Hoạt tính kháng khuẩn của chiết xuất thảo dược lên vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus gây bệnh hoại tử gan tụy cấp tính trên tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamie) trong điều kiện in vitro

DOI: 10.35382/18594816.1.38.2020.559  
T Ạ P CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 38, THÁNG 6 N Ă M 2020  
HOẠT TÍNH KHÁNG KHUẨN CỦA  
CHIẾT XUẤT THẢO DƯỢC LÊN VI KHUẨN  
Vibrio parahaemolyticus G Â Y BỆNH HOẠI TỬ G A N TỤY  
C Ấ P TÍNH TRÊN TÔM THẺ CHÂN TRẮNG  
(Litopenaeus vannamie) TRONG ĐIỀU KIỆN IN VITRO  
Nguyễn Chí Nguyện1, Nguyễn Thị Hồng Nhi2  
ANTIBACTERIAL ACTIVITY OF HERBAL EXTRACTS AGAINST  
Vibrio parahaemolyticus CAUSING ACUTE HEPATOPANCREATIC  
NECROSIS DISEASE (AHPND) IN WHITELEG SHRIMP  
(Litopenaeus vannamei) IN VITRO  
Nguyen Chi Nguyen1, Nguyen Thi Hong Nhi2  
Tóm tắt – Nghiên cứu hoạt tính kháng  
khuẩn của chiết xuất lá trứng cá, hành tây,  
thù lù bằng ethanol 90% và 70% đối với  
vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus gây bệnh  
hoại tử gan tụy cấp tính trên tôm thẻ chân  
trắng (Litopenaeus vannamei) được thực hiện  
tại Khoa Nông nghiệp – Thủy sản, Trường  
Đại học Trà Vinh. Kết quả cho thấy, vòng  
kháng khuẩn của chiết xuất lá trứng cá  
ethanol 70% lớn nhất là 18,00 ± 0,00 mm,  
chiết xuất lá trứng cá bằng ethanol 90% là  
17,33 ± 0,58 mm và chiết xuất dịch tươi  
là 13,00 ± 0,00 mm. Nồng độ ức chế tối  
thiểu (MIC) của chiết xuất lá trứng cá bằng  
ethanol 70% và 90% lần lượt là 5.120 mg/L,  
10.240 mg/L. Giá trị MIC của chiết xuất  
hành tây bằng ethanol 70% và 90% là 40.960  
mg/L, chiết xuất thù là bằng ethanol 70% và  
90% là 81.920 mg/L. Kết quả nghiên cứu cho  
thấy hoạt tính kháng khuẩn của chiết xuất lá  
trứng cá mạnh nhất và thấp nhất là chiết xuất  
của thù lù.  
Từ khóa: hành tây, hoạt tính kháng  
khuẩn, cây thù lù, cây trứng cá, Vibrio  
parahaemolyticus.  
Abstract – The antibacterial activity of  
herbal extracts to Vibrio parahaemolyticus  
causing acute hepatopancreatic necrosis dis-  
ease in whiteleg shrimp (Litopenaeus van-  
namei) was studied and carried out in the  
School of Agriculture and Aquaculture, Tra  
Vinh University. The results showed that  
the inhibition zone of Muntingia calabura  
leaf extract with ethanol 70% was 18.00  
± 0.00mm, Muntingia calabura leaf extract  
with ethanol 90% was 17.33 ± 0.58 mm  
and Muntingia calabura fresh leaf extract  
was 13.00 ± 0.00 mm. Minimum inhibitory  
concentration (MIC) of Muntingia calabura  
leaf extract with ethanol 70% and 90% were  
5.120 mg/L, 10.240 mg/L. MIC value of Al-  
1Sinh viên, Khoa Nông nghiệp - Thủy sản, Trường Đại  
học T rà Vinh  
2Khoa Nông nghiệp - Thủy sản, Trường Đại học T rà Vinh  
Ngày nhận bài: 21/10/2019; Ngày nhận k ế t quả bình  
duyệt: 17/3/2020; Ngày chấp nhận đăng: 25/6/2020  
1Student, School of Agriculture and Aquaculture,  
T ra Vinh University.  
2School  
of  
Agriculture  
and  
Aquaculture,  
T ra Vinh University.  
