Thiết kế và vận hành hệ thống kín quang phản ứng sinh học để nuôi thâm canh vi tảo biển

VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
THIẾT KẾ VÀ VẬN HÀNH HỆ THỐNG KÍN QUANG PHẢN ỨNG  
SINH HỌC ĐỂ NUÔI THÂM CANH VI TẢO BIỂN  
Đặng Tố Vân Cầm1, Trꢀnh Trung Phi1, Diêu Phạm Hoàng Vy1,  
Lê Thanh Huân1, ĐặngThị Nguyên Nhàn1, Trần Thị Tuyết Lan2  
TÓM TẮT  
Hai kiểu hệ thống kín quang phản ứng sinh học khác nhau được thiết kế tại Trung tâm Quốc gia  
Giống hải sản Nam bộ, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2. Hệ thống tấm bao gồm 12 đơn vị  
nuôi, mỗi đơn vị nuôi có thể tích 72 lít, đường dẫn ánh sáng 10cm. Hệ thống ống bao gồm 6 đơn vị  
nuôi, thể tích 85 lít cho mỗi đơn vị nuôi, được thiết kế bằng ống nhựa acrylic Ф60mm. Cả hai hệ  
thống được vận hành thử nghiệm trên vi tảo biển, loài Nannochloropsis oculata. Ở hệ thống tấm,  
tốc độ sục khí tối ưu ở 0,9-1,0 L/L/phút, tảo đạt mật độ 311x106 tb/mL. Ở hệ thống ống, khí CO2  
đưa vào hệ thống tại điểm giữa đầu bơm và ống ở vị trí thấp nhất, dòng chảy tối ưu ở vận tốc 0,6-0,7  
m/s, tảo đạt đến mật độ 520x106 tb/mL. Kết quả nghiên cứu cho thấy cả hai hệ thống đã thiết kế có  
thể ứng dụng để nuôi thâm canh N. oculata nói riêng và các loài vi tảo biển nói chung nhằm phục  
vụ sản xuất giống hải sản chất lượng cao.  
Từ khóa: hệ thống kín quang phản ứng sinh học, hệ thống ống, hệ thống tấm, Nannochloropsis  
oculata  
I. MỞ ĐẦU  
được sử dụng nhất là Chlorella, Tetraselmis,  
Isochrysis, Pavlova, Phaeodactylum,  
Vi tảo biển là thức ăn tươi sống đặc biệt  
quan trọng cho tất cả các giai đoạn phát triển của  
các loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ, các giai đoạn  
ấu trùng của hầu hết các loài tôm, cá biển và cho  
các động vật phù du. Sản lượng vi tảo sản xuất  
hàng năm cho ngành nuôi trồng thủy sản vào  
năm 1999 là 1000 tấn trọng lượng khô (Muller-  
Feuga, 2004), năm 2009 lên đến vài ngàn tấn  
(Posten, 2009), trong đó 62% cho nhuyễn thể,  
21% cho tôm và 16% cho cá. Tốc độ phát triển  
và tỷ lệ sống của ấu trùng có liên quan mật  
thiết với chất lượng tảo đã sử dụng (Korstad  
và ctv., 1995). Cho đến nay chỉ có khoảng 20  
loài tảo được sử dụng làm thức ăn trong nuôi  
trồng thủy sản (Brown, 2002). Các loài thường  
Chaetoceros, Nannochloropsis, Skeletonema và  
Thalassiosira.  
Ở nước ta, nhu cầu sử dụng vi tảo biển cho  
sản xuất giống hải sản ngày càng nhiều, nhất  
là khi con số các công trꢀnh nghiên cứu sinh  
sản nhân tạo thành công trên nhiều đối tượng  
cá biển, nhuyễn thể ngày càng tăng. Việc nuôi  
không ổn định, rủi ro do bị nhiễm bẩn và tàn  
lụi đột ngột, mật độ thấp là những vấn đề tồn  
tại đối với bất kỳ hoạt động nuôi trồng thủy  
sản nào tùy thuộc vào việc nuôi hàng loạt các  
vi tảo biển. Công nghệ nuôi vi tảo cho đến nay  
vẫn còn lạc hậu, chỉ theo các phương pháp cổ  
truyền, bán liên tục, như nuôi kín trong bịch  
1
2
Trung tâm Quốc gia Giống Hải sản Nam bộ, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2.  
