Thử nghiệm tạo biofloc từ nguồn vi sinh tự nhiên cho ương giống tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vanamei Boone, 1931) tại tỉnh Thừa Thiên Huế
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 130, Số 1A, 117–123, 2021
THỬ NGHIỆM TẠO BIOFLOC TỪ NGUỒN VI SINH TỰ NHIÊN
CHO ƯƠNG GIỐNG TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vanamei
Boone, 1931) TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
1
1
1
2
3
Lê Công Tuấn , Tề Minh Sơn , Đoàn Thị Mỹ Lành , Nguyễn Hoàng Lộc *, Nguyễn Đức Huy
1 Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế, 77 Nguyễn Huệ, Huế, Việt Nam
2 Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế, 77 Nguyễn Huệ, Huế, Việt Nam
3 Viện Công nghệ sinh học, Đại học Huế, Quốc lộ 10, Phú Vang, Thừa Thiên Huế, Việt Nam
* Tác giả liên hệ Nguyễn Hoàng Lộc <[email protected].vn>
(Ngày nhận bài: 13-07-2020; Ngày chấp nhận đăng: 02-10-2020)
Tóm tắt. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm hiểu khả năng hình thành biofloc để duy trì sự ổn
định của môi trường nước trong hệ thống ương giống tôm thẻ chân trắng. Một tổ hợp vi sinh phát triển
từ nguồn nước tự nhiên được sử dụng để so sánh với đối chứng có bổ sung chế phẩm vi sinh công
nghiệp. Thí nghiệm được tiến hành trong điều kiện hạn chế ánh sáng mặt trời trong 24 ngày, không có
sự trao đổi nước và có bổ sung rỉ mật hàng ngày để làm nguồn carbon (tỷ lệ C/N ở mức 15:1). Tổ hợp
+
–
biofloc hình thành đã kiểm soát lượng NH4 và NO2 bằng quá trình đồng hóa dị dưỡng và nitrat hóa.
Trong suốt quá trình thí nghiệm, hàm lượng N–NH4 và N–NO2 của hệ thống biofloc được duy trì ở mức
an toàn đối với tôm con, lần lượt là 0,99 ± 0,02 mg·L–1 và 0,49 ± 0,08 mg·L–1. Ở mật độ nuôi 400 con·m–3,
khối lượng tôm tăng từ 0,01 đến 0,59 g·con–1 sau 24 ngày nuôi ở tất cả các bể với tỷ lệ sống đạt 82,5%.
Từ khóa: biofloc, tôm thẻ chân trắng, ương giống, vi sinh tự nhiên
Evaluation of biofloc from saltwater bacteria community for white-leg
shrimp (Litopenaeus vanamei Boone, 1931) culture in Thua Thien Hue
1
1
1
2
3
Le Cong Tuan , Te Minh Son , Doan Thi My Lanh , Nguyen Hoang Loc *, Nguyen Duc Huy
1 Department of Environmental Science, University of Sciences, Hue University, 77 Nguyen Hue St., Hue Vietnam
2 Department of Biology, University of Sciences, Hue University, 77 Nguyen Hue St., Hue, Vietnam
3I nstitute of Biotechnology, Hue University, Rd. 10, Phu Vang, Thua Thien Hue, Vietnam
* Correspondence to Nguyen Hoang Loc <[email protected]>
(Received: 13 July 2020; Accepted: 02 October 2020)
Abstract. This study was conducted to investigate the formation of biofloc in maintaining the stability
of the water quality in the white-leg shrimp nursery system. A treatment unit using microorganisms
from natural water was conducted to compare with a control supplemented with commercial probiotics.
The experiment was conducted under the conditions of limited sunlight for 24 days without water
exchange and with daily molasses addition as a carbon source (the C/N ratio is 15:1). The resulting biofloc
+
–
complex could control the increase of NH4 and NO2 via heterotrophic assimilation and nitrification.
