Độ tiêu hoá biểu kiến của các nguyên liệu làm thức ăn đối với cá giò (Rachycentron canadum) thịt

VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
ĐỘ TIÊU HOÁ BIỂU KIẾN CỦA CÁC NGUYÊN LIỆU LÀM THỨC  
ĂN ĐỐI VỚI CÁ GIÒ (Rachycentron canadum) THỊT  
Lê Hữu Hiệp1*, Vũ Anh Tuấn1, Trần Quốc Bình1,  
Nguyễn Thúy An1, Lê Văn Trúc1  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu này đánh giá khả năng tiêu hóa biểu kiến của cá giò thịt đối với 4 nguyên liệu trong  
nước (bột cá Cà Mau, bột tôm, bột mì, bột đậu nành nguyên hạt rang, xay) và 5 nguyên liệu ngoại  
nhập (bột cá Chilê, bột gia cầm, bột xương thịt heo, bột mực, bột sò). Crom oxit được dùng làm  
chất đánh dấu và sử dụng phương pháp vuốt để thu phân. Độ tiêu hóa chất khô đối với các nguyên  
liệu có nguồn gốc động vật từ 63,5%-91,6%, các nguyên liệu thực vật từ 64-72,2%. Độ tiêu hóa chất  
khô của cá đối với bột cá Cà Mau (91,6 %) cao hơn so với những nguyên liệu còn lại (P<0,05). Các  
nguyên liệu còn lại có độ tiêu hóa chất khô ở mức trung gian trong khi bột cá Chilê có giá trị thấp  
nhất (63,5 %). Độ tiêu hóa biểu kiến với protein đạt trên 90 % ở các nguyên liệu bột cá Cà Mau và  
bột sò cao hơn bột cá Chilê (74,8 %) (P<0,05) trong khi bột mực và bột mì chỉ đạt 52,2 % và 57,7 %.  
Giá trị độ tiêu hoá lipid của bột đậu nành cùng với bột sò rất cao, lần lượt là 91,4% và 93%. Giá trị  
độ tiêu hóa tro cao nhất được tìm thấy ở bột gia cầm (93,6 %) và bột mực (90,4 %). Những thông  
tin về độ tiêu hóa nguyên liệu trong nghiên cứu góp phần vào việc lựa chọn nguyên liệu thích hợp  
để phối trộn công thức thức ăn cá giò với các mức dưỡng chất thích hợp để cá tăng trưởng tối đa.  
Từ khóa: Cá giò, độ tiêu hóa, nguyên liệu nguồn gốc động vật, nguyên liệu nguồn gốc thực vật  
I. MỞ ĐẦU  
thức ăn là cá tạp. Tuy nhiên, nguồn cá tạp đánh  
Trong những năm gần đây, cá giò đã trở thành  
đối tượng nuôi quan trọng trong lồng bè ven biển  
ở các tỉnh Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An,  
Khánh Hòa,Vũng Tàu, Kiên Giang, đồng thời  
cũng đang có những thử nghiệm nuôi loài cá này  
trong ao ở Bạc Liêu. Cá có tốc độ sinh trưởng  
nhanh, từ con giống cỡ 20-25 gam sau một năm  
nuôi cá có thể đạt kích cỡ thương phẩm 4-5 kg  
(Dương Tử, 2014). Bên cạnh vấn đề con giống  
đã được giải quyết thông qua những tiến bộ trong  
sản xuất giống nhân tạo thay cho con giống tự  
nhiên thì vấn đề khó khăn tiếp theo khi phát triển  
loài cá có nhu cầu protein cao này là thức ăn.  
Từ trước đến nay, hầu hết các lồng nuôi sử dụng  
bꢀt được ngày càng giảm do cạn kiệt cũng như  
chi phí cộng thêm trong bảo quản, thì nhu cầu  
sử dụng thức ăn viên đã được đặt ra khi nghề  
nuôi phát triển ở mức thâm canh ngày một cao.  
Hiện tại, nguồn thức ăn viên cho cá giò do các  
công ty nước ngoài cung cấp khá hạn chế và giá  
cao. Vì vậy, đề tài KC.06.15/06-10 “Nghiên cứu  
sản xuất thức ăn công nghiệp nuôi thương phẩm  
cá chẽm (Lates calcarifer), cá giò (Rachycentron  
canadium) phục vụ xuất khẩu” đã nghiên cứu sản  
xuất thức ăn viên để thay thế cá tạp trong nuôi cá  
giò. Báo cáo này là một phần trong nghiên cứu  
nhằm tìm ra các loại nguyên liệu thích hợp dùng  
để phối trộn trong công thức thức ăn cá giò.  
