Giáo trình mô đun Nuôi cá nước lạnh - Nghề: Nuôi trồng thủy sản

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ, KỸ THUẬT VÀ THỦY SẢN  
GIÁO TRÌNH  
MÔ ĐUN: NUÔI CÁ NƯỚC LẠNH  
NGHỀ: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN  
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG  
(Ban hành theo Quyết định số:  
/QĐ-CĐKTKTTS ngày tháng năm 2020  
của Hiệu trưởng trường Cao đẳng Kinh tế, Kỹ thuật và Thủy sản)  
Bắc Ninh, tháng 9 năm 2020  
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN:  
Giáo trình “Nuôi cá nước lạnh” là tài liệuphục vụ công tác giảng dạy,  
học tập, nghiên cứu, tham khảo tại Trường Cao đẳng Kinh tế, Kỹ thuật và Thủy  
sản. Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích  
kinhdoanh đều bị nghiêm cấm.  
1
LỜI GIỚI THIỆU  
Nuôi trồng thủy sản là một nghề truyền thống và có thế mạnh phát triển ở  
Việt Nam. Tuy nhiên, việc chưa có những hiểu biết rõ ràng về môi trường, dịch  
bệnh và đặc biệt là kỹ thuật nuôi đã gây thiệt hại không nhỏ đối với nghề. Vì  
vậy, vấn đề kỹ thuật nuôi, quản lý môi trường, quản lý dịch bệnh là cần thiết và  
cấp bách.  
Xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình dạy nghề “Nuôi trồng thủy  
sản” được dựa trên cơ sở phân tích nghề. Phần kỹ thuật nghề được kết cấu theo  
các mô đun. Để tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở dạy nghề trong quá trình  
thực hiện, việc xây dựng chương trình, biên soạn bài giảng đào tạo nghề “Nuôi  
trồng thủy sản” là cấp thiết hiện nay nhằm giúp cho người học nghề và bà con  
lao động nông thôn giảm bớt rủi ro, hướng tới hoạt động nuôi trồng thủy sản  
phát triển bền vững.  
Chương trình, bài giảng dạy nghề “Nuôi trồng thủy sản” trình độ cao đẳng  
nghề do trường Cao đẳng Kinh tế, Kỹ thuật và Thủy sản chủ trì xây dựng và  
biên soạn theo hướng dẫn tại Thông tư số 03/2017/TT-BLĐTBXH ngày  
01/3/2017 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.  
Chương trình dạy nghề “Nuôi trồng thủy sản” được tích hợp những kiến  
thức, kỹ năng cần có của nghề. Nghề “Nuôi trồng thủy sản” gồm 28 mô đun ở  
các lĩnh vực:  
1) Môn học đại cương: 6 môn học (MH1 – MH6)  
2) Môn học cơ sở: 6 môn học (MH7 – MH12)  
3) Mô đun chuyên môn nghề bắt buộc: 12 mô đun (MĐ13 – MĐ24)  
4) Mô đun tự chọn: 3 mô đun (MĐ25 – MĐ27)  
5) Mô đun thực tập: 2 mô đun (MĐ28 – MĐ29)  
Giáo trình mô đun “Nuôi cá nước lạnh” là một mô đun chuyên môn nghề,  
được biên soạn theo chương trình đã được phê duyệt. Mô đun có thể dạy độc lập  
hoặc cùng một số mô đun khác cho các khóa đào tạo, tập huấn theo nhu cầu của  
người học. Mô đun được dạy sau khi đã học các môn học đại cương, và các môn  
học cơ sở.  
Mô đun “Nuôi cá nước lạnh” dạy cho người học những hiểu biết về đặc  
điểm sinh học, kỹ thuật sản ương giống, nuôi thương phẩm và phòng trị bệnh  
cho một số loài cá nước lạnh đang được nuôi phổ biến tại Việt Nam. Nội dung  
giảng dạy được phân bổ trong thời gian 45 giờ gồm 3 bài:  
Bài 1. Một số đặc điểm sinh học của các loài cá nước lạnh nuôi ở Việt  
Nam  
Bài 2. Kỹ thuật nuôi cá hồi vân (Onchorhynchus mykiss)  
Bài 3. Kỹ thuật nuôi cá tầm (Acipenser sp)  
2
Trong quá trình biên soạn, chúng tôi có sử dụng, tham khảo nhiều tư liệu,  
hình ảnh của các tác giả trong và ngoài nước, cập nhật những tiến bộ khoa học  
kỹ thuật, sự góp ý của các chuyên gia, đồng nghiệp, đặc biệt là những vấn đề  
thực tế về nuôi cá và đặc sản nước ngọt tại các địa phương Lào Cai, Sơn La,  
Hòa Bình, Yên Bái, Vĩnh Phúc… Chúng tôi xin chân thành cảm ơn.  
Nhóm biên soạn xin được cảm ơn lãnh đạo và giảng viên trường Cao  
đẳng Kinh tế, Kỹ thuật và Thủy sản, các chuyên gia và các nhà quản lý tại địa  
phương đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu và tạo điều kiện thuận lợi để chúng  
tôi hoàn thành cuốn giáo trình này.  
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng không thể tránh khỏi thiếu sót, rất  
mong nhận được sự đóng góp ý kiến của đọc giả để giáo trình được hoàn thiện  
hơn.  
Bắc Ninh, ngày …… tháng …… năm 2020  
Tham gia biên soạn:  
1. Chủ biên: Th.S Ngô Chí Phương  
2. Th.S Nguyễn Thanh Hoa  
3. Th.S Nguyễn Thị Thủy  
3
MỤC LỤC  
NỘI DUNG  
TRANG  
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN  
LỜI GIỚI THIỆU  
1
2
5
6
BÀI GIẢNG MÔ ĐUN  
BÀI 1: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁC LOÀI CÁC  
NƯỚC LẠNH NUÔI Ở VIỆT NAM  
6
1. Đặc điểm sinh học cá hồi vân  
2. Đặc điểm sinh học cá tầm  
BÀI 2: KỸ THUẬT NUÔI CÁ HỒI VÂN  
1. Chuẩn bị ao, bể nuôi cá  
2. Chọn và thả cá giống  
17  
23  
23  
32  
39  
53  
3. Chăm sóc và quản lý cá  
4. Thu hoạch và vận chuyển  
BÀI 3: KỸ THUẬT NUÔI CÁ TẦM  
1. Chuẩn bị bể, lồng nuôi cá  
2. Chọn và thả cá giống  
55  
55  
61  
66  
82  
85  
3. Chăm sóc và quản lý cá  
4. Thu hoạch và vận chuyển  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
4
BÀI GIẢNG MÔ ĐUN  
Tên mô đun: Nuôi cá nước lạnh  
Mã mô đun: MĐ23  
Vị trí, tính chất của mô đun:  
- Vị trí: Nuôi cá nước lạnh là một mô đun chuyên môn nghề thuộc chương  
trình khung đào tạo trình độ Cao đẳng nghề Nuôi trồng thủy sản, được giảng dạy  
cho người học sau khi đã học các môn học / mô đun kỹ thuật cơ sở.  
- Tính chất: Nuôi cá nước lạnh là mô đun chuyên nghiên cứu và ứng dụng  
thực tiễn sản xuất nuôi thương phẩm các loài các nước lạnh nhập khẩu có giá trị  
kinh tế cao.  
Mục tiêu của mô đun:  
- Kiến thức: Nêu được một số đặc điểm sinh học của các loài cá nước  
lạnh; nội dung kỹ thuật chuẩn bị lồng nuôi, chuẩn bị bể, ao nuôi cá nước lạnh,  
chọn và thả cá giống, cho cá ăn, phương pháp quản lý một số yếu tố môi trường  
và thu hoạch cá.  