During the experiments, the N–NH4 and N–NO2 concentrations of the biofloc system maintain a safe
range for the juveniles at 0.99 ± 0,02 and 0.49 ± 0.08 mg·L–1, respectively. At the culture density of 400
DOI: 10.26459/hueunijns.v130i1A.5914
117
Lê Công Tuấn và CS.
shrimp·m–3, the shrimp weight increases from 0.01 g to 0.59 g per shrimp on the 24th day of culture for
all culture tanks with a survival rate of 82.5%.
Keywords: biofloc, shrimp nursery, saltwater bacteria, white-leg shrimp
mức độ nào đó trong nuôi cá [10, 11]. Tuy nhiên,
1
Giới thiệu
hiện nay việc ứng dụng công nghệ biofloc vào nuôi
tôm thẻ chân trắng ở Việt Nam đang gặp khó khăn
từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên
nhân về chất lượng chế phẩm vi sinh đang sử dụng
trong công nghệ nuôi được nhiều người quan tâm.
Đã có một số nghiên cứu trên thế giới và ở Việt
Nam nhằm khai thác và sử dụng tài nguyên vi sinh
vật bản địa để ứng dụng vào trong công nghệ
biofloc vì vi sinh vật bản địa thích nghi với điều
kiện môi trường, khí hậu, hiệu quả xử lý cao hơn
và giúp tiết kiệm chi phí [12-14]. Do đó, để đánh
giá khả năng thích nghi của công nghệ mới này
trong giai đoạn đầu nuôi tôm tại tỉnh Thừa Thiên
Huế, chúng tôi đã nghiên cứu sự biến động chất
lượng nước và đánh giá được khả năng tăng
trưởng và tỷ lệ sống của tôm nuôi trong hệ thống
thí nghiệm.
Một trong những công nghệ có tiềm năng
tạo ra sản lượng cao từ nuôi trồng thủy hải sản,
đồng thời đảm bảo sự bền vững về mặt môi
trường, kinh tế và xã hội là công nghệ biofloc [1, 2].
Biofloc là kỹ thuật huyền phù và được phát triển
trong những năm 80 của thế kỷ XX. Công nghệ này
dựa trên việc duy trì các nhóm vi khuẩn trong
huyền phù ở mật độ cao bằng cách cung cấp không
khí liên tục [3]. Quá trình cung cấp không khí liên
tục cho quá trình phân hủy hiếu khí các chất hữu
cơ, thức ăn thừa, phân tôm, v.v. trong ao nuôi đi
kèm sự phát triển của quần thể vi sinh vật dị dưỡng
đa dạng và lơ lửng [4]. Quần thể vi sinh vật dị
dưỡng giúp kiểm soát chất lượng nước, đồng thời
là nguồn thức ăn giàu protein cho tôm và có thể
đóng vai trò như một biện pháp thay thế để kiểm
soát mầm bệnh [5, 6]. Về mặt lý thuyết, hệ thống
vận hành thông qua việc bổ sung nguồn carbon để
tăng tỷ lệ C/N, từ đó, tăng cường chuyển đổi ni tơ
vô cơ thành sinh khối của vi sinh vật [4]. Các vi sinh
vật sử dụng carbohydrate làm nguồn năng lượng
để tạo ra các tế bào mới và ni tơ được sử dụng để
tổng hợp protein, đây cũng là yếu tố chính trong
sự hình thành các tế bào mới [4]. Do đó, bản chất
của công nghệ biofloc là một quá trình vi sinh vật
cơ bản, sử dụng carbohydrate đi kèm với việc cố
định ni tơ vô cơ [4]. Tỷ lệ C/N cao (10–20) được
khuyến nghị sử dụng để phát triển biofloc và loại
bỏ ammoni hiệu quả [5, 6]. Điều này có thể đạt
được bằng cách thêm các nguồn carbon khác nhau
có sẵn tại địa phương (rỉ mật, đường mía, v.v.) và
sử dụng thức ăn có hàm lượng ni tơ thấp [4, 5].