Tổng Cục Thủy Sản  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
73  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
nhựa, nuôi hở trong bể xi măng, bể sợi thủy thống kín quang phản ứng sinh học đó là hệ  
tinh, thậm chí chưa nuôi nhiều trong hệ thống thống tấm và hệ thống ống bởi tính ưu việt về  
raceway, là hệ thống nuôi mà thế giới cho là chi phí lắp đặt và vận hành, nhằm nâng cao  
lạc hậu và nhiều khuyết điểm. Nhiều nước công nghệ nuôi vi tảo biển, không những cho  
trên thế giới như Ý, Úc, Israel… đã từ bỏ công năng suất cao mà còn chất lượng tốt, phục vụ  
nghệ nuôi theo phương pháp cổ truyền từ lâu, cho nhu cầu ngày càng cao của sản xuất giống  
thay vào đó là việc nghiên cứu và ứng dụng hải sản.  
hệ thống nuôi kín quang phản ứng sinh học  
và ngày càng có nhiều kiểu thiết kế khác nhau  
nhằm hoàn thiện và nâng cao công nghệ nuôi.  
Cho đến nay, trên thế giới có 4 kiểu thiết kế  
khác nhau cho 4 loại hệ thống nuôi kín quang  
phản ứng sinh học đó là hệ thống tấm (Zou  
và ctv, 2000; Zhang và ctv, 2001), hệ thống  
ống (Lee và Low, 1991; Grima và ctv, 1996;  
Borowitzka, 1997; Zittelli và ctv, 1999), hệ  
thống hꢀnh vành khuyên (Zittelli và ctv, 2003)  
và hệ thống bảng (Zittelli và ctv, 2000). Tất  
cả 4 kiểu thiết kế khác nhau của hệ thống kín  
quang phản ứng sinh học đều có cùng nguyên  
lý là có độ sâu hoặc chiều rộng cột nước (gọi  
là đường dẫn ánh sáng, light-path) hẹp, nhằm  
đảm bảo sự tồn tại của ánh sáng trong hệ thống  
nuôi, tỷ lệ diện tích/thể tích của hệ thống cao  
và cùng ưu điểm là cho mật độ và năng suất  
cao, ít tốn công lao động, không bị nhiễm  
tạp trong quá trꢀnh nuôi, sinh khối tảo thu đạt  
chất lượng cao (Richmond, 2000; Pulz, 2001;  
Posten, 2009).  
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
2.1. Hệ thống tấm  
Thiết kế hệ thống  
Một đơn vị nuôi trong hệ thống tấm bao  
gồm 2 tấm kiếng thủy tinh dày 10mm, chiều  
dài 120cm, chiều rộng 60cm, đặt song song  
theo chiều thẳng đứng cách nhau 10cm, hàn kín  
mặt đáy và hai mặt xung quanh bằng kiếng dày  
10mm tạo nên hꢀnh hộp chữ nhật, đặt trên giá đỡ  
làm bằng inox. Mặt trên hꢀnh hộp là tấm nhựa  
có nút đậy, là nơi đóng và mở của hệ thống nuôi,  
có 1 lỗ nhỏ cho đường ống khí đi vào. Mặt dưới  
hꢀnh hộp thông với van Ф34 là nơi thu hoạch  
tảo và xả nước khi vệ sinh. Khoảng không gian  
bên trong hꢀnh hộp chữ nhật có thể tích 72 lít  
dùng để nuôi sinh khối. Ống dẫn khí lắp đặt  
bên trong hꢀnh hộp chữ nhật nằm song song với  
cạnh đáy, với lỗ khí có đường kính 0,7-1mm,  
cách nhau 5cm. Đường ống dẫn khí thông với  
cột lọc không khí, từ máy nén khí có công suất  
1,5m3/phút.  