- Kỹ năng: Thực hiện được công việc chuẩn bị lồng, bể, ao nuôi cá nước  
lạnh, chọn và thả cá giống, chuẩn bị thức ăn, cho cá ăn, xác định một số yếu tố  
môi trường và thu hoạch cá nuôi.  
- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Nghiêm túc trong học tập và vận dụng  
được kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất.  
Nội dung của mô đun:  
Số Tên chương, mục  
Thời gian (giờ)  
TT  
Tổng  
số  
Lý  
Thực hàn, Kiểm  
thuyết thí nghiệm, tra  
thảo luận,  
bài tập  
1 Bài 1. Một số đặc điểm sinh học của  
các loài cá nước lạnh nuôi ở Việt  
Nam  
3
3
2 Bài 2. Kỹ thuật nuôi cá hồi vân 20  
(Onchorhynchus mykiss)  
3 Bài 3. Kỹ thuật nuôi cá 22  
tầm(Acipenser sp)  
6
6
14  
15  
29  
1
1
15  
Cộng  
45  
5
BÀI 1: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁC LOÀI CÁC NƯỚC  
LẠNH NUÔI Ở VIỆT NAM  
Mã bài: MĐ23 - 01  
Giới thiệu:  
Nuôi cá nước lạnh giới thiệu đến người học một số đặc điểm sinh học của  
các đối tượng cá nuôi nước lạnh, yêu cầu kỹ thuật môi trường nuôi, thực hiện  
công việc cải tạo ao, thả cá giống, chăm sóc quản lý và thu hoạch cá đúng kỹ  
thuật. Bài học có thời gian học lý thuyết 3 giờ. Bài học này mang tính lí thuyết  
thuần túy để giới thiệu cho sinh viên nhận biết đặc điểm sinh học của các loài  
cá nuôi nước lạnh.  
Mục tiêu:  
- Nêu được đặc điểm sinh học một số loài cá nuôi nước lạnh;  
- Nhận dạng được các loài cá nuôi nước lạnh ở Việt Nam hiện nay;  
- Bảo vệ phẩm giống các loài cá nuôi nước lạnh nuôi phổ biến ở Việt  
Nam  
Nội dung chính:  
1. Đặc điểm sinh học cá hồi vân (Onchorhynchus mykiss):  
1.1. Đặc điểm phân loại  
Bộ: Salmoniformes  
Họ: Salmonidae  
Giống: Oncorhynchus  
Loài: O. mykiss  
Cá Hồi vân là một trong 70 loài thuộc họ cá Hồi Salmonidae, đầu tiên cá  
Hồi vân được Walbalm phân loại với tên gọi là Salmo mykiss, sau đó được  
Richardson phân loại lại với tên khoa học là Salmo gairdneri, nhưng từ năm  
1989 cá Hồi vân được phân loại lại với tên khoa học là Oncorhynchus mykiss, có  
tên tiếng Anh là Rainbow trout.  
1.2. Đặc điểm hình thái và phân bố  
Cá Hồi vân phân bố tự nhiên ở vùng biển Thái Bình Dương thuộc khu  
vực Bắc Mỹ, từ Mêxicô đến Alaska, trước đây chúng phân bố rộng rãi trong các  
hồ, suối và sông nước ngọt. Hiện nay, cá Hồi vân được coi như loài các thương  
mại dùng để câu các giải trí. Cho, C. Young và Colin Cowey, (1991) cho rằng  
thì cá Hồi vân phân bố tự nhiên ở các thủy vực nước lạnh thuộc khu vực từ châu  
Phi cho tới bắc dãy Atlas, tây bắc Mêxicô và Đài Loan.  
Cá Hồi vân có hình dáng thuôn, thon dài với 60- 66 đốt sống, 3- 4 gai  
sống lưng, 10-12 tia vây lưng, 8-12 tia vây hậu môn và 19 tia vây đuôi. Trong  
các vây có chứa lớp mô mỡ, mép vây thường có màu đen.  
6
Màu sắc và hình dáng bên ngoài của cá tùy thuộc vào môi trường sống,  
tuổi, giới tính và mức độ thành thục. Thông thường lưng cá có màu xanh như  
màu quả ô liu, với các dải nhiều màu sắc như đỏ, tím, xanh dương và xanh lá  
cây chạy dọc thân. Ở cá trưởng thành trên thân có một dải màu hồng chạy dọc  
theo đường bên, dải này càng đậm ở thời kỳ cá sinh sản và bụng có màu trắng  
bạc. Trên lưng, lườn, đầu và vây có các chấm màu đen hình cánh sao.  
Hình 23.01.01: Cá hồi vân Oncorhynchus mykiss (Ngô Chí Phương, 11/2007)  
1.3. Đặc điểm dinh dưỡng  
Cá hồi vân là loài cá ăn động vật và có thể gây ảnh hưởng đến các loài  
thủy sản khác trong thủy vực. Giai đoạn cá con chúng ăn sinh vật phù, khi  
trưởng thành chuyển sang ăn các loài côn trùng, giáp xác và cả cá con. Năm  
1924, Embody và Gordon đã tiến hành nghiên cứu đầu tiên về thức ăn tự nhiên  
của cá hồi vân, kết quả cho thấy trong thức ăn tự nhiên của cá hồi vân có hàm  
lượng protein, lipid và các khoáng chất lần lượt là 45%, 16-17% và 12%.  
Sau khi nở, cá bột sử dụng noãn hoàng để làm thức ăn. Khi túi noãn  
hoàng gần hết chúng bắt đầu tìm kiếm thức ăn trong tầng nước mặt. Vì cá Hồi  
vân bột có kích cỡ khá lớn cho nên có thể sử dụng thức ăn công nghiệp để ương  
cá giai đoạn đầu.  
1.3.1. Nhu cầu dinh dưỡng  
1.3.1.1. Nhu cầu năng lượng:  
Với động vật thủy sản, 1/3 năng lượng mất đi do quá trình bài tiết (trong  
phân, những phần không tiêu hóa được, nước tiểu và bài tiết qua mang), 1/3  
năng lượng dùng cho các hoạt động của cơ thể và 1/3 còn lại dành cho sự sinh  
trưởng. Các giá trị này thay đổi tùy thuộc mức độ cho ăn và khả năng tiêu hóa  
thức ăn của cá (Smith, 1989). Như vậy, năng lượng trao đổi chất cơ sở càng thấp  
7
thì năng lượng tích lũy cho sinh trưởng càng cao. Đối với năng lượng tỏa nhiệt  
gồm: trao đổi chất cơ sở (duy trì các hoạt động của động vật thủy sản), duy trì  
cho sự vận động, phản ứng tổng hợp hay phân giải, lột xác… đo đó chi phí năng  
lượng cho quá trình này khác nhau tùy theo loài. Trong một phạm vi nào đó, để  
hạn chế mất năng lượng nên đảm bảo điều kiện môi trường thích hợp và hạn chế  
stress hoặc những hoạt động quá mạnh đối với cá.  
Barrow và ctv, (2001) cho biết cá thường sử dụng 70% năng lượng để duy  
trì hoạt động và 30% năng lượng cho sinh trưởng. Đối với cá Hồi vân, nhu cầu  
năng lượng duy trì hoạt động chiếm khoảng 17- 24% so với tổng nhu cầu năng  
lượng hàng ngày của nó và cá con đòi hỏi năng lượng trong khẩu phần ăn cao  
hơn so với cá lớn. Theo Cho. C. Y, (1982) cá Hồi vân giai đoạn trưởng thành ở  
điều kiện 15oC cần 5- 15% năng lượng lấy vào (IE) cho quá trình bài tiết, tương  
ứng ở giai đoạn cá con là 20- 30% (IE).  