1 Phân Viện Nghiên cứu Thủy sản Minh Hải, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2.  
* Email: [email protected]  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
135  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
2.1 Chuẩn bị cá thí nghiệm  
Xác định khả năng tiêu hóa các dưỡng chất  
là bước đầu tiên để đánh giá tiềm năng của  
nguyên liệu để sử dụng trong công thức thức  
ăn của loài nuôi (Allan và ctv, 2000). Những  
thông tin về độ tiêu hóa nguyên liệu không  
những có giá trị cho việc phối trộn công thức  
với các mức dưỡng chất thích hợp để cá tăng  
trưởng tối đa mà còn giảm thiểu chất thải của  
cá qua đó góp phần bảo vệ môi trường nuôi  
(Lee, 2002). Những nghiên cứu gần đây về  
độ tiêu hóa nguyên liệu trên cá giò giống (10  
g) cho thấy loài này có khả năng sử dụng tốt  
nguồn protein và lipid từ nguyên liệu có nguồn  
gốc thực vật và động vật. Tuy nhiên, khả năng  
tiêu hóa của cá hạn chế đối với các nguyên liệu  
thực vật có thành phần carbohydrate cao (Zhou  
và ctv, 2004).  
Cá giò (Rachycentron canadum) có khối  
lượng 494,33 ± 32,16 g được sử dụng cho thí  
nghiệm. Trước khi thí nghiệm cá được nuôi  
trong giai đặt trong ao và cho ăn thức ăn viên.  
Cá được bꢀt cho vào bể ximăng và tꢀm với  
formaline 100 ppm trong 15 phút. Chỉ có những  
cá thể có kích cỡ đồng đều và khoẻ mạnh (không  
bị dị tật, không xây xát) mới được sử dụng. Mỗi  
bể bố trí 6 con cá.  
2.2 Hệ thống nuôi, nguồn nước và kiểm  
tra chất lượng nước  
30 bể thể tích 1.300L chia thành ba khối  
tương ứng với ba lần lặp lại cho 10 công thức  
thí nghiệm với hệ thống nước bán tuần hoàn.  
Nước được lưu thông với tốc độ 40 L/giờ và  
mực nước được giữ ở mức 900 L ở mỗi bể.  
Trong suốt thời gian thí nghiệm, nhiệt độ được  
Ở nước ta, nguồn nguyên liệu cho thức ăn  
thủy sản tương đối đa dạng với các nguyên liệu  
trong nước như: bột cá địa phương, bột ruốc,  
bột đậu nành, bột cám gạo, bột bꢀp, bột khoai  
mì. Ngoài ra, một số nguyên liệu ngoại nhập  
đang được sử dụng phổ biến như: bột lông vũ  
thủy phân, bột phụ phẩm gia cầm, bột xương  
thịt heo, bột mực, bột gan sò. Mặc dù nguồn  
nguyên liệu tương đối đa dạng nhưng đến nay  
việc nghiên cứu, đánh giá khả năng tiêu hoá  
của cá giò thịt với các nguyên liệu này chưa  
có. Nghiên cứu này tìm hiểu khả năng tiêu hoá  
chất khô, protein, lipid, tro, ở cá giò thịt với các  
nguyên liệu sử dụng phổ biến trong thức ăn thủy  
sản gồm 4 nguyên liệu trong nước (bột cá Cà  
Mau, bột tôm, bột mì, bột đậu nành nguyên hạt  
rang, xay) và 5 nguyên liệu ngoại nhập (bột cá  
Chilê, bột gia cầm, bột xương thịt heo, bột mực,  
bột sò).  
duy trì trong khoảng 25,59 – 29,32 o  
C, độ mặn  
từ 13 – 15 ‰, pH từ 7,26 -7, 52, và oxy hoà tan  
từ 5,01 - 6,19 mg.l-1 .  
2.3 Công thức thức ăn  
Mười công thức thức ăn được chuẩn bị bao  
gồm 1 công thức đối chứng (GT1- Giò Thịt 1)  
và 9 công thức kiểm tra (GT2-GT10). Thức ăn  
thí nghiệm gồm 69,7 % thức ăn chuẩn (RD-  
Reference diet), và 29,3 % nguyên liệu cần kiểm  
tra (TD-Test diet) (Bảng 1). Crôm ôxit (Cr2O3)  
được cho thêm vào để làm chất đánh dấu với  
lượng 10 g/kg thức ăn ở cả công thức đối chứng  
và kiểm tra.  