Nhóm nghiên cứu của Bùi Bá Trung và ctv  
(2009) lần đầu tiên đã thiết kế hệ thống nuôi kín  
quang phản ứng sinh học theo nguyên lý của hệ  
thống ống dẫn, nhưng kết quả thử nghiệm nuôi  
N. oculata chỉ nâng lên được mật độ 61x106 tế  
bào/mL. Ngoài ra, Công ty Cổ phần Chăn nuôi  
CP Việt Nam đã sử dụng hệ thống ống nhưng  
nhập hoàn toàn thiết bị để nuôi các loài tảo cho  
ấu trùng tôm biển.  
Hai đơn vị nuôi đặt song trên giá đỡ có  
nguồn sáng ở giữa, khoảng cách từ nguồn sáng  
đến bề mặt đơn vị nuôi là 10cm. Nguồn sáng là  
9 bóng đèn huỳnh quang dài 1,2m, công suất  
40W, tạo thành 3 mức cường độ chiếu sáng khác  
nhau, hộp điều khiển điện gắn bên trên giá đỡ.  
Bốn đơn vị nuôi đặt song song thành 2 tầng trên  
1 giá đỡ, toàn bộ hệ thống có 12 đơn vị nuôi,  
xếp song song thành 3 hàng.  
Nghiên cứu này thiết kế 2 kiểu của hệ  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
74  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
Hꢀnh 1: Sơ đồ thiết kế hệ thống tấm  
(1) Mặt trước và sau, kiếng dày 10mm; (2) tấm đậy và nơi đóng mở của hệ thống; (3) đường  
dẫn khí; (4) lỗ thoát khí; (5) bọt khí; (6) dịch tảo nuôi; (7) giá đỡ hệ thống bằng inox; (8) tấm inox  
chịu lực.  
Thí nghiệm 1: Tối ưu hóa thiết kế hệ thống dinh dưỡng F/2 (Guillard và Ryther, 1962).  
tấm cho N. oculata về tốc độ sục khí  
Tất cả các thí nghiệm được kéo dài cho đến  
Thí nghiệm bao gồm 3 nghiệm thức khác khi tảo ở một trong các nghiệm thức đạt đến pha  
nhau về tốc độ sục khí 0,3-0,4 ; 0,6-0,7 và dừng.  
0,9-1,0 L khí/L nước nuôi/phút (đo bằng flow  
meter), mỗi nghiệm thức được lặp lại 4 lần.  
2.2. Hệ thống ống  
Thiết kế hệ thống  
Điều kiện thí nghiệm: tảo N. oculata  
có nguồn gốc từ phòng thí nghiệm biển  
Dunstaffnagge của CCAP (the Culture  
Collection of Algae and Protozoa, Oban, UK),  
được lưu giữ trong tủ chuyên dụng (hiệu MLR-  
350H, SANYO, Nhật) và nhân giống ở điều  
kiện vô trùng trong bꢀnh thủy tinh 1 và 5 lít.  
Tảo giống cho tất cả các thí nghiệm được lấy  
ở pha tăng trưởng, mật độ ban đầu 20x106 tế  
bào/mL. Nước nuôi có độ mặn 25‰, xử lý diệt  
trùng bằng calcium hypochlorite Ca(OCl)2 nồng  
độ 30ppm, trung hòa bằng sodium thiosulfate  
(Na2S2O3), sau cùng lọc qua cột lọc kích cỡ  
1µm. Cường độ ánh sáng tại bề mặt trong của  
đơn vị nuôi 9.000-10.000 lux (đo bằng máy đo  
cường độ ánh sáng, Sper Scientific 840020, Đài  
loan). Nhiệt độ nước nuôi 28±0.5ºC, môi trường  
Sử dụng ống nhựa acrylic trong suốt  
Ф60mm, chiều dày 2mm, chiều dài 2m. Một  
đơn vị nuôi bao gồm hai dãy ống đặt song song  
và cách nhau 22cm, mỗi dãy bao gồm 6 ống đặt  
theo chiều thẳng đứng và cách nhau 6cm. Các  
ống nối với nhau bởi các co hꢀnh dạng chữ U  
chiều dài 50cm. Ống ở vị trí thấp nhất và cao  
nhất được nối trực tiếp với 2 đầu của đầu bơm  
tạo thành một vòng xoắn kín có chiều dài 34m,  
tạo nên thể tích nuôi 85 lít. Đầu bơm sẽ đẩy  
nước và tảo vào ống ở vị trí thấp nhất chảy qua  
các ống bên trên, đồng thời nước và tảo sẽ bị  
đầu bơm hút về từ ống ở vị trí cao nhất tạo thành  
dòng tuần hoàn liên tục trong hệ thống nuôi.  