Các thí nghiệm với các mức lipít và protein tiêu hoá khác nhau. Kết quả  
là khi tăng hàm lượng lipít, năng lượng tiêu hoá và protein tiêu hoá thì tốc độ  
tăng trưởng của cá cũng tăng. Tác giả cũng cho rằng có thể tiết kiệm protein  
bằng cách giảm hàm lượng protein tiêu hoá và sử dụng hàm lượng lipít cao  
trong thức ăn. Khoảng 35- 40% năng lượng tiêu hoá của cá Hồi vân có nguồn  
gốc từ lipít và 40- 45% từ protein.  
Theo Cho. C. Y, (1992) thì nhu cầu năng lượng cho cá Hồi vân có trọng  
lượng 96- 145g là 8,85 kcal/ cá thể/ ngày.  
1.3.1.2. Nhu cầu protein  
Theo NRC nhu cầu protein đối với động vật đã đưa ra: “Nhu cầu protein  
là lượng protein tối thiểu trong thức ăn nhằm làm thoả mãn nhu cầu các axít  
amin để đạt tốc độ tăng trưởng tối đa. “Nhu cầu protein của một đối tượng phụ  
thuộc vào một số yếu tố như: năng lượng của thức ăn, thành phần axít amin và  
khả năng tiêu hoá của protein thức ăn”  
Nhu cầu protein của động vật nói chung và cá nói riêng thay đổi phụ  
thuộc vào kích cỡ tuổi, giới tính, tình trạng sinh lí của động vật. Thông thường  
cá giai đoạn nhỏ có nhu cầu protein cao hơn so với cá lớn. Đối với cá Hồi vân,  
giai đoạn cá bột, đòi hỏi thức ăn giàu đạm 45- 50. Khi đạt cỡ cá giống nhu cầu  
protein và giai đoạn nuôi thương phẩm cá cần thức ăn chứa hàm lượng protein  
từ 42- 48với cá giai đoạn nuôi thương phẩm nhu cầu protein dao động từ 38-  
45và với thức ăn năng lượng cao hàm lượng protein có thể từ 45- 50 .  
Theo phân tích về dinh dưỡng của Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I,  
hàm lượng protein thô trong thức ăn nuôi cá Hồi vân nhập khẩu từ Phần Lan giai  
đoạn 100- 1500g là 38,8%, các giai đoạn trước đó trong khoảng 40,6- 52,2%.  
Theo Steffens Werner, (1989) cá Hồi vân sinh trưởng tốt nhất khi thức ăn  
có chứa hàm lượng protein là 40- 50. Tốc độ tăng trưởng của cá Hồi vân tỷ lệ  
thuận với hàm lượng protein trong thức ăn và sau 6- 8 tuần nuôi nhu cầu protein  
trong khẩu phần thức ăn giảm từ 50xuống 40. Đối với thức ăn giàu  
8
cacbonhydrat thì cần có hàm lượng protein thô 40, trong khi đó với thức ăn  
mà chất béo là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu thì hàm lượng protein chỉ  
cần 30- 35sẽ cho sinh trưởng của cá ở mức tối đa. Trong thức ăn có chứa hàm  
lượng protein từ 30- 45, 5protein có thể được thay thế bằng 5% chất béo mà  
không làm tăng hệ số thức ăn.  
Việc thay đổi các loại nguyên liệu cung cấp protein trong thức ăn cho cá  
Hồi vân cũng ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng thức ăn và tăng trưởng của cá  
Hồi vân điều này được khẳng định bởi cá tác giả khác nhau: (Satia, 1974) cho  
răng nếu sử dụng bột cá làm thức ăn cho cá Hồi vân thì cần có hàm lượng  
protein là 40%, (Zeitoun et al., 1973) cũng cho rằng nếu sử dụng protein từ  
casein thì nhu cầu protein là 40%, tuy nhiên theo các nghiên cứu của (Halver et  
al., 1964) thì nếu sử dụng casein để cung cấp protein thì cần thức ăn có khẩu  
phẩn protein là 45%.  
Nhu cầu protein đối với cá Hồi vân cao nhất ở giai đoạn cá bột sau đó  
giảm dần ở các giai đoạn cá giống và cá trưởng thành. Đối với cá cỡ 100g thì  
nhu cầu protein duy trì hàng ngày ở nhiệt độ 10oC, 15oC và 20oC tương ứng với  
25,1; 69,3 và 97,7 mg/ngày. Trong các thí nghiệm của (Austreng, 1978) cho  
thấy đối với cá cỡ 100 – 300g, tốc độ sinh trưởng tối đa của chúng đạt được khi  
protein khẩu phần là 44. Đối với cá cái 2 năm tuổi, trong 3 tháng phát dục  
trước khi sinh sản cần được cho ăn với thức ăn có hàm lượng protein là 36 và  
chất béo là 18 thì cá thành thục nhanh và tỷ lệ thụ tinh cũng như tỷ lệ nở sẽ  
đạt ở mức cao nhất (Watanabe và ctv, (1984)).  
Ngoài ra việc cân đối tỷ lệ giữa hàm lượng protein và năng lượng trong  
khẩu phần ăn cũng là yếu tố có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cá Hồi vân (tỷ lệ  
P/E) theo (Lee và Putnam, 1973) thì tỷ lệ P/E của cá Hồi vân là 19- 23, theo  
(Cho và Woodward, 1989) thì tỷ lệ DP/DE của cá Hồi vân là 25,1. điều này  
đúng theo lý thuyết là đối với các loài động vật biến nhiệt thường tỷ lệ P/E cao  
hơn so với các loài động vật đẳng nhiệt.  
1.3.1.3. Nhu cầu lipít và axít béo  
Lipít là thành phần quan trọng trong thành phần thức ăn. Lipít cung cấp  
năng lượng cao cho cá và là dung môi để hoà tan một số vitamin. Nhiều nghiên  
cứu đã khẳng định lipít có ảnh hưởng tốt đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng  
thức ăn của nhiều loài cá. Trong cơ thể cá lipít thường tồn tại ở hai dạng: lipít  
cấu trúc màng tế bào và lipít dự trữ.  
* Nhu cầu lipít:  
Đối với các loài số trong khu vực sinh thái nước lạnh có nhu cầu lipít  
trong thức ăn cao hơn so với cá sống trong khu vực nước ấm vì ngoài năng  
lượng năng lượng sử dụng cho sinh trưởng cá cần một nguồn năng lượng lớn để  
duy trì trong điều kiện nhiệt độ thấp. Mặc khác, khả năng sử dụng năng lượng  
dưới dạng carbonhydrate của chúng kém hơn so với những loài cá nước ấm.  
Steffens Werner, (1989) cho biết, đối với cá Hồi vân, thức ăn với 24% lipít (dầu  
cá Trích) và 36% protein cho hiệu quả sinh trưởng tốt và hệ số chuyển hóa thức  
9
ăn tốt nhất nếu nâng hàm lượng protein lên mức 36% và hàm lượng lipít ở mức  
25- 45%. Tại NaUy, thức ăn công nghiệp cho nhóm cá Hồi thường có khẩu  
phần lipít cao dao động từ 33- 38%.  
