thì mức hệ số
dài và phương pháp đánh bꢀt cá giống thật sự chuyển đổi thức ăn này cũng chấp nhận được so
không bảo đảm dẫn đến xuất hiện bệnh. Trong với công nghệ nuôi truyền thống của Vĩnh Long
khi đó cá thí nghiệm trong mô hình này đã chủ và Đồng Tháp. Nếu so sánh với kết quả nghiên
động loại mầm bệnh ký sinh trùng ngoại và nội, cứu của Phan Thanh Lâm và ctv., (2009) thì kết
không quan tâm đến mầm bệnh do vi khuẩn là quả này tương đồng.
chưa hoàn toàn hợp lý dẫn đến bệnh vẫn còn
4.3. Chất lượng thịt cá
xảy ra. Trong hệ thống RAS, sau chu kỳ nuôi 40
Màu sꢀc thịt cá phi lê là một trong những chỉ
tiêu quan trọng nhất để xuất khẩu. Trong nghiên
cứu này cho thấy tỷ lệ đàn cá đạt thịt trꢀng và tỷ
lệ thịt trꢀng cao hơn so với ao nuôi bằng công
nghệ thông thường ở Vĩnh Long và Đồng Tháp.
Kết quả nghiên cứu này cho tỷ lệ thịt trꢀng cao
hơn kết quả nghiên cứu (70% quần đàn đạt thịt
trꢀng) của Bạch Thị Quỳnh Mai và ctv., (2003)
sử dụng kꢁ thuật thay nước và dùng oxy đáy cải
thiện. Nguyên nhân gây màu thịt cá chưa được
nghiên cứu rõ. Việc sử dụng nguồn thức ăn có
chứa caroten và hàm lượng oxy ảnh hưởng đến
màu sꢀc cơ thịt cá (Bạch Thị Quỳnh Mai và ctv.,
2003). Một số ý kiến khác của người nuôi cho
rằng tảo và mùn bã hữu cơ trong hệ thống nuôi
cũng ảnh hưởng đến màu sꢀc thịt cá tra chưa
được kiểm chứng. Tuy nhiên, kết quả nghiên
cứu này cho thấy trong ao RAS có hàm lượng
ngày hầu như cá chết không đáng kể và kéo dài
đến kết thúc vụ nuôi. Tuy nhiên, ở các ao nuôi
truyền thống tại Vĩnh Long và Đồng Tháp thì tỷ
lệ chết vẫn còn tiếp tục tăng mạnh vì trong thời
gian nuôi có xuất hiện bệnh thêm 2-3 đợt. Điều
này cho thấy việc xử lý sạch mầm bệnh cho cá
giống trước khi đưa vào nuôi trong hệ thống
tuần hoàn là một khâu rất quan trọng giúp tăng
tỷ lệ sống của đàn cá nuôi. Hơn nữa, hệ thống
tuần hoàn có ưu điểm giảm tỷ lệ nhiễm bệnh
cho đàn cá nuôi so với ao nuôi truyền thống
trong quá trình nuôi.
Sự biến động của FCR suốt chu kỳ nuôi
của hệ thống RAS và ao nuôi thông thường của
Vĩnh Long và Đồng Tháp. Nhìn chung, FCR
của cá nuôi tăng dần theo chu kỳ nuôi. Hệ thống
RAS, trong chu kỳ nuôi đến kích cỡ cá đạt trọng
lượng 830g/con FCR được xác định là 1,4 trước
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014
44
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
TSS cao nhưng không ảnh hưởng đến màu sꢀc trong thịt càng ít vì thế giảm được tỷ lệ hao hụt
của thịt cá tra thương phẩm.
sau khi chế biến. Thịt cá tra nuôi trong hệ thống
tuần hoàn có độ dai cao là do cá nuôi mật độ cao
trong ao lại có dòng nước chảy nên có thể cá
hoạt động nhiều, thịt cá dai đạt chỉ tiêu ưa thích
thu mua của các nhà máy chế biến.