2.4 Cho ăn và thu phân  
Trước khi thí nghiệm, cá giò được cho ăn  
thức ăn thí nghiệm 2 lần/ngày trong 5 ngày trước  
khi thu phân. Khi bꢀt đầu thu phân, cá được cho  
ăn lúc 5 giờ và 12 giờ. Sau khi cho ăn 1 giờ, vệ  
sinh bể và xi phông thức ăn dư. Sau 4 giờ từ  
lúc cho ăn, cá bꢀt đầu được vuốt phân. Trước  
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP  
Thí nghiệm đã được tiến hành tại Trại Thực  
nghiệm Thủy sản Bạc Liêu từ 01-15/01/2009.  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
136  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
khi vuốt phân, cho cá vào thau chứa nước sạch pháp tiêu chuẩn (AOAC, 1995) ở Trung tâm  
và gây mê bằng Ethanolphennoxyl với lượng 5 Công nghệ sau Thu hoạch - Viện Nghiên cứu  
ppm trong thời gian 5-15 phút. Cá được đặt lên Nuôi trồng Thủy sản 2. Protein thô được xác định  
bàn có tấm vải mềm, sau đó dùng ngón tay trỏ bằng phương pháp Kjeldahl, lipid được xác định  
và ngón giữa vuốt từ giữa bụng cá về sau. Phân bằng phương pháp Soxhlet, xơ được phân tích  
cá được hứng vào lọ nhựa. Sau khi vuốt xong cá bằng phương pháp Weende. Thành phần crom  
được thả lại vào bể thí nghiệm. Tiếp tục cho cá oxit được xác định tại Đại học Cần Thơ theo  
ăn và ngày hôm sau tiếp tục vuốt đến khi đủ số phương pháp của Furukawa và Tsukahara (1966).  
lượng để phân tích (5g trọng lượng khô trong mỗi  
bể). Phân cá được bảo quản trong tủ đông - 200C.  
2.6 Tính toán độ tiêu hóa biểu kiến  
Độ tiêu hoá biểu kiến (ADCs) của nguyên  
liệu đối chứng và nguyên liệu kiểm tra được  
2.5 Phân tích hoá học  
Nguyên liệu khô, protein, lipid, và tro trong tính toán dựa trên phương pháp được mô tả bởi  
thức ăn và trong phân được xác định theo phương De Silva và Anderson (1995).  
• ADC đối với vật chất khô (ADCD)  
% Chất đánh dấu trong thức ăn  
ADCD (%) =  
% Chất đánh dấu trong phân  
• ADCs đối với dưỡng chất hoặc năng lượng  
% Chất đánh dấu trong thức ăn  
F
x
ADCDs Năng lượng hoặc dưỡng chất (%)  
=
D
% Chất đánh dấu trong phân  
F là % chất dinh dưỡng hoặc năng lượng trong phân, D là % chất dinh dưỡng hoặc năng lượng  
trong thức ăn.  
(
a + b  
)
x ADCcom − a x ADCref  
+ Độ tiêu hoá biểu kiến ADingr (%) =  
b
2.7 Phân tích thống kê  
Trong đó: a = phần trăm chất dinh dưỡng  
trong thức ăn chuẩn nhân tỷ lệ của thức ăn chuẩn  
(100 – i); i là tỷ lệ thực liệu đưa vào thức ăn; b =  
phần trăm chất dinh dưỡng trong thực liệu nhân  
với tỷ lệ của thực liệu đưa vào thức ăn (i); (a  
+ b) là phần trăm chất dinh dưỡng trong khẩu  
phần thức ăn hỗn hợp. ADCingr là độ tiêu hoá  
biểu kiến đối với nguyên liệu, ADCcom là độ tiêu  
hoá biểu kiến đối với thức ăn hỗn hợp, ADCref  
là độ tiêu hoá biểu kiến đối với thức ăn chuẩn.  