Received date: 21st October 2019; Revised date: 17th  
March 2020; Accepted date: 25th June 2020  
82  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 38, THÁNG 6 NĂM 2020  
NÔNG NGHIỆP - THỦY SẢN  
lium cepa extract with ethanol 70% and 90%  
were 40.960 mg/L, Physalis angulata extract  
with ethanol 70% and 90% were 81.920  
mg/L. The results showed that the antimi-  
crobial activity was highest in the Muntingia  
calabura leaf extract and lowest in Physalis  
angulata extract.  
biệt là giảm khả năng kháng thuốc của vi  
khuẩn [8], [9].  
Bên cạnh đó, nhiều báo cáo đã ghi nhận  
hiệu quả của các loại thảo mộc như là chất  
khai vị và thúc đẩy tăng trưởng trong các loài  
thủy sản, giúp nông dân giảm chi phí đầu tư,  
tăng lợi nhuận [10].  
Keywords: Allium cepa, antibacterial ac-  
tivity, Muntingia calabura, Physalis angu-  
lata, Vibrio parahaemolyticus.  
Thù lù, hành tây và trứng cá là những cây  
thuốc có giá thành rẻ và phổ biến. Chúng  
chứa nhiều hợp chất quý như flavonoid,  
steroid, saponin, tannin và triterpen [11].  
Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa có nghiên  
cứu nào xác định khả năng kháng khuẩn V.  
parahaemolyticus gây bệnh hoại tử gan tụy  
cấp tính trên tôm thẻ chân trắng của các  
thảo dược trên. Vì vậy, nghiên cứu ‘Hoạt tính  
kháng khuẩn của chiết xuất thảo dược lên  
vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus gây bệnh  
hoại tử gan tụy cấp tính trên tôm thẻ chân  
trắng (Litopenaeus vannamie) trong điều kiện  
in vitro’ đã được thực hiện.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Tôm thẻ chân trắng là đối tượng có giá trị  
kinh tế cao, thị trường tiêu thụ rộng [1]. Ở  
Việt Nam, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng  
trên cả nước tính đến tháng 10/2019 là 99.740  
ha. Sản lượng thu hoạch tôm thẻ chân trắng  
là 386.701 tấn [2].  
Bệnh hoại tử gan tụy cấp tính được xem  
là bệnh nguy hiểm và gây ra nhiều thiệt hại  
đến sản lượng tôm nuôi trong những năm gần  
đây ở các nước Đông Nam Á và Mexico [3],  
[4].  
II. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU  
Riêng tại tỉnh Trà Vinh, tính đến tháng  
3/2019, tổng sản lượng tôm thẻ chân trắng  
đạt 4.332 tấn, tăng 600 tấn so với cùng kì  
năm 2018. Tổng hộ nuôi tôm thẻ chân trắng  
bị thiệt hại là 773 hộ và diện tích tôm thẻ  
chân trắng bị thiệt hại là 258 ha [5]. Nguyên  
nhân gây bệnh hoại tử gan tụy cấp tính là do  
vi khuẩn V. parahaemolyticus gây ra [6]. Sự  
lạm dụng thuốc kháng sinh trong nuôi trồng  
thủy sản đã gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe  
động vật nuôi, môi trường sinh thái và đặc  
biệt là tạo ra các chủng vi khuẩn kháng lại  
thuốc kháng sinh, làm giảm hiệu quả điều trị  
bệnh và tăng nguy cơ nhiễm khuẩn có khả  
năng kháng thuốc cho con người, động vật  
và tồn dư trong thịt động vật thủy sản [7].  
Hiện nay, việc nghiên cứu hoạt chất kháng  
khuẩn có nguồn gốc thảo dược đang được  
quan tâm nhằm tạo ra các sản phẩm sử  
dụng trong phòng trị bệnh thân thiện với môi  
trường, đảm bảo an toàn thực phẩm, hạn chế  
việc lạm dụng các loại hóa chất, kháng sinh  
cấm sử dụng trong nuôi trồng thủy sản, đặc  
Nguyễn Công Tráng và cộng sự [12] đã  
nghiên cứu xác định khả năng kháng V.  
parahaemolyticus của dịch trích lá, vỏ và hạt  
cây trâm bầu trong điều kiện in vitro. Nghiên  
cứu cho thấy dịch trích cây trâm bầu kháng V.  
parahaemolyticus mạnh với đường kính vòng  
kháng khuẩn trung bình 13,19 mm. Trong đó,  
dịch trích hạt cho tính kháng mạnh hơn dịch  
trích từ lá và vỏ với đường kính vòng kháng  
khuẩn lần lượt là 16,29 mm, 11,84 mm và  
11,44 mm. Kết quả thử nghiệm nồng độ ức  
chế tối thiểu MIC của dịch trích hạt trâm bầu  
đối với V. parahaemolyticus là 7,5 µL/mL.  