Rehulka Jiri và Bohumil Mimarik, (2003) cho răng, trong thức ăn cho cá  
Hồi vân, việc tăng hàm lượng lipít sẽ làm tăng khẳ năng sử dụng protein trong  
thức ăn. Hàm lượng lipít tăng từ 8% lên 16% trong thức ăn kết quả là giảm tỷ lệ  
chết và cá sinh trưởng tốt hơn. Khi tăng hàm lượng lipít trong thức ăn từ 9 -  
11% (tương ứng với 48% protein) lên 17-18% lipít và protein là 44- 45% dùng  
cho cá có khối lượng từ 5g trở lên, kết quả cho thấy đã cải thiện được sức sinh  
trưởng và khả năng sử dụng thức ăn của cá. Đối với cỡ cá 250-500g, nếu tăng  
hàm lượng lipít trong thức ăn thì tiết kiệm được protein.  
Beamish và Medland, (1986) đã tiến hành các công thức thí nghiệm trên  
cá Hồi vân ở 2 mức litpít là 12%, 24% (dầu cá Trích) với 3 mức protein tương  
ứng là 30%, 43% và 52%. Kết quả cho thấy, ở mức 24% lipit thì mức tăng  
trưởng của cá không có sự sai khác giữa 2 mức protein 43% và 52%, nhưng ở  
các lô thí nghiệm ở mức 12% lipit và 30% protein thì mức tăng trưởng của cá  
chậm hơn đáng kế. Tuy nhiên, ở mức 24% lipit khi tăng hàm lượng protein từ  
30% lên 43%, thì mức tăng trưởng của cá cũng tăng. Nếu giới hạn khẩu phần  
cho ăn (0,5% khối lượng cá/ngày), các lô thí nghiệm ở mức 24% lipit với 43%,  
52% protein có mức tăng trưởng của cá tốt hơn so với các công thức thí nghiệm  
khác.  
* Nhu cầu a xít béo:  
Các nghiên cứu trên họ cá Hồi tại Na Uy cho thấy vai trò quan trọng của  
các axít béo 3, theo đó nhu cầu 3 trong thức ăn cá Hồi nên ở mức 1% khẩu  
phần ăn. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khả năng tích luỹ và tỷ lệ axít béo  
3/6 trong cơ thể của cá Hồi trong nuôi nhân tạo không cao như trong tự nhiên  
(4,5 so với 17).  
(Takeuchi và Watanabe (1982) cho biết, cá Hồi vân có nhu cầu khoảng  
1% các axít béo 3 thiết yếu trong thức ăn, sử dụng hỗn hợp axít béo 18:  
33/18: 26 theo tỷ lệ 0,5% - 3%/1% sẽ cho tốc độ sinh trưởng của cá tốt hơn  
so với dùng đơn lẻ 18: 33 hoặc sử dụng 2,5-5% hàm lượng 18: 26. Nếu sử  
dụng đơn 18: 33 với tỷ lệ 5% thì tốc độ sinh trưởng của cá cũng không bằng so  
với có bổ sung 18: 26. Vì vậy 18: 26 được cho là có vai trò như chất bổ sung  
đáp ứng nhu cầu axít béo thiết yếu của cá Hồi vân. Acid Arachidonic (20: 46)  
cũng có tác dụng thúc đẩy sự sinh trưởng của cá Hồi vân như là axít 18: 26.  
Khi sử dụng 1% 6 PUFA và 1% 3 PUFA trong thức ăn làm cho cá có  
tốc độ tăng trưởng tốt (Takeuchi và Watanabe, 1977).  
Theo nghiên cứu của Watanabe et. al, (1977) chỉ ra rằng khi phối trộn  
0,8% 18:33 trong khẩu phần thức ăn, cá Hồi vân đạt mức tăng trưởng tối ưu.  
Cũng có thể thay thế 20% 18: 33 trong tổng lipít vào khẩu phần ăn hoặc với  
mức hoặc 10% tổng lipít là 20: 53 và 22: 63. Tuy nhiên việc bổ sung một  
10  
lượng nhỏ 6 trong khẩu phần ăn sẽ đảm bảo tốt hơn cho sự sinh trưởng và phát  
triển của cá.  
Takeuchi và Watanabe, (1977) cho rằng, trong thức ăn có axít béo 20:  
53 và 22: 66 sẽ cho tốc độ sinh trưởng của cá cao hơn so với thức ăn chỉ có  
18: 33. Khẩu phần ăn có 0,25% 20: 53 hoặc 0,25% hỗn hợp 2 acid 20: 53  
và 22: 63 (tỷ lệ 1:1) thì tốc độ sinh trưởng của cá tương đương với cá được cho  
ăn khẩu phần 0,5% 18: 33. Khi sử dụng 0,5% hỗn hợp axít béo như trên sẽ cho  
kết quả sinh trưởng của cá tốt hơn so với khi dùng đơn lẻ 0,5% cho từng loại.  
Trong tổng hàm lượng lipít của thức ăn nếu bổ sung 1% 22: 63 hoặc 1% hỗn  
hợp 20: 53 và 22: 63 (tỷ lệ 1:1) thì khả năng tiêu hoá thức ăn của cá ở mức  
tối đa và cho tốc độ sinh trưởng của cá cao nhất. Nhu cầu của cá Hồi vân đối với  
acid 18: 33 và các axít béo PUPA 3 lần lượt là 20%- 10% khẩu phần lipít.  
Thành phần axit béo khẩu phần cũng có ảnh hưởng đến khả năng miễn  
dịch của cơ thể. Trong một nghiên cứu trên cá Hồi, (Thomson et al, 1996) đã  
thấy rằng khẩu phần đầy đủ axít béo 3 nhưng tỷ lệ 3/6 thấp thì sức đề  
kháng với bệnh Aeromonas salmonicida và Vibrrio anguillarum kém hơn khẩu  
phần có tỷ lệ 3/6 cao.  
Bảng 23.01.01: Nhu cầu axít béo không no của một số loài trong họ cá hồi  
Loài  
Nhu cầu axít béo  
Nguồn  
Rainbow trout 20% linolenic acid hoÆc 10% Takeuchi & Watanabe (1977)  
lipid d¹ng EPA vµ DHA  
0,5% linoleic acid  
Chum salmon 1% linoleic acid vµ 1% Takeuchi &Watanabe (1982)  
linolenic acid  
Yu & Sinnhuber (1979)  
Coho salmon 1% linoleic acid vµ 1linolenic Takeuchi & Watanabe (1977)  
acid  
1.3.1.4. Nhu cầu Vitamin  
Vitamin là những chất hữu cơ có bản chất hóa học khác nhau, cơ thể động  
vật có nhu cầu một lượng nhỏ trong thức ăn để đảm bảo sự sinh trưởng và phát  
triển bình thường.  
Vai trò của vitamin được ứng dụng vào nuôi trồng thủy sản từ rất lâu,  
nhất là từ khi nghề nuôi trồng thủy sản phát triển hình thức thâm canh cùng với  
việc sử dụng thức ăn tổng hợp. Từ năm 1912, Dilley đã khám phá ra vai trò của  
vitamin B12 trong việc phòng trị bệnh xuất huyết ở cá Hồi. Louis Wolf đã xác  
định được vai trò của B1 (thiamine) hay của folic acid đối với cơ thể động vật.  