Số liệu ở dạng phần trăm được chuyển  
sang dạng arsin trước khi xử lý ANOVA một  
nhân tố. Khi giá trị trung bình có sự sai khác có  
ý nghĩa, Tukey test được sử dụng để xác định  
sự khác nhau có ý nghĩa giữa các nghiệm thức  
ở độ tin cậy 0,05. Phần mềm sử dụng là SPSS  
Version 15.0.  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
137  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
138  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
III. KẾT QUẢ  
protein thô, lipid thô, chất tro của các nguyên  
liệu kiểm tra có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt  
thống kê (P<0,05). Độ tiêu hóa chất khô của cá  
đối với bột cá Cà Mau (91,6 %) cao hơn so với  
những nguyên liệu còn lại (P<0,05). Các nguyên  
liệu còn lại có ADDM ở mức trung gian trong  
khi bột cá Chilê có giá trị thấp nhất (63,5 %).  
Thành phần sinh hóa của nguỵên liệu kiểm  
tra được trình bày ở bảng 2. Khả năng tiêu hóa  
biểu kiến của cá đối với chất khô, protein thô,  
lipid thô, chất tro của nguyên liệu kiểm tra được  
thể hiện ở bảng 3. Kết quả cho thấy, khả năng  
tiêu hóa biểu kiến của cá giò đối với chất khô,  
Bảng 2. Thành phần dinh dưỡng nguyên liệu  
Nguyên liệu  
Bột cá (Chilê)  
Bột cá (Cà Mau)  
Bột gia cầm  
Bột xương thịt  
Bột mực  
Ẩm  
Protein Lipid  
Xơ  
1,6  
0,9  
2,1  
3,3  
6,3  
3,3  
5,3  
2,0  
9,7  
Tro  
Ca  
Phos NEF  
13,65  
12,33  
9,09  
7,56  
9,87  
9,10  
10,53  
13,52  
6,14  
71,5  
69,9  
69,9  
60,2  
48,7  
55,5  
61,4  
13,1  
41,8  
9,2  
17,2  
18,7  
13,8  
25,0  
16,5  
14,9  
19,6  
0,5  
1,8  
3,6  
5,2  
7,1  
5,4  
1,9  
5,0  
1,4  
0,3  
2,3  
2,8  
2,7  
4,4  
0,7  
1,4  
1,6  
0,1  
0,6  
2,1  
6,2  
5,2  
12,8  
9,9  
3,4  
4,9  
13,2  
11,6  
0,4  
21,6  
18,0  
18,7  
84,0  
35,5  
Bột sò  
Bột tôm  
Bột mì  
2,4  
Bột đậu nành nguyên hạt  
17,2  
5,5  
(NEF: nitrogen-free extract)  
Độ tiêu hóa biểu kiến với protein đạt trên 90,0 % ở các nguyên liệu bột cá Cà Mau và bột sò,  
cao hơn có ý nghĩa thống kê so với bột cá Chilê (74,8 %) (P<0,05), trong khi giá trị này ở bột mực  
và bột mì chỉ đạt 52,2 % và 57,7 %. Các nguyên liệu khác có ADP ở mức trung gian.  
Bảng 3. Khả năng tiêu hóa biểu kiến của cá  
Nguyên liệu  
Bột cá Chi lê  
Bột cá Cà Mau  
Bột gia cầm  
Bột xương thịt  
Bột mực  
ADDM  
ADP  
ADL  
ADA  
63,5 ± 3,37a  
91,6 ± 1,99c  
72,8 ± 2,28ab  
65,2 ± 5,05a  
70,3 ± 0,72ab  
74,3 ± 3,66ab  
82,1 ± 3,33bc  
64,0 ± 1,49a  
72,2 ± 1,66ab  
74,8 ± 5,55 bc  
93,2 ± 1,70d  
84,4 ± 2,26 cd  
71,5 ± 1,09bc  
52,2 ± 1,10a  
92,9 ± 1,35d  
74,2 ± 3,27bc  
57,7 ± 5,12ab  
74,5 ± 2,02bc  
48,3 ± 12,2b  
37,1 ± 0,3ab  
38,9± 3,9b  
67,3 ± 1,1c  
50,6 ± 2,2b  
93,0 ± 2,5d  
72,9 ± 4,0c  
21,2 ± 5,9a  
91,4 ± 1,2 d  
60,6 ± 11,16ab  
51,0± 1,17a  
93,6 ± 1,31c  
61,1 ± 7,99ab  
90,4 ± 2,15c  
62,0 ± 3,63ab  
80,9 ± 2,71bc  
54,8 ± 2,91a  
53,6 ± 3,18a  
Bột sò  
Bột tôm  
Bột mì  
Bột đậu nành nguyên hạt  
ADDM: khả năng tiêu hóa biểu kiến chất khô; ADP: Khả năng tiêu hóa protein; ADL: Khả  