Hồng Mộng Huyền và cộng sự [13] đã  
nghiên cứu khảo sát hoạt tính kháng khuẩn  
của bảy loại chất chiết thảo dược thầu dầu,  
lưỡi rắn, mật gấu, chùm ngây, lược vàng,  
ô rô và sài đất. Hoạt tính kháng khuẩn,  
nồng độ ức chế tối thiểu (MIC), nồng độ  
diệt khuẩn tối thiểu (MBC) của bảy loại cao  
chiết thảo dược được sàng lọc trên hai chủng  
vi khuẩn V. harveyi và V. parahaemolyticus.  
Kết quả ghi nhận hoạt tính kháng khuẩn V.  
83  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 38, THÁNG 6 NĂM 2020  
NÔNG NGHIỆP - THỦY SẢN  
parahaemolyticus như sau: thầu dầu có vòng  
vô khuẩn là 17,5 ± 0,7 mm, lưỡi rắn có vòng Sinh học Khoa Thương tại Trung tâm Phân  
vô khuẩn là 7,0 ± 0,0 mm, mật gấu có vòng tích – Kiểm nghiệm TVU, Trường Đại học  
bằng bộ kit của Công ty TNHH Công nghệ  
vô khuẩn là 9,5 ± 0,7 mm, chùm ngây có Trà Vinh.  
vòng vô khuẩn là 9,0 ± 0,0 mm, lược vàng  
3) Phương pháp chiết xuất thảo dược:  
có vòng vô khuẩn là 7,5 ± 0,7 mm, ô rô có Việc chiết xuất thảo dược dựa vào phương  
vòng vô khuẩn là 9,0 ± 1,4 mm và sài đất  
có vòng vô khuẩn là 8,0 ± 1,4 mm.  
Tuy nhiên, chúng ta cần có nhiều công  
trình nghiên cứu xác định khả năng ức chế  
vi khuẩn V. parahaemolyticus gây bệnh hoại  
tử gan tụy cấp tính trên tôm thẻ chân trắng  
của thảo dược. Từ đó, chúng ta tìm ra loài  
thảo dược có khả năng kháng khuẩn V. para-  
haemolyticus tốt nhất và thay thế thuốc kháng  
sinh.  
pháp của Nguyễn Văn Đàn và cộng sự [16].  
Chiết xuất thảo dược bằng ethanol: Thảo  
dược đem rửa sạch và phơi khô (to ≤ 50oC).  
Tiếp theo, thảo dược được xay nhuyễn và  
ngâm ethanol 90%, 70% (tỉ lệ ethanol và  
thảo dược là 4:1). Sau bảy ngày lọc qua giấy  
lọc, chúng tôi thu được cao chiết. Sau đó,  
cao chiết được đem phơi đến khi khô (to ≤  
50oC). Cao chiết được bảo quản nơi thoáng  
mát 4oC.  
Chiết xuất dịch tươi thảo dược: Thảo dược  
tươi được rửa sạch và để ráo nước. Tiếp theo,  
thảo dược được xay nhuyễn với nước 1,5%  
NaCl (tỉ lệ thảo dược và nước 1,5% NaCl là  
1:1), sau đó, lọc lấy nước cốt. Dịch tươi được  
bảo quản trong tủ mát 4oC không quá 24 giờ.  
Hiệu suất (%) chiết xuất thảo dược được  
dựa theo tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam IV  
[17]:  
III. PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN  
NGHIÊN CỨU  
A. Thời gian và địa điểm thí nghiệm  
Nghiên cứu được thực hiện từ ngày  
01/01/2019 đến ngày 30/07/2019 tại Phòng  
Bệnh học Thủy sản, Khoa Nông nghiệp –  
Thủy sản, Trường Đại học Trà Vinh.  
Hiệu suất (%) = [khối lượng chất chiết xuất  
(g) / khối lượng mẫu cao chiết] * 100.  