Bảng 23.01.02: Nhu cầu của một số vitamin của cá hồi vân  
Nguồn  
Đơn  
vị  
TT  
Vitamin  
Steffens Hardy, R.W Halver Torrissen NRC  
(1989)  
(2002)  
(1989)  
10- 15  
(1982)  
10- 15  
(1993)  
10  
1. Thiamine (B1)  
Mg 10 – 20  
-
11  
2. Riboflavin (B2)  
3. Pyridoxin (B6)  
4. Pantothenic acid (B5)  
5. Niacin (B3)  
6. Biotin (H)  
7. Folic acid (B9)  
8. Cyanocobalamin (B12) Nt  
9. Choline  
10. Inositol  
11. Viatmin C  
12. Vitamin D  
13. Vitamin E  
14. Vitamin K  
Nt  
Nt  
Nt  
Nt  
Nt  
Nt  
20-35  
10-20  
50-60  
50-200 10  
0,35-1,35 0,15  
4
3
20  
20- 25  
10- 15  
40- 50  
10- 25  
10- 20  
40- 50  
20  
10- 15  
40  
150- 200 120- 200 150  
1,5  
6- 10  
0,02  
-
1- 1,5  
5- 10  
0,02  
-
1
5
0,02  
-
5-15  
0,03-0,04 -  
1
Nt  
Nt  
Nt  
I.E  
-
1000  
350-500 300  
200-400 50  
300- 400 200- 300 400  
80- 150 100- 150 100  
-
40- 50  
-
-
2400  
2000  
40- 50  
-
2400  
90  
-
Mg 20-30mg 50 I.E  
Mg 10-40  
-
2000-  
2500  
2000-  
2500  
15. Vitamin A  
IE 2500  
2500  
2500  
1.3.1.5. Nhu cầu chất khoáng.  
Chất khoáng là những nguyên tố hoá học cần thiết để xây dựng nên cơ thể  
và tham gia vào quá trỡnh trao đổi chất trong cơ thể động vật. Chất khoáng có  
vai trò như là chất xúc tác đối với các enzim, hócmon và protein. Cho đến nay,  
người ta đó xỏc định được gần 100 nguyên tố tồn tại trong tự nhiên, trong đó có  
trên 30 nguyên tố tồn tại trong cơ thể động vật và thực vật.  
Khác với động vật trên cạn cá có khả năng tiếp nhận khoáng trực tiếp từ  
trong nước qua con đường thẩm thấu. Tuy nhiên, phần lớn nhu cầu các chất  
khoáng của cá được cung cấp từ thức ăn.  
Bảng 23.01.03: Nhu cầu một số chất khoáng của cá Hồi vân  
Nguồn tài liệu  
Shearer (1984),  
Kirchgessmer vµ  
Shwarz (1986)  
TT Khoáng  
Steffens (1989)  
Watanabe, T. (1990)  
Đơn vị  
2
Chỉ số  
G/kg KP  
Nt  
Đơn vị  
% KP  
Nt  
Chỉ số  
<0,03  
0,7 – 0,8  
Đơn vị  
g/kg  
g/kg  
g/kg  
g/kg  
Chỉ số  
5,2  
4,8  
1,3  
3,2  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Ca  
P
Na  
K
Cl (Nacl)  
Mg  
Zn  
Mn  
Cu  
6
1 - 2,2  
2-13  
100  
Nt  
Nt  
Nt  
-
-
-
200-700 Mg/kg KP  
%
Ppm  
Nt  
0,06-0,07  
15-30  
g/kg  
0,33  
25  
1,8  
1,2  
15-100  
12-13  
3
0,6-2,8  
0,05  
0,2-0,4  
-
Nt  
Nt  
Nt  
Nt  
Nt  
Nt  
mg/kg  
mg/kg  
mg/kg  
13  
3
-
0,1  
-
-
Nt  
10 I  
11 Co  
12 Se  
13 Fe  
Nt  
mg/kg  
12  
12  
Giá trị dinh dưỡng và thị trường cá hồi vân:  
Thịt cá hồi vân rất ngon, mầu đỏ là sản phẩm được người tiêu dùng ưa  
chuộng. Thành phần dinh dưỡng chính trong 100g thịt cá hồi vân bao gồm 30,2  
g (chất rắn), 17,5g (protein), 10,2g (chất béo) và 0,1g (đường). Thịt cá còn  
chứa nhiều axít béo (omega-3), axít này dễ hoà tan vitamine A và D, và chứa  
lượng nước hoà tan vitamin B12. Giá cá hồi vân bán trên thị trường thế giới tùy  
thuộc vào loại sản phẩm. Ở thị trường Mỹ, giá 1 pound (0,45 kg) cá nguyên con  
là 3,49 Đô la, bỏ đầu và đuôi là 3,79 Đô la, 1 pound fi lê giá 4,3 Đô la. Trong  
những năm gần đây, sản lượng cá hồi vân nuôi ở Trung Quốc đạt nghìn tấn. Giá  
cá bán ở thị trường nội địa là 3 Đô la/kg (nguyên con). Giá của các sản phẩm  
chế biến như cá hun khói, đóng hộp thì còn cao hơn nhiều so với cá tươi. Hàng  
năm nước ta có nhập sản phẩm cá hồi để cung cấp cho nhiều nhà hàng, khách  
sạn phục vụ khách hàng. Nếu như trong nước nuôi được cá hồi vân thương  
phẩm thì cũng dễ dàng tiêu thụ nội địa. Trong trường hợp sản xuất được sản  
lượng lớn thì xuất khẩu sản phẩm cá hồi là rất dễ dàng. Trung tâm đổi mới nghề  
cá Phần Lan cũng đã nhận bao tiêu sản phẩm.  
1.4. Đặc điểm môi trường sống  
1.4.1. Nhiệt độ nước  
Cá Hồi vân là loài cá rộng nhiệt, nhiều tác giả nghiên cứu ngưỡng nhiệt  
độ của cá cho những kết quả khác nhau, tùy thuộc vào nguồn gốc, dòng cá và  
biên độ nhiệt độ. Nhiệt độ thích hợp nhất cho hầu hết các loài cá Hồi sinh trưởng  
là 15- 17oC, ở nhiệt độ này tốc độ trao đổi chất của cá là tối ưu, tức là cho hệ số  
chuyển đổi thức ăn là tốt nhất. Cá Hồi vân bắt mồi tốt nhất ở nhiệt độ 15oC, bỏ  
ăn khi nhiệt độ lên quá 20oC. Theo Pike, I.H và ctv (1990) khuyến cáo nên dừng  
cho cá ăn khi nhiệt độ nước ở trên mức 22oC. Nhiệt độ trên 21oC là điều cần  
tránh với cá hồi vân đặc biệt là khi hàm lượng ôxy hoà tan giảm.  
Tuy nhiên, theo Hardy & ctv, 2000 cá hồi vân có thể sinh trưởng khi nhiệt  
độ nước lên tới 25oC trong điều kiện có đủ ôxy và ở mức nhiệt độ thấp nhất là  
3,3oC (Hinshaw Jeffrey, 1999). Nhiệt độ nước trong các trại nuôi cá hồi vân nên  
duy trì trong khoảng 12- 20oC, không nên vượt quá 21- 23oC trong một thời gian  
dài. Cá chết nhiều khi nhiệt độ ở mức ≥ 24oC. Khả năng sử dụng thức ăn và tốc  
độ sinh trưởng của cá sẽ giảm dần rồi ngừng hẳn khi nhiệt độ nước ở mức trên  
20oC, đây là ngưỡng cao nhất để cá hồi vân có thể sống trong một thời gian dài.  
Nhiệt độ không những ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của cá mà  
còn ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng thức ăn và hoạt động của hệ tiêu hóa. Đối  
với cá nước ấm cần nhiều thức ăn hơn so với cá nước lạnh. Ở nhiệt độ 3,3oC  
hoặc thấp hơn, tần số bắt mồi của cá hồi vân bị giảm và khả năng tiêu hóa rất  
chậm, vì vậy trong điều kiện nhiệt độ giảm thấp khẩu phần ăn chỉ nên duy trì ở  
mức dao động từ 0,5-1,8% khối lượng cơ thể/ngày tùy thuộc vào cỡ cá, nếu cho  
ăn nhiều thì cá cũng không có khả năng tiêu hóa và thức ăn sẽ bị thải ra ngoài.  