Về phần mùi vị cá, được đánh giá cảm
quan và còn mang tính chất chủ quan của từng
kꢁ thuật. Theo các chuyên gia đánh giá chất
lượng thì mùi thịt cá trong thí nghiệm nằm ở
cấp độ 3. Thông thường, cá nuôi trong hệ thống
Cá tra nuôi trong hệ thống tuần hoàn cá
tuần hoàn thường có mùi “hôi bùn” làm giảm không bị nhiễm bất cứ bệnh nào khác kể cả
chất lượng cá được báo cáo trên đối tượng bệnh nhiễm khuẩn và bệnh ký sinh trùng nên
cá rô phi và cá trê .Nguyên nhân tạo mùi hôi giai đoạn nuôi 30-260 ngày không sử dụng đến
bùn trong thịt cá tra trong hệ thống tuần hoàn thuốc hoặc hóa chất. Bằng cảm quan đánh giá
chưa được xác định. Nhưng đây là một trong hình dạng thịt phi lê của cá không bị biến dạng
những khó khăn của hệ thống nuôi tuần hoàn ít xù xì gây mất mꢁ quan, thớ thịt đều và nhẵn
thay nước, lượng bùn, tảo bám, vi khuẩn hình khi cꢀt. Đồng thời thông qua xét nghiệm thịt cá
sợi, hữu cơ phân hủy và vi sinh vật tích lũy không thấy có tồn dư kháng sinh hay hóa chất
trong thời gian dài có lẽ ảnh hưởng lên chất trong thịt hay xương cá và thịt cá cũng không bị
lượng thịt cá về mùi (Tucker, 1999). Theo kinh nhiễm khuẩn Ecoli cũng như mật độ các loại vi
nghiệm một số trang trại nuôi cá rô phi bằng khuẩn đều đạt tiêu chuẩn xuất khẩu (theo TCVN
công nghệ tuần hoàn cũng có hiện tượng tương 8338:2010).
đồng nhưng được xử lý mùi bằng giải pháp
thay nước ở cuối chu kỳ nuôi đã cải thiện đáng
kể mùi của thịt cá (Marc Verdegem thông tin
cá nhân, 2013). Đối với thí nghiệm này đã áp
dụng giải pháp kꢁ thuật tương tự như các kinh
nghiệm của các trang trại ở Châu Âu nhưng kết
quả không được cải thiện hoàn toàn. Có thể là
trong quá trình 8 tháng nuôi không thay nước
đã tích lũy về tác nhân gây mùi khá lớn mà thời
gian xử lý lại ngꢀn. Trong thực tế, ao nuôi cá
tra truyền thống thay nước khá lớn hàng ngày
diễn ra từ đầu đến kết thúc vụ nuôi và cải thiện
chế độ ăn trong thời gian dài đã mang lại một
số kết quả trong việc khử mùi mặc dù chưa có
báo cáo khoa học.
Tỷ lệ thu hồi thịt cá cũng là 1 yếu tố quan
trọng quyết định giá trị đàn cá. Việc nuôi cá bảo
đảm tỷ lệ thu hồi phi lê cao là một trong những
yếu tố khá quan trọng trong kꢁ thuật nuôi.
Trung bình tỷ lệ thu hồi phi lê thô của cá tra
thương phẩm nuôi theo truyền thống được đánh
giá từ 1,95 -2,1. Trong nghiên cứu này cho tỷ lệ
thu hồi phi lê (1,95) tương đối cao hơn 4 ao nuôi
truyền thống đối chứng (2,04). Với tỷ lệ thu hồi
phi lê trong nghiên cứu này được đánh giá là
tương đồng với ao nuôi truyền thống. Tỷ lệ phi
lê của cá được xác định ảnh hưởng bởi các yếu
tố môi trường (dinh dưỡng, kꢁ thuật chăm sóc,
môi trường ao,…) hơn là tính di truyền của đàn
cá vì hệ số di truyền tính trạng này thấp (Nguyen
Đánh giá mức độ săn chꢀc cơ thịt cá là một Van Sang và ctv., 2009).
trong chỉ tiêu này thể hiện mức độ săn chꢀc
cơ thịt của cá, thịt càng săn chꢀc thì tỷ lệ nước
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014
45
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
5.1. Kết luận
Nguyễn Nhứt, 2014. Nghiên cứu công nghệ nuôi cá
tra (Pangasius hypophthalmus) thâm canh bằng
hệ thống tuần hoàn đảm bảo an toàn sinh học và
không gây ô nhiễm môi trường” Báo cáo tổng kết
khoa học .Pp 15.
Các chỉ tiêu môi trường nước cho thấy
hệ thống nuôi RAS kết hợp với hệ thống khử
nitrate tạo cho môi trường nước ổn định trong
suốt vụ nuôi và thích hợp cho cá tra phát triển.
Cá tra nuôi trong hệ thống tuần hoàn giảm
thiểu được rủi ro về bệnh, cá sinh trưởng phát
triển tốt. Mật độ nuôi, năng suất, tỷ lệ sống, tốc
độ tăng trưởng và tỷ lệ quần đàn cá tra thương
phẩm có thịt trꢀng cao hơn các ao nuôi theo
phương pháp nuôi truyền thống. Hệ số chuyển
đổi thức ăn và chất lượng cá tra nuôi trong hệ
thống tuần hoàn tương đồng với ao nuôi bằng
công nghệ truyền thống. Tuy nhiên, tỷ lệ mùi
hôi bùn của thịt cá thu hoạch tồn tại trong hệ
thống RAS.