2
Vật liệu và phương pháp
2.1
Thiết kế thí nghiệm và thả tôm
Thí nghiệm được tiến hành trong bể nhựa
(composite) với dung tích 500 L. Nhóm bể thí
nghiệm để tạo biofloc tự nhiên bao gồm ba bể
không bổ sung chế phẩm vi sinh công nghiệp và
nhóm bể đối chứng (ĐC) là ba bể có bổ sung. Nước
máy đã loại clo được pha trộn với nước biển có độ
mặn 32‰, đạt nồng độ muối khoảng 20‰ để làm
môi trường nuôi tôm và phát triển hệ biofloc. Sử
dụng máy thổi khí 150 W (IP-X8; lưu lượng 300
L/phút; Lifetech, Trung Quốc) để khuấy trộn cột
nước và sục khí liên tục, đảm bảo nồng độ ô xi hòa
tan (DO) thích hợp cho sự sinh trưởng của tôm và
vi sinh vật. Trước khi thả tôm, nhóm bể đối chứng
được bổ sung chế phẩm vi sinh công nghiệp đậm
đặc bao gồm ba loại vi khuẩn là Bacillus spp.
Lợi ích của công nghệ biofloc so với các
phương thức truyền thống về mặt hiệu quả sử
dụng và chất lượng nước cho nuôi đã được chứng
minh thành công trong nuôi tôm [4, 7-9] và ở một
7
5
(3,37×10 CFU/g), Nitrobacter spp. (6,85×10 CFU/g)
118
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 130, Số 1A, 117–123, 2021
5
và Nitrosomonas spp. (3,95×10 CFU/g), rỉ mật được
LG (%) = ((L2 – L1)/ L1 × 100
(4)
(5)
bổ sung hàng ngày làm nguồn carbon để duy trì tỷ
lệ C/N ở mức 15. Tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus
vanamei) với giống sử dụng là potstlarve 12, có khối
–1
DGR-L (cm.d ) = (L2 – L1)/N
Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) = Khối lượng thức
ăn sử dụng/Mức tăng khối lượng tôm
–1
lượng trung bình 0,01 g·con và được thả với mật
–3
độ 400 con·m . Tôm được kiểm tra bệnh trước khi
trong đó W1 là khối lượng tôm ban đầu (g); W2 là
khối lượng tôm sau khi kết thúc thí nghiệm (g); L1
là chiều dài tôm ban đầu (cm); L2 là chiều dài tôm
sau thu mẫu (cm); N là thời gian thí nghiệm (ngày);
SR là tỉ lệ sống; DGR-W là tốc độ tăng khối lượng;
WG là mức tăng khối lượng tương đối; DGR-L là
tốc độ tăng chiều dài; LG là mức tăng chiều dài
tương đối.
thực hiện nghiên cứu, thời gian tiến hành thí
nghiệm nuôi là trong vòng 24 ngày. Trong thời
gian thí nghiệm, nước không được trao đổi trong
các bể biofloc. Tôm trong bể biofloc và bể đối
chứng được cho ăn hàng ngày bằng thức ăn viên
chế biến từ các nguyên liệu sẵn có tại địa phương
(protein thô ≥42%, độ ẩm 11%, lipid thô: 6–8%, tro:
12,21 ± 0,68%, P tổng số: 1–1,5%) ở mức 3% khối
lượng cơ thể.
2.4
Phân tích thống kê
Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm
2.2
Đánh giá các thông số chất lượng
nước
thống kê IBM SPSS v. 20, Microsoft office Excel
2019. Sự thay đổi về hàm lượng chất dinh dưỡng
và tổng chất rắn lơ lửng sẽ được đánh giá bằng
phân tích phương sai với mức xác suất 95%.