Khi nhiệt độ nước trên 20oC thì khả năng hấp thu chất dinh dưỡng của cá hồi  
vân giảm và thức ăn không được tiêu hóa một cách triệt để. Nên giảm khẩu phần  
13  
ăn khi nhiệt độ nước cao để tránh thức ăn bị thải ra ngoài và đảm bảo duy trì  
chất lượng nước tốt. Tác giả còn cho biết nhiệt độ dao động trong khoảng 12,7-  
18,3oC là tối ưu để cho cá Hồi vân sinh trưởng và trong khoảng nhiệt độ ấy có  
thể cho cá ăn ở khẩu phần tối đa (1,5- 6% khối lượng cơ thể, tùy theo cỡ cá).  
Biên độ dao động nhiệt độ trong ngày nên duy trì trong khoảng từ 2- 3oC  
để tránh gây sốc cho cá.  
1.4.2. Hàm lượng ôxy hòa tan  
Một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng lớn đến sự sống, phân  
bố và sức khỏe của cá nói chung và cá Hồi vân nói riêng là hàm lượng ôxy hòa  
tan trong nước.  
Hàm lượng ôxy hòa tan cho sinh trưởng tối ưu của các loài cá nước lạnh  
là 7 mg/l, trong khi nuôi cá nước ấm chỉ cần 5 mg/l. Đối với cá hồi vân nuôi  
trong bể, ôxy hòa tan là yếu tố môi trường quan trọng quyết định năng suất cá  
nuôi. Hàm lượng ôxy hòa tan thích hợp cho cá Hồi vân sinh trưởng và phát triển  
dao động trong khoảng 5- 10 mg/l, lý tưởng nhất ở mức 7mg/l trở lên. Theo  
Theo Stevenson, J. P., (1980)Error! Reference source not found. và  
Colt và ctv (2001) ngưỡng ôxy thấp nhất của cá hồi vân ở mức 6 mg/l và trong  
các bể nuôi không nên để hàm lượng ôxy hòa tan ở mức thấp hơn 5 mg/l. Hàm  
lượng ôxy hòa tan ở mức 1,5- 2mg/l thì cá hồi vân trưởng thành có thể chịu  
được trong một thời gian ngắn và cũng đây là ngưỡng gây chết đối với cá trưởng  
thành, đối với cá giống ngưỡng gây chết khoảng 3 mg/l. Theo Liao, (1971) thì  
cần có 200- 300g ôxy hoà tan cho mỗi kg thức ăn cung cấp và nếu ôxy ở mức  
3mg/l thì cần phải bổ sung bằng sục khí. Nhu cầu ôxy của cá có thể tăng lên sau  
20 phút hoặc vài giờ, nhất là sau khi ăn việc này dẫn tới hiện tượng giảm ôxy  
huyết, stress ở cá cần phải giảm lượng thức ăn.  
Hàm lượng ôxy hòa tan có ảnh hưởng rất lớn đến sức sống và khả năng  
kháng bệnh của cá của cá. Hàm lượng ôxy hòa tan cao sẽ giảm tỷ lệ chết của cá  
do ký sinh trùng gây ra.  
Khi nhiệt độ nước tăng lên, hàm lượng ôxy hòa tan cũng như khả năng  
hòa tan của ôxy từ không khí vào môi trường nước bị giảm xuống, đây chính là  
nguyên nhân dẫn đến cá bị stress trong những tháng mùa hè. Do vậy, hàm lượng  
ôxy hòa tan là một trong những yếu tố hết sức quan trọng trong việc chọn thủy  
vực để nuôi cá hồi. Cá hồi vân thường được nuôi trong các thủy vực tự nhiên và  
trong các hệ thống nước chảy. Có một tương quan giữa hàm lượng ôxy hoà tan  
với nhiệt độ nước và độ cao, khi độ cao tăng 300m làm khả năng hoà tan ôxy  
giảm 0,5mg/l.  
1.4.3. Độ pH  
Nguồn nước chảy là yếu tố đầu tiên quyết định tới sự biến động pH trong  
hệ thống nuôi, đối với cá hồi vân pH tốt nhất là trung tính hơi kiềm khoảng 7- 8,  
nguồn nước có tính axít pH< 7 không thể tiến hành nuôi cá. pH tốt nhất cho cá  
hồi vân sinh trưởng và phát triển là 7- 8,5, trong quá trình nuôi chú ý không lấy  
14  
nước tầng mặt sau trận mưa lớn.  
Từ nghiên cứu gần đây cho thấy cá hồi vân có thể thích nghi được với  
điều kiện pH thấp. Cá hương, cá giống và cá trưởng thành có thể sống khi pH ở  
mức dưới 5. Tuy nhiên, ở mức pH thấp thì sẽ không tốt cho sự phát triển của  
phôi và cá bột. Với mức pH 4,5- 5,5 tỷ lệ nở của trứng giảm và pH ở mức ≤ 4,3  
phôi cũng như cá bột sẽ bị chết. Khi pH > 9 thì cá hồi có thể chết, đặc biệt là ở  
giai đoạn phôi phát triển và cá bột.  
1.4.4. Độ muối  
Cá hồi vân là loài cá có khả năng thích nghi với môi trường nước mặn,  
chúng thường sống trong nước ngọt, nhưng có thể sống ở môi trường nước biển  
có độ muối đến 35‰. Chúng có khả năng thích nghi tốt với những thay đổi  
nhanh về độ muối và di cư nhanh chóng từ nước ngọt ra đại dương trong hệ  
thống nuôi thương phẩm. Finstad và ctv, (1998) cho biết, cá hồi vân cỡ 40-120  
g/con di cư từ nước ngọt ra nước mặn có độ muối 26‰ mà không thấy một dấu  
hiệu nào là cá bị stress. Thậm trí là ngược lại trong thực tế cá sống trong môi  
trường nước ngọt khi bị stress có thể dùng muối bổ sung trong nước để giảm  
stress.  
Sức chịu đựng của cá hồi vân đối với sự tăng độ muối phụ thuộc vào cỡ  
cá. Chúng có thể sinh trưởng trong nước lợ với độ muối thấp trong suốt năm đầu  
tiên nhưng chúng chỉ chịu được độ muối 25-30‰ khi chiều dài cơ thể đạt 15-  
20cm. Cá hồi vân cỡ 90g được nuôi trong nước có độ muối 20‰, cá sinh trưởng  
tốt và sự sinh trưởng của cá sẽ giảm, hệ số thức ăn (FCR) sẽ tăng khi tăng độ  
muối (Steffens, W., 1989).  
Ở độ muối 0‰ và 8‰ sự sai khác về tốc độ sinh trưởng của cá không rõ  
rệt nhưng khi độ muối lên đến trên 20‰ sự sinh trưởng bị chậm lại một cách  
đáng kể. Ảnh hưởng của độ muối đến sinh trưởng của cá hồi vân phụ thuộc vào  
thời gian trong năm và nhiệt độ. Ở nhiệt độ trên 12oC và với độ muối 20‰ sẽ ức  
chế sự sinh trưởng của cá hồi vân nhưng ở nhiệt độ thấp hơn chúng sinh trưởng  
tốt hơn trong nước ngọt  
1.5. Đặc điểm sinh trưởng  
Khả năng sinh trưởng của cá hồi vân tùy thuộc vào nhiệt độ, dinh dưỡng  
và yếu tố di truyền. Nhìn chung cá hồi vân có tốc độ sinh trưởng nhanh, trong  
điều kiện môi trường sống giàu thức ăn tự nhiên cá có thể đạt 100g trở lên trong  
năm đầu, 250-300g sau 2 năm và sau 3 năm đạt 40- 45cm. Theo Bromage Niall  
và ctv thì trong điều kiện nuôi, tính từ trứng có điểm mắt đến khi đạt 10- 20  
tháng nuôi cá có thể đạt khối lượng bình quân 200 g/con  
Sống tự nhiên ở hồ Kooteney-British Côlômbia cá đạt kích thước lớn nhất  
là 23kg ở 5-6 tuổi. Tuy nhiên, trong các suối cá chỉ đạt khối lượng 100g sau 1  
năm tuổi và 300-450g sau 3 năm tuổi. Cá hồi vân có thể sống 10- 12 năm và đạt  
kích thước đến 20kg.  