Nơi đóng và mở của hệ thống nuôi là 1 van  
Ф60mm nằm giữa ống ở vị trí thấp nhất và đầu  
bơm để thu hoạch tảo hoặc xả nước khi vệ sinh,  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
75  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
2 lỗ Ф60mm có nút đậy bằng lưới nằm giữa ống 2Hp với trục quay có tốc độ 2-10 vòng/giây,  
ở vị trí cao nhất và đầu bơm là nơi cung cấp tương ứng với vận tốc nước chảy trong ống 0,1-  
nước, tảo, chất dinh dưỡng cho hệ thống, đồng 1 m/giây. Mỗi đơn vị nuôi được cung cấp khí  
thời là nơi thoát khí O2. Hệ thống chiếu sáng là CO2 tinh khiết từ bꢀnh CO2 thông qua hộp điều  
12 bóng đèn huỳnh quang dài 1,8 m, công suất khiển tốc độ.  
40W, đặt theo chiều nằm ngang ở giữa hai dãy  
ống và khoảng cách đến mỗi dãy ống là 10cm,  
tạo thành 3 mức cường độ chiếu sáng khác nhau.  
Hai đơn vị nuôi đặt theo chiều thẳng đứng  
thành 2 tầng trên cùng 1 giá đỡ inox, sử dụng  
chung 1 hộp điều khiển điện, toàn bộ hệ thống  
Đầu bơm hút và đẩy được gắn với mô tơ có 6 đơn vị nuôi, xếp song song thành 3 hàng.  
Hꢀnh 2: Sơ đồ thiết kế hệ thống ống  
(1) Ống acrylic trong; (2) ống PVC mờ; (3) co nối hꢀnh chữ U bằng nhựa PVC; (4) đầu bơm;  
(5) motor điện; (6) van thu hoạch; (7) điểm đưa CO2 vào hệ thống; (8) (9) các van chức năng; (10)  
(11) nơi thoát khí O2 và cung cấp dịch nuôi vào hệ thống (11); (12) hướng dòng chảy; (13) giá đỡ  
hệ thống bằng inox.  
Thí nghiệm 2: Tối ưu hóa thiết kế hệ thống 0,5m/giây và 0,6-0,7m/giây. Vận tốc dòng chảy  
ống cho N. oculata về vị trí cung cấp khí CO2.  
được đo theo phương pháp của Molina và ctv  
(2001), Hàm lượng oxy hòa tan (DO) được đo  
bằng máy YSI (model 556 MPS, USA). Mỗi  
nghiệm thức được lặp lại 2 lần.  
Thí nghiệm bao gồm 2 nghiệm thức khác  
nhau về vị trí cung cấp CO2, vị trí 1 thông qua  
nút đậy, đặt tại khoảng giữa ống cao nhất và đầu  
bơm, vị trí 2 tại khoảng giữa đầu bơm và ống  
thấp nhất, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần.  
Điều kiện thí nghiệm tương tự với thí  
nghiệm 1. Hệ thống được cung cấp CO2 tại vị trí  
từ kết quả của thí nghiệm 2.  
Điều kiện thí nghiệm tương tự với thí  
nghiệm 1. Vận tốc dòng chảy trong ống 0,4-  
0,5m/s.  