Bạch Thị Quỳnh Mai, 2003. Xây dựng quy trình nuôi
cá tra thịt trꢀng phục vụ xuất khẩu. Tuyển tập nghề
cá sông Cửu Long. Pp 203-222.
Tài liệu tiếng Anh
Bosma, R.H., Hanh, C.T.T., Potting, J., 2009.
Environmental Impact Assessment of the
Pangasius Sector in the Mekong Delta.
Wageningen University. 50 pp
Phan Thanh Lam, T. M. B., Thuy T.T. Nguyen, Geoff J.
Gooley , BrettA. Ingramd, Hao V. Nguyen, Phuong
T. Nguyen, Sena S. De Silva, 2009, Current status of
farming practices of striped catfish, Pangasianodon
hypophthalmus in the Mekong Delta, Vietnam,
Aquaculture 296, 227–236.
5.2. Đề xuất
Để cải thiện tỷ lệ sống và hệ số thức ăn trong
hệ thống tuần hoàn nuôi cá tra thương phẩm cần
phải được nghiên cứu phương pháp xử lý nguồn
giống sạch bệnh và loại thức ăn chuyên biệt cho
hệ thống nuôi cá tra tuần hoàn với mật độ cao.
Để nâng cao chất lượng cá thương phẩm cần
nghiên cứu thêm phương pháp khử mùi hôi bùn
trong thịt cá thương phẩm trong hệ thống tuần
Nguyen Van Sang, Magny Thomassen, Gunnar
Klemetsdal, Hans Magnus Gjøen, 2009. Predicti-
on of fillet weight, fillet yield, and fillet fat for live
river catfish (Pangasianodon hypophthalmus) 288
: 3–4, 166–171.
Tucker, C.S., and Martine, V.D.P., 1999, Managing
off-flavor problems in pond-raised catfish. SRAC
publication . No 192. 8pp.
hoàn. Nhìn chung việc nuôi cá tra thương phẩm Timmon, M.B., Ebling J.M., Wheaton, F.W.,
Summerfelt, S.T., and Vinci, B.J., 2005.
Recirculating Aquaculture Systems 2nd Edition.
bằng hệ thống tuần hoàn có ý nghĩa nâng cao
năng suất và chất lượng sản phẩm nên ứng dụng
NorthernRegionalAquacultureCenterPublication
và phát triển mô hình ở quy mô sản xuất đại trà
No. 01 I002. Cayuga Aqua Ventures Ithaca, New
trong tương lai gần.
York. 1176pp.
LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn Bộ Nông Nghiệp
và Phát triển Nông Thôn đã tài trợ kinh phí cho
nghiên cứu này. Xin cảm ơn các chuyên gia
đánh giá chất lượng cá tra thương phẩm thuộc
công ty Cổ Phần Vĩnh Hoàn.
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014
46
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
AN EVALUATING GROWTH AND QUALITY OF STRIPED CATFISH
(Pangasianodon hypophthalmus) IN AN OUTDOOR PILOT
RECIRCULATING AQUACULTURE SYSTEM
Nguyen Van Huynh1* , Nguyen Nhut1, Nguyen Hong Quan1,
Le Ngoc Hanh1, Nguyen Van Hao2
ABSTRACT
Recently, traditional technology for striped catfish culture in pond has been developed due to a
water body pollution. Striped catfish industry need an innovation technology to increase production
and reduces an environmental pollution. Therefore, an outdoor recirculating aquaculture system
(RAS) has studied with high stocking density that can be effected on growth rate and quality of fish.
The aim of this study is an evaluating growth and quality of fish in an outdoor pilot RAS to compare
with traditional ponds. The outdoor RAS comprised a fish pond 196m2, a sedimentation pond 70m2
and a biofilter 25m3. Its total area was 226m2. The result showed fish production 88.2kg/m2, sur-
vival rate 81.1%, feed conversion rate 1.6, all whiten- meat of fish population, crude fillet rate 1.95
and without antibiotic/chemical contamination in fish plesh. Fish in the outdoor RAS indicated off-
flavor to reduce a value product for export. However, this innovation technology will be researched
further and upscale in Vietnam in near future.
Keywords: Striped catfish, recirculating aquaculture system, growth, FCR, fillet.
Người phản biện: TS. Nguyễn Văn Sáng
Ngày nhận bài: 10/8/2014
Ngày thông qua phản biện: 28/8/2014
Ngày duyệt đăng: 05/9/2014
1 Department of Experimental Biology, Research Institute for Aquaculture No 2.
*Email: huynhnguy[email protected]
2 Research Institute for Aquaculture No 2.
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014
47
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá tăng trưởng và chất lượng cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi thương phẩm trong hệ thống tuần hoàn ngoài trời quy mô pilot", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
danh_gia_tang_truong_va_chat_luong_ca_tra_pangasianodon_hypo.pdf