15  
1.6. Đặc điểm sinh sản  
1.6.1. Sinh sản tự nhiên:  
Cá hồi vân sinh sản tự nhiên trong các thủy vực nước lạnh. Chúng có tập  
tính đào tổ đẻ trứng. Một con cái có thể đẻ từ 700-4000 trứng/lứa đẻ. Sau khi đẻ,  
trứng được thụ tinh và ấp trong tổ.  
1.6.2. Sinh sản nhân tạo:  
* Nuôi vỗ đàn cá bố mẹ và cho đẻ:  
Cá bố mẹ có thể có thể được thu từ tự nhiên hoặc thu từ các trại nuôi cá  
thịt. Cá hồi nuôi có đặc điểm là lớn nhanh, thành thục sớm, kích cỡ trứng lớn.  
Cá bố mẹ thường được nuôi vỗ riêng trong ao nước chảy. Mật độ thả thích hợp  
là 8.000 con/ha. Trong nuôi vỗ thành thục, tạo ăn thức ăn tự nhiên trong ao nuôi  
được đặc biệt chú ý. Tuy nhiên khi không đủ thức ăn tự nhiên thì cần phải cung  
cấp thức ăn nhân tạo, bổ sung chất dinh dưỡng theo yêu cầu của cá. Thông  
thường cá đực bắt đầu phát dục sau hai năm tuổi, còn cá cái thành thục muộn  
hơn khi chúng đạt ba tuổi. Cá đực ở lứa tuổi từ hai đến bốn năm là thích hợp  
nhất để cho sinh sản. Số lượng trứng hoặc sẹ sẽ tăng theo cỡ cá bố mẹ. Cá cái cỡ  
lớn hơn thì đẻ nhiều trứng hơn, kích thước trứng lớn hơn và ấu trùng cá nở ra  
cũng to hơn. Mùa sinh sản thường tập trung từ tháng 3-7 hàng năm.  
Số lượng cá bố mẹ cần thiết phụ thuộc vào số lượng cá giống cần sản  
xuất. Số lượng cá bố mẹ có thể tính ngược lại, dựa vào tỷ lệ sống của ấu trùng,  
cá hương và cá giống. Có nhiều quan điểm khác nhau về tỷ lệ cá đực và cái,  
nhưng thông thường thì tỷ lệ 1 đực 3 cái là thích hợp nhất. Cá đực và cá cái  
thường được nuôi riêng trong các ao hoặc bể. Khi kiểm tra cá thành thục sinh  
dục thì có thể cho đẻ nhân tạo theo phương pháp vuốt trứng và sẹ, thụ tinh khô.  
Cũng có thể sử dụng phương pháp bảo quản tinh để tiết kiệm chi phí nuôi cá  
đực.  
* Ấp trứng và ương cá bột:  
Trứng cá hồi vân có kích thước khá lớn, không dính và chìm trong nước.  
Có nhiều loại thiết bị dùng để ấp trứng cá hồi, nhưng tốt nhất là dùng khay ấp  
theo kiểu thiết kế của California. Ưu điểm của phương pháp ấp trứng trong khay  
là trứng và ấu trùng có thể quan sát dễ dàng và tiện thao tác. Máng để chứa khay  
ấp thường rộng khoảng 40- 50 cm và sâu 20 cm. Chiều dài có thể thay đổi trong  
khoảng 3 - 4 m. Khay hình chữ nhật có lỗ đục được đặt trên máng, cách đáy trên  
của máng khoảng 3 cm. Các lỗ ở khay phải giữ được trứng và cho phép ấu trùng  
mới nở đi qua được theo dòng nước ở bên dưới. Lượng nước cần dùng để ấp  
trứng là 5.000 lít cho 10.000 trứng trong 1 ngày. Thời gian trứng nở phụ thuộc  
vào nhiệt độ nước và dao động trong khoảng 100 ngày ở 3,9oC và 21 ngày ở  
14,4oC. Giai đoạn điểm mắt (có thể nhìn thấy mắt qua vỏ trứng) đến khi nở là  
khoảng thời gian dài nên trứng có thể vận chuyển từ nơi này đến nơi khác để ấp  
nở.  
Khi mới nở, ấu trùng cần được ương vài ngày trong khay ấp trứng rồi mới  
16  
chuyển sang bể ương. Có thể sử dụng bể composite hoặc bê tông trong nhà để  
ương cá hồi là thích hợp nhất. Cần duy trì dòng nước chảy và mật độ cá ương  
trong bể một cách hợp lý. Bể tròn có thể ương ở mật độ cao hơn so với ương ở  
các khay dài truyền thống. Thường bể tròn có đường kính 2 m, độ sâu khoảng  
0,5- 0,6 m và bể dài 3- 4 m, rộng 70- 80 cm và sâu 50- 60 cm là thích hợp cho  
việc ương cá bột. Cho cá ăn: số lượng thức ăn và tần suất cho ăn tuỳ theo cỡ cá  
và nhiệt độ nước. Khi cá nhỏ thì cho ăn khoảng 5 - 6 lần trong ngày, khi cá lớn  
thì cho ăn 2- 3 lần trong ngày. Trong thời gian ương phải thường xuyên vệ sinh  
bể và kiểm tra chất lượng nước. Giai đoạn ương thường kéo dài trong khoảng  
10-12 tuần. Sau đó cá con được phân cỡ để chuyển ương tiếp thành cá giống lớn  
hoặc nuôi cá thịt.  
2. Đặc điểm sinh học cá tầm (Acipenser sp):  
Cá Tầm (Sturgeon) thuộc họ cá Acipenseridae xuất hiện trên trái đất  
khoảng hơn 100 triệu năm trước, và theo Fishbase cá Tầm gồm 28 loài khác  
nhau. Cá Tầm không chỉ là loài cá nước ngọt lớn nhất mà còn là loài sống lâu  
nhất. Cá Tầm tự nhiên sống ở vùng Bắc Bán Cầu và thường gặp tại Bắc Ðại Tây  
Dương, Bắc Thái Bình Dương, Vùng Biển Caspian, Biển Ðen, tại nhiều sông và  
hồ như sông Delaware, Rhin, Garonne, Elbe, Volga, Danube và hồ Ladoga.  