4) Phương pháp xác định khả năng kháng  
khuẩn của thảo dược qua khuếch tán trên  
giếng thạch: Phục hồi vi khuẩn V. para-  
haemolyticus gây bệnh hoại tử gan tụy cấp  
tính trong môi trường BHIB có bổ sung 1,5%  
NaCl. Mật độ vi khuẩn sẽ được xác định  
bằng máy đo quang phổ ở bước sóng 610  
nm. Khi mật độ vi khuẩn đạt 108 CFU/mL,  
chúng ta lắc đều bình chứa vi khuẩn, dùng  
pipet hút 100 µL vi khuẩn nhỏ vào giữa đĩa  
thạch môi trường BHIA, dùng que thủy tinh  
trải đều. Sau 15 phút tiến hành đục lỗ trên  
mặt thạch với đường kính 6 mm/lỗ đục cách  
nhau khoảng 20 mm và khoảng cách giữa lỗ  
với mép đĩa petri 10-15 mm. Mỗi đĩa petri  
(đường kính 100 mm) đục bốn lỗ.  
B. Phương pháp bố trí thí nghiệm  
1) Phương pháp phân lập vi khuẩn từ  
mẫu tôm bệnh: Phân lập vi khuẩn V. para-  
haemolyticus dựa vào phương pháp của Pin-  
toet et al. [14] và Lê Xuân Phương [15].  
Tôm thẻ chân trắng có dấu hiệu bệnh lí,  
bệnh hoại tử gan tụy cấp tính được thu từ  
ao nuôi tại xã Mỹ Long Nam, huyện Cầu  
Ngang, tỉnh Trà Vinh. Các chủng vi khuẩn  
được chúng tôi phân lập và định danh theo  
phương pháp của Cowan and Steels (Barrow  
and Felthham, 1993) kết hợp với việc sử dụng  
bộ KIT API 20E (BioMerieux, Pháp). Việc  
phân lập và định danh chủng vi khuẩn V.  
parahaemolyticus được sử dụng trong nghiên  
cứu.  
2) Kiểm tra gen độc lực của V. para-  
haemolyticus bằng phương pháp Realtime  
Chúng ta dùng pipet hút 100 µL chiết xuất  
PCR: Vi khuẩn V. parahaemolyticus được dịch tươi thảo dược nhỏ trực tiếp vào giếng  
kiểm tra gen độc lực gây bệnh hoại tử gan  
tụy cấp tính theo phương pháp realtime PCR  
thạch. Thảo dược ethanol 90% và thảo dược  
ethanol 70% được chiết xuất, đem pha loãng  
84  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 38, THÁNG 6 NĂM 2020  
NÔNG NGHIỆP - THỦY SẢN  
với nước 1,5% NaCl (tỉ lệ thảo dược và nước  
1,5% NaCl là 1 : 10). Sau đó, chúng ta hút  
100 µL nhỏ vào giếng thạch (mỗi nghiệm  
thức lặp lại ba lần), đặt đĩa thạch vào tủ ấm  
cá (18,83%). Kết quả hiệu suất chiết xuất lá  
trứng cá từ dung môi ethanol cao hơn so với  
hiệu suất chiết xuất lá trứng cá từ dung môi  
nước (11,928 %) của Puguh et al. [21] Kết  
ở điều kiện 37oC. Sau 24 giờ, chúng ta tiến quả hiệu suất chiết xuất thù lù từ dung môi  
hành đọc kết quả bằng cách đo đường kính  
vòng vô khuẩn [18]-[20].  
ethanol thấp hơn so với hiệu suất chiết xuất  
thù lù từ dung môi nước (29,44%) của Aina  
et al. [22]. Kết quả hiệu suất chiết xuất hành  
tây từ dung môi ethanol cao hơn so với hiệu  
suất chiết xuất hành tây từ dung môi ethyl  
acetate (1,64%) của Đỗ Thị Thanh Trung và  
cộng sự [23]. Phương pháp chiết xuất và dung  
môi khác nhau cho hiệu suất chiết xuất thu  
được khác nhau. Nguyên nhân là do các điều  
kiện nhiệt độ, thời gian sấy mẫu, mẫu thu  
hái những vùng khác nhau, thời gian thu hái  
khác nhau, loại dung môi. Các điều kiện này  
ảnh hưởng đến quá trình chiết xuất, mức độ  
phá vỡ mô tế bào và giải phóng các chất có  
trong thảo dược [24].  