Trong thời gian thử nghiệm, nhiệt độ nước,
DO (HI 9142; Hanna; Hoa Kỳ), pH (EcoSense
pH100A, YSI, Hoa Kỳ) được xác định hàng ngày.
Các mẫu nước (100 mL) được thu thập từ mỗi bể
và được lọc qua giấy lọc GF/F lỗ 0,45 µm đã sấy
khô và cân trước; giấy lọc được sử dụng để xác
định tổng chất rắn lơ lửng (TSS). Hàm lượng ni tơ
amoni (N–NH4) và ni tơ nitrit (N–NO2) của mẫu
nước sau lọc được xác định bằng phương pháp
chuẩn của APHA [15] và phương pháp trắc quang
bằng máy quang phổ (UV1800, Shizuma, Nhật
Bản).
3
Kết quả và thảo luận
3.1
Đánh giá biến động chất lượng nước
Trong hệ thử nghiệm, nhiệt độ nước (30,1 ±
–1
1,3 °C), DO (7,5 ± 0,2 mg·L ) và pH (7,5 ± 0,1) đều
nằm trong giới hạn chấp nhận đối với nuôi tôm thẻ
chân trắng vùng nhiệt đới [21] và cũng ghi nhận
các giá trị tương đương của nhiệt độ (30,1 ± 1,1 °C),
–1
DO (7,4 ± 0,2 mg·L ) và pH (7,6 ± 0,1) cũng nằm
trong bể đối chứng (Bảng 1). Do quá trình sục khí
liên tục nên DO luôn ở mức cao trong cả hai nhóm
bể thử nghiệm và đối chứng và cũng là kết quả của
quá trình nitrat hóa, kết hợp với quá trình cố định
ni tơ thông qua con đường dị dưỡng để sản xuất vi
sinh vật chưa phổ biến trong giai đoạn đầu phát
triển của tôm [16]. Giá trị pH thường liên quan khi
có quá trình nitrat hóa trong hệ thống dựa trên tổ
hợp biofloc [16-18]. Tuy nhiên, pH vẫn gần như ổn
định trong suốt thời gian thử nghiệm (Hình 1).
2.3
Đánh giá khả năng sống sót và tăng
trưởng của tôm thẻ chân trắng
Vào cuối giai đoạn thí nghiệm, tôm được thu
hoạch từ mỗi bể, xác định khối lượng và chiều dài
cơ thể. Các thông số tăng trưởng được tính theo các
phương trình (1–5)
SR (%) = 100 × (số lượng tôm cuối cùng/số lượng
tôm ban đầu)
(1)
WG (%) = (W2 – W1)/W1 × 100
(2)
–1
DGR-W (g·d ) = (W2 – W1)/N
(3)
DOI: 10.26459/hueunijns.v130i1A.5914
119
Lê Công Tuấn và CS.
Bảng 1. Các thông số chất lượng nước trong hệ biofloc
Hai dạng ni tơ vô cơ N–NO2 và N–NH4 có sự
thay đổi đáng kể liên quan đến điều kiện xử lý và
dao động rộng trong toàn bộ thời gian thử nghiệm
(Hình 2). Hàm lượng N–NO2 có xu hướng tăng dần
trong hai hệ thử nghiệm và đối chứng lần lượt đạt
và đối chứng (ĐC)
Hệ xử lý
Thông số
Biofloc
Đối chứng
30,1 ± 1,1
7,4 ± 0,2
–1
2,31 ± 0,23 và 2,55 ± 0,17 mg·L ghi nhận ở ngày
Nhiệt độ (°C)
DO (mg·L–1)
pH
30,1 ± 1,3
7,5 ± 0,2
hoạt động thứ 24 của hệ thống (Hình 2). Hàm
lượng N–NH4 có xu hướng biến động tăng giảm
trong qua trình thử nghiệm. Hàm lượng N–NH4
giảm dần sau ngày thứ 8, cho thấy mức độ nitrat
hóa thấp hơn, sau đó tăng dần và đạt mức cao nhất
7,5 ± 0,1
7,6 ± 0,1
N–NH4 (mg·L–1)
N–NO2 (mg·L–1)
TSS (mg·L–1)
0,99 ± 0,02
0,49 ± 0,08
24,9 ± 4,2
0,98 ± 0,02
0,46 ± 0,07
29,7 ± 5,8
–1
tại ngày thứ 17 ở hàm lượng 2,3 ± 0,12 mg·L và
–1
1,98 ± 0,15 mg·L . Nhìn chung, động lực học của
hai dạng ni tơ vô cơ trong hệ thống biofloc cho thấy
sự tích lũy hàm lượng nitrit và thủy phân chất hữu
cơ thành amoni thông qua quá trình nitrat hóa [4,
19].