1.1. Đặc điểm phân loại  
Lớp cá xương sụn: Osteichthyes  
Họ cá Tầm : Acipenseridea  
Giống: Acipenser  
Loài : Acipenser baerii Brandt, 1869  
Tên tiếng Anh: Siberian Sturgeon  
Hình 23.01.02. Cá Tầm Siberi  
17  
1.2. Đặc điểm hình thái và phân bố  
1.2.1. Đặc điểm hình thái  
Cá Tầm Siberi có thân hình thuôn dài, nhô cao về phía lưng và dẹp về  
phía bụng. Bề ngoài cá có màu đen hoặc xám đen, bụng có màu trắng. Cá có 5  
háng xương nằm dọc cơ thể về phía lưng, không có xương cứng. Nắp mang hở,  
có xương nắp mang và 4 cung mang, tuy nhiên không có màng mang. Mõm cá  
hình nêm, hợp với đầu tạo thành hình tam giác. Miệng hướng dưới tương đối  
lớn, môi phát triển kéo dài nhô ra hình tròn. Dưới mõm, phía trên miệng có 2 đôi  
râu là cơ quan xúc giác của cá. Cá có 2 vây lưng, vây lưng phía trước là gai  
cứng, vây lưng phía sau là gai mềm. Đuôi cá kéo dài, phía sau đuôi có vẩy cứng,  
gai nhỏ xếp thành nhiều hàng.  
1.2.2. Phân bố  
Cá Tầm Sibêri có phân bố tự nhiên tại các nước gồm Nga, Kazakhstan và  
Trung Quốc. Tại Nga, cá phân bố ở hầu hết các sông lớn ở vùng Sibêri. Vùng  
phân bố của chúng phát triển theo hướng nam từ lưu vực sông Lena và vịnh Ob’  
tới Cherniyi, Irtysh và sông Selenga.  
Hiện nay cá Tầm Sibêri đã được nhập và phát triển tại nhiều nước như  
Nhật Bản, Pháp, Đức, Italia, Hungary, Ba Lan, Tây Ban Nha, Bỉ, Mỹ, Uruguay,  
Trung Quốc (FAO, 2009), Việt Nam.  
1.3. Đặc điểm dinh dưỡng  
Cá Tầm Sibêri là loài cá ăn ở tầng đáy. Với chiếc mõm hình nêm chúng  
sục sạo lớp đáy bùn mềm và bằng cơ quan xúc giác nhạy cảm (râu) thì chúng có  
thể phát hiện các loài động vật giáp xác và cá nhỏ, là nguồn thức ăn của chúng.  
Vì không có răng nên chúng không thể bắt các con mồi lớn. Vì vậy khi còn nhỏ  
thành phần thức ăn bao gồm các loài nhuyễn thể, giun tơ, ấu trùng muỗi và ấu  
trùng các côn trùng, tôm nhỏ. Cá lớn lên thức ăn của cá là các loài cá nhỏ ăn đáy.  
Cá Tầm Siberi là loài ưa hoạt động vào lúc bình minh hoặc chạng vạng  
tối. Khi điều kiện ánh sáng mạnh cá sẽ nằm dưới đáy để ngủ, chỉ có thức ăn mới  
hấp dẫn được chúng ra khỏi nơi trú ẩn. Trong điều kiện nuôi công nghiệp, cá có  
thể sử dụng được thức ăn nhân tạo. Lượng thức ăn cho cá hàng ngày thay đổi  
theo nhiệt độ như sau:  
Bảng 23.01.04. Khẩu phần thức ăn của cá Tầm Siberi trong nuôi thương phẩm  
Nhiệt độ (0C)  
Lượng thức ăn (%Wthân/ ngày)  
12  
18  
21  
25  
1,5- 2,1  
2,2- 3,2  
2,0- 4,0  
3,3- 5,0  
18  
1.4. Đặc điểm môi trường sống  
Cá Tầm là loài sống ở tầng đáy, thị giác kém phát triển, thích nơi có ánh  
sáng yếu, ưa nơi có dòng nước chảy. Cường độ ánh sáng mạnh sẽ ảnh hưởng  
đến hoạt động bắt mồi của. Trong hồ Baikal, chúng thường sống ở độ sâu 20-  
50m, có khi xuống sâu tới 100- 150m. Chúng là cá bán di cư ngược dòng hoặc  
cá nước ngọt, chủ yếu sống ở vùng trung lưu của các dòng sông.  
Cá Tầm Siberi có thể thích nghi và phát triển tốt ở vùng có độ cao từ  
600m trở lên, nhiệt độ nước dao động trong khoảng 18- 25oC, pH = 7- 8, hàm  
lượng oxy hoà tan trong khoảng 7- 8, hàm lượng Fe < 0,1 g/m3, hàm lượng  
H2S= 0, NH3 = 0,05g/m3.  
- Nhu cầu hàm lượng ôxy hoà tan cao, thường trên 5 mg/lít, nếu hàm  
lượng ôxy hoà tan dưới 4 mg/lít cá ăn kém, khi tiếp tục giảm xuống 3 mg/lít  
hoặc thấp hơn nữa cá ngừng ăn rõ rệt, nghiêm trọng hơn cá hoạt động yếu, dẫn  
đến hôn mê và chết.  
- Cá Tầm thích nghi với pH từ 7,0 - 8,0. Khi pH xuống thấp có nghĩa là  
hàm lượng CO2 tăng cao, nước chua, lượng ôxy hoà tan giảm không thích hợp  
với nhu cầu ôxy cao của cá, khi pH cao làm tăng độc tính của NH4 không thích  
hợp cho cá sinh trưởng, phát triển.  
1.5. Đặc điểm sinh trưởng  
Trứng cá được thụ tinh sau 8- 12 ngày thì nở tủy thuộc vào nhiệt độ môi  
trường, nhiệt độ thích hợp khoảng 14- 17oC. Sau khi nở cá tự dưỡng bằng noãn  
hoàng, trọng lượng cá lúc này khoảng 35mg/con. Ở nhiệt độ 15- 17 oC thì sau  
10- 12 ngày khối noãn hoàng sẽ tiêu hết và cá bắt đầu sử dụng thức ăn bên  
ngoài. Trong điều kiện nhân tạo, ngay sau khi cá hết noãn hoàng thì cần cung  
cấp thức ăn cho cá 30 phút/lần. Thức ăn của cá la dạng bột mịn và nhũ tương,  
ngoài ra còn sử dụng thức ăn tươi sống như artemia, động vật phù du, thịt cá  
tươi xay nhuyễn, Khẩu phần ăn của cá tùy theo nhiệt độ mà thay đổi cho phù  
hợp từ 25- 45% trọng lượng cơ thể, Trong điều kiện nuôi tốt, sau 1 năm tuổi cá  
có thể đạt trọng lượng 1,0- 1,5kg/con, cá 2 năm tuổi đạt 2,0- 3,0kg/con  
(Dettlaff và ctv., 1982).  
Tốc độ lớn của cá bột rất nhanh trong khoảng thời gian đầu. Sau khi đạt  
tới độ trưởng thành thì tốc độ lớn của chúng chậm lại rất nhiều, mặc dù vẫn tiếp  
tục trong vài năm. Kích thước tối đa của cá tới 2m, nặng khoảng 80- 100 kg.  
Nhưng trong thực tế, ít khi khai thác được cá như vậy. Phần lớn cỡ cá khai thác  
được trong tự nhiên đạt khoảng 15- 20 kg. Đôi khi cá 10- 12 năm tuổi khối  
lượng đạt 20- 30 kg. Trong điều kiện nuôi sử dụng thức ăn công nghiệp thì năm  
đầu tiên cá đạt khối lượng 1,2- 2,2 kg, năm thứ 2 đạt 2,4- 4,5 kg và năm thứ 3  
đạt 4,0- 7,0 kg.  
1.6. Đặc điểm sinh sản  
Trong tự nhiên, cá Tầm Sibêri là loài cá có tuổi thành thục cao, cá thành  
19  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 87 trang yennguyen 14741 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình mô đun Nuôi cá nước lạnh - Nghề: Nuôi trồng thủy sản", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_mo_dun_nuoi_ca_nuoc_lanh_nghe_nuoi_trong_thuy_san.pdf