5) Phương pháp thử nghiệm nồng độ ức  
chế tối thiểu (MIC): Thảo dược được pha  
loãng với 1,5% NaCl theo các nồng độ  
5 mg/L, 10 mg/L, 20 mg/L, 40 mg/L, 80  
mg/L.. . 163.840 mg/L. Vi khuẩn V. para-  
haemolyticus được nuôi tăng sinh trong môi  
trường BHIB có bổ sung 1,5% NaCL. Mật  
độ vi khuẩn dung trong thí nghiệm là 108  
CFU/ mL, thí nghiệm lặp lại ba lần. Sau 24  
giờ, chúng ta đọc và ghi nhận kết quả [16].  
C. Phương pháp xử lí số liệu  
Các số liệu được xử lí thống kê sinh học  
bằng phần mềm Microsoft Excel 2010 và  
SPSS 18.  
E. Hoạt tính kháng khuẩn của thảo dược đối  
với vi khuẩn V. parahaemolyticus gây bệnh  
hoại tử gan tụy cấp tính trên tôm  
D. Kết quả chiết xuất thảo dược  
Bảng 1: Kết quả hiệu suất chiết xuất ethanol  
70% và ethanol 90% của thảo dược  
Khối lượng  
khô (g)  
Khối lượng  
cao chiết (g)  
Hiệu  
Loại dịch chiết  
suất (%)  
Lá trứng cá  
Ethanal 70%  
Ethanal 90%  
Hành tây  
200  
200  
38,24  
37,66  
19,12  
18,83  
Hình 1: Khả năng ức chế vi khuẩn của hành  
tây  
(Ghi chú: (1) thảo dược chiết xuất bằng  
ethanol 90%; (2) thảo dược chiết xuất bằng  
ethanol 70%; (3) dịch tươi: (4) đối chứng (-):  
1,5% NaCl)  
Ethanal 70%  
Ethanal 90%  
Thù lù  
200  
200  
87,89  
66,86  
43,94  
33,43  
Ethanal 70%  
Ethanal 90%  
200  
200  
50,85  
46,82  
25,42  
23,41  
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)  
Kết quả thí nghiệm ở Bảng 2 cho thấy cao  
chiết lá trứng cá có đường kính kháng khuẩn  
V. parahaemolyticus lớn hơn hành tây và thù  
lù, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).  
Chiết xuất lá trứng cá bằng ethanol 70%  
cho kết quả cao nhất với đường kính kháng  
Hiệu suất chiết xuất từ ethanol 70% cao  
nhất là cao chiết hành tây (43,94%), thấp nhất  
là cao chiết lá trứng cá (19,12%). Đối với  
chiết xuất từ ethanol 90%, hiệu suất cao nhất  
ở hành tây (33,43%) và thấp nhất ở lá trứng  
85  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 38, THÁNG 6 NĂM 2020  
NÔNG NGHIỆP - THỦY SẢN  
Bảng 2: Khả năng kháng khuẩn V. para-  
haemolyticus của các loại chiết xuất từ lá  
trứng cá, hành tây và thù lù  
Đường kính vòng vô khuẩn  
Loại thảo dược  
(mm)  
Trứng cá  
Hình 3: Khả năng ức chế vi khuẩn của lá  
trứng cá  
(Ghi chú: (1) thảo dược chiết xuất bằng  
ethanol 90%; (2) thảo dược chiết xuất bằng  
ethanol 70%; (3) dịch tươi: (4) đối chứng (-):  
1,5% NaCl)  
Ethanol 70%  
Ethanol 90%  
Dịch tươi  
18,00 ± 0,00c  
17,33 ± 0,58c  
13,00 ± 0,00b  
Hành tây  
Ethanol 70%  
Ethanol 90%  
Dịch tươi  
0 ± 0a  
0 ± 0a  
0 ± 0a  
Thù lù  
Ethanol 70%  
Ethanol 90%  
Dịch tươi  
0 ± 0a  
0 ± 0a  
0 ± 0a  
0
khuẩn lớn nhất đạt 18,00 ± 0,00 mm, tiếp  
theo lần lượt là chiết xuất lá trứng cá ethanol  
90% với vòng vô khuẩn là 17,33 ± 0,58 mm  
và dịch tươi là 13,00 ± 0,00 mm. Đường kính  
vòng kháng khuẩn của chiết xuất lá trứng cá  
ethanol 70% khác biệt có ý nghĩa thống kê  
so với dịch tươi nhưng khác biệt không có  
ý nghĩa thống kê với chiết xuất lá trứng cá  
ethanol 90% (p < 0,05).  