2.3. Thu thập và xử lý số liệu  
So sánh mật độ và tốc độ tăng trưởng của vi  
tảo N. oculata giữa các nghiệm thức khác nhau  
trong cùng một thí nghiệm.  
Thí nghiệm 3: Tối ưu hóa thiết kế hệ thống  
ống cho N. oculata về vận tốc dòng chảy.  
Thí nghiệm bao gồm 3 nghiệm thức khác  
nhau về vận tốc dòng chảy: 0,2-0,3m/giây, 0,4-  
Mật độ tảo được xác định hàng ngày bằng  
buồng đếm Neubauer Haemocytometer (độ sâu  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
76  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
0.1mm, dùng để đếm các loài vi tảo có kích Sử dụng phân tích Paired-samples T Test  
thước 2-30µm, mật độ 104-107 tb/mL), mật độ (SPSS version 16.0) để so sánh sự khác biệt về  
tảo đo được là giá trị trung bꢀnh của 4 lần đếm.  
tốc độ tăng trưởng của tảo giữa 2 nghiệm thức  
của thí nghiệm 2.  
Xác định tốc độ tăng trưởng (µ) theo công  
thức của Abu-Rezq và ctv (1999)  
III. KẾT QUẢ  
µ = (LnNt-LnNo)/t  
3.1. Hệ thống tấm  
Nt là mật độ tại thời điểm t, No là mật độ tại  
thời điểm ban đầu và t khoảng thời gian (ngày)  
Thí nghiệm 1 được thực hiện nhằm tối ưu  
hóa hệ thống tấm đã thiết kế, thử nghiệm cho  
loài N. oculata ở 3 tốc độ sục khí khác nhau 0,3-  
0,4; 0,6-0,7 và 0,9-1,0 L/L/phút. Kết quả được  
trꢀnh bày ở đồ thị 1.  
Sử dụng phân tích One-Way ANOVA và  
phép thử Duncan (SPSS version 16.0) để so  
sánh sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng của tảo  
giữa 3 nghiệm thức của thí nghiệm 1 và 3.  
Đồ thị 1: Mật độ của N. oculata nuôi trong hệ thống tấm ở 3 tốc độ sục khí khác nhau  
Đồ thị 1 biểu diễn đường cong tăng trưởng độ cao hơn. Cụ thể ở mức độ sục khí 0,3-0,4 L/L/  
của N. oculta khi nuôi trong hệ thống tấm ở 3 phút, tảo bắt đầu đi vào pha dừng sau 12 ngày  
tốc độ sục khí khác nhau. Cả 3 đường cong tăng nuôi, khi đã đạt mật độ 220x106 tb/mL, trong khí  
trưởng gần như trùng lắp nhau cho đến ngày đó tảo ở hai tốc độ sục khí cao hơn vẫn tiếp tục  
nuôi thứ 5, từ ngày nuôi thứ 6 trở đi theo khuynh tăng và đạt mật độ cực đại vào ngày nuôi thứ 14  
huớng tảo nuôi ở tốc độ sục khí cao hơn cho mật ở mức 278x106 tb/mL và 311x106 tb/mL lần lượt  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
77  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
ở tốc độ 0,6-0,7 và 0,9-1,0 L/L/phút. Tốc độ tăng thống nuôi. Nếu CO2 được đưa vào hệ thống tại  
trưởng của N. oculata đạt 0,22/ngày ở tốc độ sục vị trí 1, từ mật độ ban đầu 20x106 tb/mL, vi tảo  
khí 0,6-0,7 L/L/phút, thấp hơn tốc độ sục khí 0,9- N. oculata chỉ đạt mật độ 109x106 tb/mL sau 10  
1,0 L/L/phút (0,23/ngày). Tuy nhiên sự khác biệt ngày nuôi (đồ thị 2), tương ứng với tốc độ tăng  
này không có ý nghĩa thống kê, cả hai đều cao trưởng 0,17/ngày. Trong khí đó tảo ở hệ thống  
khác biệt so với tốc độ tăng trưởng ở tốc độ 0,3- đưa CO2 tại vị trí 2 đạt mật độ 399x106 tb/mL,  
0,4 L/L/phút là 0,20/ngày.  
tương ứng với tốc độ tăng trưởng cao khác biệt  
hơn vị trí 1 là 0,30/ngày.  