Dữ liệu được trình bày ở dưới dạng trung bình ± SD (độ
lệch chuẩn), (p < 0,05).
Trong suốt quá trình nuôi thử nghiệm, hàm
lượng N – NH4 và N – NO2 của hệ thống biofloc
được duy trì ở mức an toàn đối với tôm con so sánh
với các nghiên cứu trước đây, lần lượt nhỏ hơn 2
–1
–1
–1
mg/L (0,99 ± 0,02 mg·L ) và 4,5 mg·L (0,49 ±0,08
–1
mg·L ) [21
Hàm lượng TSS trong hệ thử nghiệm và hệ
đối chứng lần lượt là 24,9 ± 4,2 và 29,7 ± 5,8 mg·L .
Hình 1. Biến thiên của pH của hệ biofloc và đối chứng
–1
trong thời gian thử nghiệm
TSS tăng dần cùng với mức độ dao động cao diễn
ra trong suốt thời gian thử nghiệm (Bảng 1 và
Hình 3).
Hình 2. Biến động giá trị N–NH4 và N–NO2 trong bể biofloc và đối chứng
(Số liệu được biểu diễn dưới dạng trung bình ± SD của ba bể mỗi nhóm)
120
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 130, Số 1A, 117–123, 2021
Bảng 2. Chiều dài trung bình của tôm thẻ chân trắng ở
các hệ thống nghiên cứu
Chỉ tiêu
Biofloc
Đối chứng
Chiều dài tôm ban đầu
(cm)
0,85 ± 0,09a
0,84 ± 0,09a
Chiều dài tôm thu
hoạch (cm)
5,45 ± 0,97ab
0,2 ± 0,0a
4,22 ± 1,04ab
0,1 ± 0,0a
Tốc độ tăng trưởng về
chiều dài (cm·d–1)
Hình 3. Tổng chất rắn lơ lửng trong nhóm bể biofloc
và đối chứng (Số liệu được biểu diễn dưới dạng trung
bình ± SD)
Mức tăng chiều dài
tương đối (%·d–1)
7,7 ± 0,3a
6,7 ± 0,32a
Các giá trị trên cùng một hàng có các ký tự giống nhau
3.2
Tốc độ tăng trưởng của tôm thẻ chân trắng
thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Tăng trưởng về chiều dài
Tôm ban đầu có kích thước nhỏ và tương đối
đồng đều. Vì vậy, chiều dài ban đầu của tôm giữa
hai hệ thống không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
với chiều dài ban đầu nằm trong khoảng 0,7–1 cm.
Trong suốt quá trình nghiên cứu, chiều dài của tôm
tăng như nhau trong hai nghiệm thức. Chiều dài
của tôm khi thu hoạch có sự khác biệt giữa hai
nghiệm thức nhưng không lớn. Tôm nuôi trong hệ
thống thử nghiệm có chiều dài (5,45 ± 0,97 cm) cao
hơn so với tôm nuôi trong hệ thống đối chứng (4,22
± 1,04 cm), sai khác này có ý nghĩa thống kê (p <
0,05) (Bảng 2).