năng tiêu hó lipid; ADA: Khả năng tiêu hóa tro  
* Trong cùng một cột các giá trị khác nhau chữ số mũ thì khác nhau có ý nghĩa về thống kê  
(P<0,05).  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
139  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
Mặc dù ADDM và ADP của bột đậu nành và ctv., (2004), mặc dù hàm lượng protein thô  
nhìn chung thấp hơn những nguyên liệu khác của bột gia cầm cao hơn (69,9 %) so với trong  
nhưng giá trị độ tiêu hoá lipid của nguyên liệu nghiên cứu của Zhou (61,3%). Việc sử dụng bột  
này cùng với bột sò lại rất cao, lần lượt là 91,4% gia cầm để thay thế một phần bột cá đã được  
và 93%. Giá trị ADL của bột xương thịt heo và thực hiện ở cá chẽm bạc Dicentrarchus labras  
bột tôm thì tương tự nhau (P>0,05). Giá trị ADL (Alexis, 1997) và cá vược Úc Pagrus auratus  
thấp hơn ở cá khi cho ăn với bột mực, bột gia (Quartaro và ctv., 1998). So với những nguồn  
cầm và bột cá Chilê trong khẩu phần (bảng 4).  
protein động vật không phải ở biển, bột xương  
thịt gia cầm có hàm lượng protein và độ tiêu hóa  
protein gần tương tự với bột cá (Yu, 2007).  
Giá trị ADA cao nhất được tìm thấy ở bột  
gia cầm (93,6 %) và bột mực (90,4 %). Bột cá  
Cà Mau (51,0 %), bột mì (54,8 %), bột đậu nành  
Bột xương thịt có giá trị ADDM và ADP  
nguyên hạt (53,6 %) có giá trị ADA thấp hơn thấp hơn so với bột gia cầm, tuy nhiên giá trị  
một cách có ý nghĩa (P < 0,05) so với những ADP lại cao hơn. Bột xương thịt heo đã được  
nguyên liệu còn lại.  
sử dụng trong nhiều công thức thức ăn cho cá  
(Davies và ctv., 1991; Kikuchi và ctv, 1997;  
Robaina và ctv., 1997; Shimeno và ctv., 1993)  
nhưng tiềm năng của việc sử dụng bột xương  
thịt như là nguồn nguyên liệu trong thức ăn cho  
cá vẫn còn nhiều hạn chế. Trong nghiên cứu này,  
các giá trị ADC của bột xương thịt đều ở mức  
trung bình. William và ctv., (1999) cho rằng bột  
thịt có thể thay thế hoàn toàn bột cá trong khẩu  
phần thức ăn cho cá chẽm mà không làm thay  
đổi tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và  
chất lượng thịt cá.  
IV. THẢO LUẬN  
Giá trị ADP của bột cá Cà Mau (93,2%)  
cao hơn có ý nghĩa so với bột cá Chilê (73,8%)  
trong nghiên cứu này. Bột cá Cà Mau có hàm  
lượng protein thô (69,9 %) tương đương bột cá  
Chilê (71,5 %) và có khả năng tiêu hóa của cá  
giò đối với chất khô (91,6 %) cao hơn so với  
bột cá Chilê (63,5 %). Qua đó cho thấy bột cá  
Cà Mau hoàn toàn có thể thay thế cho nguồn  
bột cá ngoại nhập ngày một khan hiếm. Những  
nghiên cứu khác trong cùng lĩnh vực đã cho  
thấy bột cá được sử dụng hiệu quả ở các loài  
cá ăn động vật. Chẳng hạn như, bột cá Peru có  
giá trị ADP 96,27 % đối với cá giò giống (Zhou  
và ctv., 2004); bột cá menhaden ở cá hồng Mꢁ  
(Sciaenop ocelatus) là 95,9 % (McGoogan và  
Reigh,1996), bột cá Đan Mạch có ADP 87,9 %  
đối với cá chẽm Lates calcarifer (William và  
ctv., 1998), bột cá Thái Lan có ADP 92,8 % với  
cá chẽm giống (Boonyaratpalin và William,  
1998), bột cá Pakistan có ADP 77,92 % ở cá  
rohu Labeo rohita (Gul và ctv., 2007).  