Đối chứng (-): NaCl 1.5%  
P
0
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)  
(Ghi chú: Các giá trị trong bảng là trung bình và  
độ lệch chuẩn, các giá trị trong cùng một cột có  
các kí tự khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa  
thống kê (p < 0,005))  
Khả năng kháng khuẩn V. parahaemolyti-  
cus của chiết xuất lá trứng cá ethanol 70%  
và ethanol 90% có đường kính kháng khuẩn  
lớn hơn so với nghiên cứu của Hồng Mộng  
Huyền và cộng sự [13] đối với bảy loại chiết  
xuất thảo dược: thầu dầu, lưỡi rắn, mật gấu,  
chùm ngây, lược vàng, ô rô và sài đất, vòng  
kháng khuẩn lần lượt như sau: 17,5 ± 0,7  
mm, 7,0 ± 0,0 mm, 9,5 ± 0,7 mm 9,0 ± 0,0  
mm, 7,5 ± 0,7 mm, 9,0 ± 1,4 mm và 8,0 ±  
1,4 mm.  
Lá trứng cá chứa hợp chất flavonoid, tanin,  
saponin. Theo Cushine et al. [25], hầu hết các  
hợp chất flavonoid có tác dụng kháng khuẩn  
do nó kìm hãm và ngăn sự phân chia của vi  
khuẩn, ức chế enzym transpeptid, ngăn quá  
trình tổng hợp mucopeptid (yếu tố tạo nên  
sự bền vững thành vi khuẩn), khi hợp chất  
flavonoid gắn lên màng vi khuẩn làm thay  
đổi tính thấm của màng, ức chế quá trình  
tổng hợp acid nucleic và RNA của vi khuẩn  
Hình 2: Khả năng ức chế vi khuẩn của  
thù lù  
(Ghi chú: (1) thảo dược chiết xuất bằng  
ethanol 90%; (2) thảo dược chiết xuất bằng  
ethanol 70%; (3) dịch tươi: (4) đối chứng (-):  
1,5% NaCl)  
86  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 38, THÁNG 6 NĂM 2020  
NÔNG NGHIỆP - THỦY SẢN  
và ức chế sự hoạt động của hyaluronidase  
(enzym giúp cho vi khuẩn tấn công sang các  
tế bào lân cận). Bên cạnh đó, các vòng carbon  
sáu cạnh có gắn các nhóm OH cũng gây ảnh  
hưởng đến thành tế bào vi khuẩn. Các nhóm  
hợp chất này sẽ xuyên qua thành tế bào vi  
khuẩn sau đó bám chặt vào những cấu trúc  
ở kích thước phân tử trong tế bào vi sinh vật  
như protein và glycoprotein, điều này làm rối  
loạn quá trình sinh tổng hợp của các vi sinh  
vật đó gây chết vi sinh vật [26].  
xanh đối với vi khuẩn V. parahaemoliticus  
giá trị MIC bằng 312 mg/mL [28].  
IV. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ  
Chiết xuất lá trứng cá ethanol 70% có  
đường kính vòng kháng khuẩn lớn nhất đạt  
18,00 ± 0,00 mm. Tiếp theo, chiết xuất lá  
trứng cá ethanol 90% là 17,33 ± 0,58 mm  
và chiết xuất dịch tươi là 13,00 ± 0,00 mm.  
Giá trị MIC của chiết xuất lá trứng cá  
ethanol 90%, chiết xuất lá trứng cá ethanol  
70% lần lượt là 5.120 mg/L, 10.240 mg/L.  
Chiết xuất hành tây bằng ethanol 90%, 70%  
là 40.960 mg/L. Chiết xuất thù lù ethanol  
90%, 70% là 81.920 mg/L.  
Thí nghiệm nghiên cứu thảo dược kháng  
V. parahaemolyticus trong điều kiện in vitro.  
Do đó, chúng ta cần nghiên cứu gây cảm  
nhiễm và thăm dò hiệu quả của chiết xuất lá  
trứng cá kháng khuẩn V. parahaemolyticus  
gây bệnh hoại tử gan tụy cấp tính trên tôm  
thẻ chân trắng; xác định liều lượng thảo dược  
hợp lí đưa vào thức ăn trong quá trình phòng  
trị bệnh trong môi trường thí nghiệm và ngoài  
thực địa.  
F. Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của  
chiết xuất thảo dược lên vi khuẩn V. para-  
haemolyticus gây bệnh bệnh hoại tử gan tụy  
cấp tính trên tôm  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Hình 4: Kết quả nồng độ ức chế tối thiểu  
(MIC) của chiết xuất thảo dược  
[1] VFS. Báo cáo ngành Thủy sản. Phòng Nghiên cứu  
phân tích (Vietfirst Securitiest). Công ty Cổ phần  
chứng khoán Nhất Việt. 2018.  