Tăng trưởng về khối lượng
Khối lượng ban đầu của tôm thẻ chân trắng
giữa các hệ thống là gần bằng nhau và không có sự
khác biệt về mặt thống kê (p > 0,05). Khối lượng
tôm sau 25 ngày nuôi khá đồng đều (trung bình
0,59 g/con) và không có sự sai khác về mức tăng
khối lượng tôm giũa hai hệ thống thử nghiệm và
đối chứng (Bảng 3). Tốc độ tăng trưởng của tôm
nuôi trong hệ thống nghiên cứu là thấp hơn so với
thực tế ương tôm của là do mật độ tôm thả là lớn
hơn.
Bảng 3. Khối lượng trung bình của tôm thẻ chân trắng ở hai hệ thống
Chỉ tiêu
Biofloc
Đối chứng
0,01
Khối lượng tôm ban đầu (g)
Khối lượng tôm thu hoạch (g)
Tốc độ tăng trưởng khối lượng (g·d–1)
Mức tăng khối lượng tương đối (%·d–1)
0,01
0,59 ± 0,01a
0,02 ± 0,01a
17,0 ± 0,01a
0,59 ± 0,02a
0,02 ± 0,01a
17,8 ± 0,01a
Các giá trị trên cùng một hàng có các ký tự giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
Bảng 4. Hệ số chuyển đổi thức ăn ở các nghiệm thức
Hệ số chuyển đổi thức ăn trong thí nghiệm
khá thấp, với FCR dao động trong khoảng 0,83–
0,85 và không có sự sai khác về mặt thống kê giữa
FCR của lô thí nghiệm và lô đối chứng (p > 0,05)
(Bảng 4). Trong điều kiện nuôi thâm canh, hệ số
Chỉ tiêu
Biofloc
Đối chứng
FCR
0,83 ± 0,01a
0,85 ± 0,05a
Các giá trị trên cùng một hàng có các ký tự giống nhau
thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
DOI: 10.26459/hueunijns.v130i1A.5914
121
Lê Công Tuấn và CS.
chuyển hóa thức ăn của tôm thẻ chân trắng dao
động từ 1,1 đến 1,3 [20]. Như vậy, lượng thức ăn
sử dụng trong nghiên cứu nuôi tôm bằng công
nghệ biofloc này là thấp hơn so với việc nuôi tôm
thông thường. Điều này cho thấy tổ hợp biofloc đã
có vai trò cung cấp một lượng thức ăn bổ sung cho
tôm [5, 6]
4
Kết luận
Kết quả của nghiên cứu này cho thấy rằng
trong giai đoạn đầu của nuôi tôm thẻ chân trắng,
việc bổ sung các chế phẩm vi sinh để cải thiện chất
lượng nguồn nước là chưa cần thiết.
(1) Trong tháng đầu tiên của nuôi tôm thẻ chân
trắng, các thông số cơ bản của môi trường
nước nuôi như pH, DO, nhiệt độ của hai hệ
thống biofloc tự nhiên (thí nghiệm) và có bổ
sung chế phẩm vi sinh công nghiệp (ĐC)
không có sự khác biệt (p < 0,05).