Bột sò có các giá trị ADCs rất cao, cao  
hơn bột cá. Chưa có nhiều nghiên cứu về khả  
năng tiêu hóa bột sò trên các đối tượng thủy sản  
nhưng qua kết quả nghiên cứu này cho thấy đây  
là nguyên liệu có tiềm năng để sử dụng trong  
công thức thức ăn thủy sản.  
Bột mực có độ tiêu hóa tương đối thấp  
so với những nguyên liệu khác nhưng có tác  
dụng dẫn dụ tôm cá rất mạnh do chứa tỷ lệ  
cao glycine và betaine (Lê Thanh Hùng, 2008).  
ADP trên cá hồng (Sparus aurata) là 87,1%  
(Lupatsch và ctv., 1997). Việc sử dụng bột  
mực trong khẩu phần thức ăn cá đã được thực  
hiện ở một vài loài cá như cá hồng Mꢁ (Sparus  
aurata) (Lupatsch và ctv., 1997), cá chẽm Nhật  
Giá trị ADP và ADL của bột gia cầm trong  
nghiên cứu này (72,8-84,4%) đều thấp hơn so  
với mức 80,0 – 92,1 % được báo cáo bởi Zhou  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
140  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
Bản (Lateolabrax japonicus ) (Mai và ctv., 2006). với bột xương thịt gia cầm thủy phân, bột sò,  
Điều này cho thấy bột mực cũng là một nguồn bột đậu nành rang, xay được tiêu hóa tốt ở cá  
nguyên liệu đầy triển vọng để thay thế bột giò, cho thấy đây là những nguồn nguyên liệu  
cá trong khẩu phần, tuy nhiên tỷ lệ sử dụng đầy triển vọng để thay thế bột cá ngoại nhập  
nguyên liệu này còn thấp. Trong nghiên cứu trong khẩu phần thức ăn cá giò.  
này, giá trị ADC của bột mực với các hợp phần  
LỜI CÁM ƠN  
dao động từ 52,2 – 92,4 %.  
Nhóm tác giả chân thành cám ơn sự hỗ trợ  
Bột tôm có protein thô 61,4 % và có độ tiêu  
tài chính từ đề tài KC.06.15/06-10 do Bộ Khoa  
hóa tương đương với bột sò. Bột tôm là nguồn  
Học và Công Nghệ quản lý. Chúng tôi xin gửi  
cung cấp acid béo w3, cholesterol và astaxanthin  
lòng biết ơn đến TS. Yu Yu đã cung cấp bột gia  
(tạo màu cho thịt và da cá), đồng thời cũng là  
cầm cho thí nghiệm.  
một chất dẫn dụ tốt (Lê Thanh Hùng, 2008).  
Bột mì cho thấy được tiêu hóa tương đối  
thấp ở cá giò thịt với các giá trị ADCD (64 %),  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
protein (57,7 %), lipid (21,2 %), chất tro (54,8  
Tài liệu tiếng Việt  
%). Những nghiên cứu khác cho thấy giá trị  
Dương Tử, 2014. Nuôi cá bớp năng suất cao. Tạp chí  
thủy sản Việt Nam, tháng7-2014.  
ADC cao của bột mì. Chẳng hạn như trên cá  
tráp (Sparus aurata) là 82 % (Lupatsch, 1997);  
ở cá hồng Mꢁ (Sciaenops ocelatus) là 96,8 %  
(Gaylord và Gatlin, 1996).  
Lê Thanh Hùng, 2008. Thức ăn và dinh dưỡng thuỷ  
sản, Nhà xuất bản Nông Nghiệp, 70 trang  
Tài liệu tiếng Anh  
Đối với nguyên liệu kiểm tra có nguồn gốc  
thực vật, bột đậu nành nguyên hạt cho thấy rất  
hứa hẹn như là một nguyên liệu trong công  
thức thức ăn cá giò. Nguyên liệu này có giá trị  
ADCs cao đối với chất khô (72,2 %), protein  
(74,5 %), lipid (91,4 %), chất tro (53,6 %).  
Không có những báo cáo trước đây về độ tiêu  
hoá biểu kiến của bột đậu nành ở cá giò, nguyên  
liệu này có ADP ở cá trác đuôi vàng (Seriola  
quinqueradiata) là 83,2 % (Masumota và ctv.,  
1996) và ở cá chẽm (Lates calcarifer) là 84,8  
% (McMeniman, 2002). Vì vậy, bột đậu nành  
nguyên hạt, rang, xay cho thấy là nguồn protein  
thay thế rất hứa hẹn trong công thức thức ăn cá  
giò, đặc biệt là chỉ số ADP khá cao.  