[2] Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Sản xuất  
thủy sản 10 tháng đầu năm tăng 5,5%. Viện Kinh tế  
và Quy hoạch thủy sản. 2019.  
Kết quả thí nghiệm với chiết xuất ethanol  
70% giá trị MIC thấp nhất ở chiết xuất lá  
trứng cá (5.120 mg/L) và cao nhất là chiết  
xuất thù lù (81.920 mg/L). Chiết xuất ethanol  
90% giá trị MIC thấp nhất ở chiết xuất lá  
trứng cá (10.240 mg/L) và cao nhất là chiết  
xuất thù lù (81.920 mg/L). Khả năng kháng  
khuẩn V. parahaemolyticus của chiết xuất lá  
trứng cá cao hơn so với nghiên cứu của Hồng  
Mộng Huyền và cộng sự [13], nồng độ MIC  
của cây thầu dầu là 2,5 mg/mL. Ngoài ra,  
nghiên cứu cây chó đẻ thân xanh trên vi  
khuẩn V. parahaemolyticus gây bệnh hoại tử  
gan tụy cấp tính cho thấy: kết quả MIC là 125  
mg/mL [27]. Cao chiết của cây chó đẻ thân  
[3] Eduardo M. Leano, Mohan C.V., Early Mortality  
Syndrome (EMS)/ Acute Hepatopancreatic Necrosis  
Syndrome (AHPNS): An emrging threat in the Asian  
shrimp industry NACA, Bangkok, ThaiLand. FAO  
Fisheries and Aquaculture Report. 2012;1053:54.  
[4] Panakorn S. Opinion article: more on early mortality  
syndrome in the shrimp. Aquaculture Asia Pacific.  
2012;8(1): 8-10.  
[5] Cục Thống kê Trà Vinh. Tình hình kinh tế - xã hội  
tỉnh Trà Vinh quý I năm 2019. 2019.  
[6] Tran L, Nunan L, Redman R M, Mohney L L, Pantoja  
C. R, Fitzsimmons K, Lightner D V. Determination of  
the infectious nature of the agent of acute hepatopan-  
creatic necrosis syndrome affecting penaeid shrimp.  
Dis. Aquat. 2013.  
[7] Brown J. Antibiotics: their use and abuse in aquacul-  
ture. World Aquac. 1989;20(2):34 - 43.  
87  
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 38, THÁNG 6 NĂM 2020  
NÔNG NGHIỆP - THỦY SẢN  
[8] Cos P, Vlietinck A.J., Berghe D.V., Maes L. Anti-  
infective potential of natural products: How to de-  
velop a stronger in vitro ‘proof of concept’. Journal  
of Ethnopharmacology. 2006;106(3):290 – 302.  
[9] Mahesh B., Satish S. Antimicrobial activity of some  
important medicinal plant against plant and human  
pathogens. World Journal of Agricultural Sciences.  
2008;4:839-843.  
[10] Trị Thủy. Các nghiên cứu thảo mộc trong nuôi  
tuc/full/Cac-nghien-cuu-thao-moc-trong-nuoi-trong-  
thuy-san-22402.html [Ngày truy cập: 25/03/2020].  
[11] Su Y. C., Liu C. Vibrio parahaemolyticus: a con-  
cern of seafood safety. Food Microbiology. 2007; 24,  
549e558. 75.  
[21] Puguh Surijowar, Sarwiyono, Imam Thohari, Aswah  
Ridhowi. Quantitative and qualitative phytochemicals  
analysis of Muntingia calabura. Ethnopharm. Ter-  
nak Tropikat Journal of Tropical Animal Production.  
2014;15(2):7-14.  
[22] S.A. Aina, A.D. Banjo, O.A. Lawal, K. Jonathan. Ef-  
ficacy of Some Plant Extracts on Anopheles gambiae  
Mosquito Larvae. Academic Journal of Entomology  
2. 2009;(1):31-35.  
[23] Đỗ Thị Thanh Trung, Phạm Thị Vui, Nguyễn Huyền  
Trang, Phạm Vinh Hoa, Nguyễn Thị Thanh Thi, Phạm  
Thị Lương Hằng, Phạm Bảo Yên. Đánh giá khả năng  
ức chế vi khuẩn Helicobacter pylori của một số dịch  
chiết thảo dược Việt Nam. Tạp chí Khoa học Công  
nghệ Việt Nam. 2018;60(7):23-27.  