Tỷ lệ sống của tôm thẻ chân trắng
Tỷ lệ sống của tôm sau 24 ngày nuôi ở cả hai
hệ thống là gần bằng nhau và không có sai khác về
mặt thống kê (p > 0,05). Tỉ lệ sống trung bình của
tôm trong hệ biofloc là 82,5 ± 2,5% và trong hệ đối
chứng là 82,8 ± 3,01% (Bảng 5). So sánh với nghiên
cứu Tạ Văn Phương và cs. [13], nuôi tôm thẻ chân
trắng theo công nghệ biofloc trong vòng 60 ngày
thì tỷ lệ sống của tôm đạt 75,0–97,3% với mật độ
(2) Trong suốt quá trình nuôi thí nghiệm, hàm
lượng N – NH4 và N – NO2 của hệ thống thí
nghiệm được duy trì ở mức an toàn đối với
–1
tôm giống, lần lượt nhỏ hơn 2 mg/L (0,99 ±
–1
–1
–1
0,02 mg·L ) và 4,5 mg·L (0,49 ±0,08 mg·L )
–3
thả 150 con·m . Theo Xu và cs. [9], ương tôm thẻ
–3
(3) Với mật độ độ nuôi 400 con·m , khối lượng
chân trắng theo công nghệ biofloc với tỉ lệ C/N từ
–1
tôm ban đầu là 0,01 g·con ở tất cả các bể của
lô thí nghiệm và lô đối chứng, sau 25 ngày
nuôi cho thấy sự tăng trưởng về khối lượng
–3
12:1 đến 15:1, với mật độ thả 600 con.m thì sau 6
tuần tỷ lệ sống là trên 95,5% và không có sự khác
biệt giữa các hệ bể.
–1
lên đến 0,59 g·con với tỷ lệ sống đạt 82,5%.
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p
> 0,05) về tỷ lệ sống của tôm thẻ chân trắng giữa hệ
thống thử nghiệm (82,5 ± 2,5%) và đối chứng (82,8
± 3,01%). Đồng thời, mức tăng trọng của tôm nuôi
trong hệ thống thử nghiệm (117%) không có sự
khác biệt đáng kể (p > 0,05) so với tôm nuôi trong
hệ thống đối chứng (117,8%). Tương tự, tốc độ tăng
trưởng theo ngày cũng không có sự khác biệt giữa
Thông tin tài trợ
Nghiên cứu này được thực hiện với sự tài trợ
của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam thông qua
đề tài Khoa học và công nghệ mã số B2019-DHH-
08.
Tài liệu tham khảo
–1
hai hệ thống (p > 0,05), đều là 0,02 g·d . Tỷ lệ sống
và tăng trưởng cao của tôm thẻ chân trắng cho thấy
sự đóng góp đáng kể của hệ biofloc tự nhiên trong
việc hỗ trợ sinh trưởng của tôm.
1. De Schryver P, Crab R, Defoirdt T, Boon N,
Verstraete W. The basics of bio-flocs technology: The
added value for aquaculture. Aquaculture.
2008;277(3-4):125-137.
Bảng 5. Tỷ lệ sống của tôm ở hai hệ thống thử
nghiệm và đối chứng
2. Crab R, Defoirdt T, Bossier P, Verstraete W. Biofloc
technology in aquaculture: Beneficial effects and
future challenges. Aquaculture. 2012;356-357:351-
356.
Chỉ tiêu
Biofloc
Đối chứng
Tỷ lệ sống (%)
82,5 ± 2,5a
82,8 ± 3,01a
3. Avnimelech Y, Weber B, Hepher B, Milstein A, Zorn
M. Studies in circulated fish ponds: organic matter
Các giá trị trên cùng một hàng có các ký tự giống nhau
thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
122
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 130, Số 1A, 117–123, 2021
recycling and nitrogen transformation. Aquaculture
Research. 1986;17(4):231-242.
xuất. Bản tin viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản.
2013;13-15.
4. Avnimelech Y. Carbon/nitrogen ratio as a control
element in aquacultures systems. Aquaculture.
1999;176:227-235.
13. Phương TV. Nghiên cứu nuôi tôm thẻ chân trắng
theo quy trình biofloc với mật độ và độ mặn khác
nhau. Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ, Số
chuyên đề: Thủy sản. 2014;2:44-53.
5. Hargreaves JA. Photosynthetic suspended-growth
systems in aquaculture. Aquacultural Engineering.
2006;34(3):344-363.
14. Nhung VTN. Nghiên cứu một số nguồn
Carbonhydrate tạo biofloc để nuôi tôm thẻ chân
trắng (Litopenaeus vannamei). Tạp chí khoa học
Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh.