Allan, G.L., Parkinson, S., Booth, M. A., Stone, D.A.J.,  
Rowland, S.J., Frances, J., Warner-Smith, R., 2000.  
Replacement of fish meal in diets for Australian  
silver perch, Bidyanus bidyanus: I. Digestibility of  
alternative ingredients. Aquaculture 186, 293– 310.  
Alexis, M.N., 1997. Fish meal and fish oil replacers  
in Mediterranean marine fish diets. In: A. Tacon.,  
B. Barsureo. (Eds.), Feeding tomorrow’s fish.  
Proceedings of workshop of the CIHEAM  
net work on technology of aquaculture in the  
Mediterranean., CIHEAM, Zagaroza, Spain, pp.  
183-204  
AOAC, 1995. Official Methods of Analysis of AOAC,  
16th edn. In: Helric, K. (Ed.), Association of  
Analytical Chemist, Inc., Arlington, VA.  
Boonyaratpalin M., William K., 1998. Asian Sea Bass,  
Lates calcarifer. In: Webster C.D., Lim C.E.  
(Eds.), Nutrient Requirements and Feeding of  
Finfish for Aquaculture, pp. 48-51.  
V. KẾT LUẬN  
Nghiên cứu cho thấy rằng cá giò có khả  
năng sử dụng hiệu quả protein từ nguồn nguyên  
liệu động vật và thực vật. Bột cá Cà Mau cùng  
Davies, S.J. I., Nengas., M. Alexis, 1991. Patial subs-  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
141  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
titution of fish meal with different meat meal pro-  
McGoogan, B.B., R. C., Reigh, 1996. Apparent  
digestibility of selected ingredients in red drum  
(Sciaenops ocellatus) diets. Aquaculture 141,  
233-234.  
ducts in diets for sea bream (Sparus aurata). In:  
S. J. Kaushik., P. Luquet. (Eds.), Fish nutrition in  
practice. Institut National de la recherchc Agrono-  
mique, Paris, pp. 907-911  
McMeniman, N.P., Williams, K.C., 2002. The  
digestion and utilization of some protein meals  
by barramundi (Lates calcarifer). Aquaculture  
(submitted).  
De Silva, S.S., Anderson, T.A., 1995. Fish Nutrition in  
Aquaculture, Chapman & Hall.  
Furukawa and Tsukahara, 1966. Chromium oxidate de-  
termination. Bull. Japan. Socicial scientific Fish-  
ies, N. 32, 502-506  
Quartaro, N. G. L.,Allan, J. D., Bell, 1998. Replacement  
of fish meal in diets forAustralian snapper, Pagrus  
auratus. Aquaculture 166, 279-295.  
Gaylord, T.G., Gatlin, D.M., 1996. Determination of  
digestibility coefficients of various feedstuffs for  
red drum (Sciaenops ocellatus). Aquaculture 139,  
303–314.  
Robaina, L. F. J., Moyano, M. S., Izquierdo, J.,  
Socorro, J. M., Vergara, D., Montero, 1997.  
Corn gluten and meat-and-bone meals as protein  
sources in diets for gilthead seabream ( Sparus  
aurata): nutritional and histological implications.  
Aquaculture 157, 347-359.  
Gul, Y. M., Salim, B., Rabbani, 2007. Evaluation of  
apparent digestibility coefficients of different  
dietary protein levels with and without fish meal  
for Labeo rohita. In: Fisheries, D.o.Z.a. (Ed.),  
Department of Zoology and Fisheries. University  
of Agriculture, Faisalabad, Pakistan, pp. 121-125.  
Shimeno, S. T., Masumoto, T., Hujita, T., Mima, S.,  
Ueno, 1993. Alternative protein sources for fish  
meal in diets of young yellowtail. Nippon Suisan  
Gakkaishi 59, 137-143.  
Lupatsch, I., Kissil, G.W., Sklan, D., Pfeffer, E.,  
1997. Apparent digestibility coefficients of feed  
ingredients and their predictability in compound  
diets for gilthead seabream, Sparus aurata.  
Aquaculture Nutrition, 3, 81–89.  
Yu, 2007. Fishmeal replacements - Studies show  
rendered protein meals effective in aquafeeds.  
Global Aquaculture Advocate 10(05), 80-82.  