[24] Lê Phượng Hiệp. Khảo sát khả năng ức chế vi khuẩn  
gây bệnh mụn trứng cá Propionibacterium acnes của  
cao chiết từ cây Trứng cá (Muntingia calabura L)  
[Khóa luận tốt nghiệp]. Trường Đại học Tây Đô;  
2017.  
[12] Nguyễn Công Tráng, Ngô Thị Kim Cúc, Phan Ngọc  
Thịnh. Khả năng kháng Vibrio parahaemolyticus của  
dịch trích cây trâm bầu (Combretum quadrangulare)  
trong điều kiện in vitro. Tạp chí Khoa học Trường  
Đại học An Giang. 2018;19(1):1-6.  
[25] Cushnie, Andrew. Antimicrobial activity of flavonoid.  
International Journal of Antimicrobial Agent.  
2005;26:343-356.  
[26] Immin P., Sinning C. H. and Meyer A. Drugs, their  
targets and the nature and number of drug targets.  
Drug Discovery. 2006;5:821-834.  
[27] Trần Vinh Phương, Hoàng Thị Ngọc Hân, Đặng  
Thanh Long, Phạm Thị Hải Yến, Nguyễn Quang  
Linh, 2019. Hoạt tính kháng khuẩn của dịch chiết  
từ cây chó để thân xanh (Phyllanthus amarus) đối  
với vi khuẩn Vibrio parahaemolitycus và Vibrio sp.  
gây bệnh hoại tử gan tụy cấp trên tôm chân trắng  
(Litopenaeus vannamei). Tạp chí Khoa học Đại học  
Huế: Khoa học Tự nhiên. 2019;128(1E):99-106.  
[28] Hai Thanh Nguyen, Lua T.Dang, Hanh Thi Nguyen,  
Hai Ha Hoang, Ha Thi Ngoc Lai, Ha Thi Thanh  
Nguyen. Screening antibacterial effects of Viet-  
namese plant extracts against pathogens caused acute  
hepatopancreatic necrosis disease in shrimps. Asian  
Journal of Pharmaceutical and Clinical Research.  
2018;11(5):77.  
[13] Hồng Mộng Huyền, Võ Tấn Huy, Trần Thị Tuyết Hoa.  
Hoạt tính kháng khuẩn của một số cao chiết thảo dược  
kháng vi khuẩn gây bệnh ở tôm nuôi. Tạp chí Khoa  
học Trường Đại học Cần Thơ. 2018;Số chuyên đề:  
Thủy sản(2):143-150.  
[14] Angela Di Pinto, Valentina Terio, Lucia Nov-  
ello, Giuseppina Tantillo. Comparison between  
thiosulphate-citrate-bile salt sucrose (TCBS) agar  
and CHROMagar Vibrio for isolating Vibrio para-  
haemolyticus. Food Control xxx. 2010;1 e 4.  
[15] Lê Xuân Phương. Thí nghiệm vi sinh vật học. Hà Nội:  
Nhà Xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội; 2008.  
[16] Nguyễn Văn Đàn, Nguyễn Viết Tựu. Phương pháp  
nghiên cứu hóa học cây thuốc. Thành phố Hồ Chí  
Minh: Nhà Xuất bản Y học; 1985.  
[17] Bộ Y tế. Dược điển Việt Nam IV. Hà Nội: Nhà Xuất  
bản Y học Hà Nội; 2009; PL1.1.  
[18] Marie B. Coyle. Manual of Antimicrobial Suscep-  
tibility Testing. Library of Congress Cataloging-in-  
Publication Data. 2005.  
[19] Mary Jane Ferraro. Antimicrobial Susceptibility Test-  
ing: A Review of General Principles and Contempo-  
rary Practices. 2009;49(11):1749-1755.  
[20] Schillinger V., Luke, K.K. Antibacterial activity of  
Lactobacillus sake isolated from meat. Appl. Environ.  
1989; 55:1091-1096.  
88  
pdf 7 trang yennguyen 23240 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoạt tính kháng khuẩn của chiết xuất thảo dược lên vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus gây bệnh hoại tử gan tụy cấp tính trên tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamie) trong điều kiện in vitro", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoat_tinh_khang_khuan_cua_chiet_xuat_thao_duoc_len_vi_khuan.pdf