2017;14:149 -160.
6. Crab R, Avnimelech Y, Defoirdt T, Bossier P,
Verstraete W. Nitrogen removal techniques in
aquaculture for
a
sustainable production.
Aquaculture. 2007;270(1-4):1-14.
15. Rice EW, Baird RB, Eaton AD. Standard methods for
the examination of water and wastewater. 23rd
Edition. Washington, DC (US): American Public
Health Association (APHA); 2017. 1796 p.
7. Burford MA, Thompson PJ, McIntosh RP, Bauman
RH, Pearson DC. Nutrient and microbial dynamics
in high-intensity, zero-exchange shrimp ponds in
Belize. Aquaculture. 2003;219(1-4):393-411.
16. Azim M, Little D. The biofloc (BFT) indoor tanks:
Water quality, biofloc composition and growth and
welfare of Nile tilapia (Oreochromis niloticus).
Aquaculture. 2008;283(1-4):29-35.
8. Zhao P, Huang J, Wang X, Song X, Yang C, Zhang X,
et al. The application of bioflocs technology in high‐
intensive, zero exchange farming systems
of Marsupenaeus japonicus. Aquaculture. 2012;354-
355:97-106.
17. Azim M, Little D, Bron J. Microbial protein
production in activated suspension tanks
manipulating C:N ratio in feed and the implications
9. Xu W, Morris TC, Samocha TM. Effects of C/N on
for fish culture.
2008;99(9):3590-3599.
Bioresource Technology.
biofloc
development,
water
quality
and
performance of Litopenaeus vannamei juveniles in a
biofloc-based, high-density, zezo exchange, outdoor
tank system. Aquaculture. 2016;453:169-175.
18. Da Silva KR, Wasielesky W, Abreu PC. Nitrogen and
phosphorus dynamic in the biofloc production of
the Pacific White Shirmp, Litopenaeus vannamei.
Journal of the World Aquaculture Society.
2013;44(1):30-41.
10. Pérez-Fuentes JA, Hernández-Vergara MP, Pérez-
Rostro CI, Fogel I. C:N ratios affect nitrogen and
production of Nile tilapia Oreochromis niloticus
raised in a biofloc system under high density
cultivation. Aquaculture. 2016;452:247-251.
19. Burford MA, Thompson PJ, McIntosh RP, Bauman
RH, Pearson DC. The contribution of flocculated
material to shirmp (Litopenaeus vannamei) nutrition
11. Việt LQ. Ứng dụng biofloc nuôi tôm thẻ chân trắng
(Litopenaeus vannamei) với mật độ khác nhau kết
hợp với cá rô phi (Oreochromis niloticus). Tạp chí
khoa học Trường Đại học Cần Thơ, Phần B: Nông
nghiệp, Thủy sản và Công nghệ sinh học. 2015;38:44-
52.
in
a
high-intensity zero-exchange system.
Aquaculture. 2004;232(1-4):525-537.
20. Avnimelech Y. Feeding with microbial flocs by
tilapia in minimal discharge bio-flocs technology
ponds. Aquaculture. 2007;264(1-4):140-147.
21. Chen J, Chin T. Accute oxicty of nitritee to tiger
prawn, Penaeus monodon, larvae. Aquaculture.
1988;69(3-4):253-262.
12. Hiền NTT, Huấn NV. Nghiên cứu ứng dụng công
nghệ Biofloc trong nuôi thâm canh tôm thẻ chân
trắng Penaeus (Litopenaeus vannamei) quy mô sản
DOI: 10.26459/hueunijns.v130i1A.5914
123
Bạn đang xem tài liệu "Thử nghiệm tạo biofloc từ nguồn vi sinh tự nhiên cho ương giống tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vanamei Boone, 1931) tại tỉnh Thừa Thiên Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
thu_nghiem_tao_biofloc_tu_nguon_vi_sinh_tu_nhien_cho_uong_gi.pdf