William, K.C., Barlow, C.G., D’Souza, F., 1998.  
Larval penaeid and grow-out finfish nutritional  
research in Australia. In: Rimmer, M.a.W., K.C  
(Ed.), Proceedings of ACIAR-NACA Grouper  
Aquaculture Workshop Bangkok, Thailand, pp.  
26-35.  
Lee, S.M., 2002. Apparent digestibility coefficients of  
various feed ingredients for juvenile and grower  
rockfish (Sebastes schlegeli). Aquaculture 207,  
79–95.  
Mai Kangsen, Huitao Li, Qinghui Ai, Qingyuan Duan,  
Wei Xu, Chunxiao Zhang, Lu Zhang, Beiping  
Tan, Zhiguo Liufu, 2006. Effects of dietary squid  
visceramealongrowthandcadmiumaccumulation  
in tissues of Japanese seabass, Lateolabrax  
japonicus (Cuvier 1828). Aquaculture Research,  
Volume 37, Issue 11, 1063 – 1069.  
William, K.C., Barlow C.G., Rogers L., McMeniman,  
N., Johnston, W., 1999. High performance grow-  
out pelleted diets for cage culture of barramundi  
Lates calcarifer, Proceeding of the First  
Iternational Symposium on Cage Culture in Asia,  
Tungkang, Taiwan, pp. 29.  
Masumoto, T., Ruchimat, T., Ito, Hosokawa, H.,  
Shimeno, S.T., 1996. Amino acid availability  
values for several protein sources for yellowtail  
(Seriola quinqueradiata). Aquaculture, 146(1–2),  
109–119.  
Zhou Qi-cun, Bei-Ping Tan, et al., 2004. Apparent di-  
gestibility of selected feed ingredients for juvenile  
cobia Rachycentron canadum. Aquaculture 214,  
441-451.  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
142  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
APPARENT DIGESTIBILITY OF COMMON AND ALTERNATIVE FEED  
INGREDIENTS BY JUVENILE COBIA (Rachycentron canadum)  
Le Huu Hiep1*, Vu Anh Tuan1, Tran Quoc Binh1,  
Nguyen Thuy An1, Le Van Truc1  
ABSTRACT  
This study examined the apparent digestibility of four local ingredients (Camau fish meal, shrimp head  
meal, flour meal, whole soybean roasted meal) and five imported ingredients (Chilean fish meal, poultry-  
by product meal, meat and bone meal, scallop liver powder, squid liver powder) when fed to cobia juve-  
niles. Chromium oxide was used as an external indicator and the faeces were collected using stripping  
methods. The dry matter digestibility of ingredients of animal origin was in the range of 63.5 -91.6%,  
while that of plant material was in the range of 64-72.2%. The dry matter digestibility of Camau fish  
meal (91.6%) was significantly higher than that of other materials (P <0.05). The remaining materials  
had the intermediate ADDM value while the Chilean fish meal had the lowest value (63.5%). The appar-  
ent protein digestibility of Camau fish meal (92.2%) and scallop liver powder (93.9%) were significant  
higher than that of Chilean fishmeal (74.8%) (P <0.05). On the other hand, these values of squid liver  
powder and flour meal were as low as 52.2% and 57.7%, respectively. The apparent lipid digestibility  
values of whole soybean meal (91.4%) and scallop liver powder (93%) were much higher than those  
of other ingredients. The high apparent ash digestibility values were found for poultry-by product meal  
(93.6%) and squid liver powder (90.4%). The findings of this study have a significant contribution to the  
selection of appropriate materials for cobia diet formulation for maximum growth of the fish.  
Keywords: Animal ingredients; apparent digestibility; cobia; plant ingredients  
Người phản biện: TS. Nguyễn Thị Ngọc Tĩnh  
Ngày nhận bài: 10/8/2014  
Ngày thông qua phản biện: 26/8/2014  
Ngày duyệt đăng: 05/9/2014  
1 Minh Hai Sub-Institute for Fisheries Research, Research Institute for Aquaculture No 2.  
* Email: [email protected]  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
143  
pdf 9 trang yennguyen 15700 Free
Bạn đang xem tài liệu "Độ tiêu hoá biểu kiến của các nguyên liệu làm thức ăn đối với cá giò (Rachycentron canadum) thịt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdo_tieu_hoa_bieu_kien_cua_cac_nguyen_lieu_lam_thuc_an_doi_vo.pdf