3.2. Hệ thống ống  
Thí nghiệm 2 khảo sát vị trí đưa CO2 vào hệ  
Đồ thị 2: Mật độ của N. oculata nuôi ở hệ thống ống ở 2 vị trí CO2 khác nhau  
Thí nghiệm 3 vận hành thử hệ thống trên thấp hơn 0,4-0,5m/giây. Tuy nhiên mức độ khác  
loài N. oculata ở 3 vận tốc dòng chảy khác nhau biệt về tốc độ tăng trưởng giữa hai vận tốc là  
0,2-0,3; 0,4-0,5 và 0,6-0,7 m/giây. Tại vận tốc không có ý nghĩa. Quần thể N. oculata ở vận tốc  
cao nhất, quần thể N. oculata đạt mật độ 520x106 chảy thấp nhất (0,2-0,3 m/giây) chỉ đạt mật độ  
tb/mL, tương ứng với tốc độ tăng trưởng 0,27/ 81x106 tb/mL vào ngày nuôi thứ 10 và suy tàn  
ngày. Mật độ thấp hơn 427x106 tb/mL, tương sau đó (đồ thị 3).  
ứng với tốc độ tăng trưởng 0,26/ngày ở vận tốc  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
78  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
Đồ thị 3: Mật độ của N. oculata nuôi ở hệ thống ống ở 3 vận tốc dòng chảy khác nhau  
IV. THẢO LUẬN  
của quần thể tiếp xúc được với ánh sáng và  
các chất dinh dưỡng như nhau, tránh sự phân  
tầng nhiệt và cải thiện sự trao đổi khí giữa môi  
trường nuôi và không khí. Ở hệ thống nuôi  
không bổ sung khí CO2, không khí là yếu tố  
quan trọng hàng đầu, vꢀ chứa nguồn carbon ở  
dạng CO2 phục vụ cho quang hợp. Trường hợp  
nuôi ở mật độ cao, CO2 giải phóng ra từ không  
khí sẽ sủi bọt làm hạn chế sức sinh trưởng của  
tảo (Michels và ctv, 2010). Tuy nhiên, đảo trộn  
mạnh sẽ gây ra hiện tượng “shear tress” làm  
tổn hại tế bào tảo và mỗi loài tảo có mức độ  
chịu đựng khác nhau. Đã có không ít nghiên  
cứu để xác định mức độ shear stress cùa từng  
loài tảo như Contreras và ctv (1998) trên  
Phaeodactylum tricornutum; Garcıa và ctv  
(2007) trên Protoceratium reticulatum. Vꢀ vậy,  
hệ thống thiết kế sẽ tối ưu khi vận hành nuôi  
Để tiếp cận với công nghệ nuôi vi tảo biển  
bằng hệ thống kín quang phản ứng sinh học,  
nghiên cứu đã chọn kiểu thiết kế của hệ thống  
tấm theo Posten (2009), là kiểu thiết kế dễ lắp  
đặt nhất. Trên cơ sở nghiên cứu về đường dẫn  
ánh sáng trong hệ thống tấm của Richmond và  
Zhang (2001), trong khoảng từ 1,3 đến 17cm,  
đường dẫn ánh sáng càng ngắn, năng suất tính  
theo thể tích (g/L/ngày) càng cao và ngược lại  
năng suất tính theo diện tích (g/m2/ngày) càng  
thấp; nhưng năng suất (g/m2/ngày) cao nhất ở  
hệ thống có đường dẫn ánh sáng 10cm. Thiết kế  
trong nghiên cứu này đã ứng dụng thông số về  
đường dẫn ánh sáng, hay nói cách khác chiều  
rộng của các đơn vị nuôi là 10cm.  
Sự đảo nước mạnh là rất cần thiết để ngăn  
tảo không bị lắng, đảm bảo tất cả các tế bào  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
79  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
một loài tảo nào đó là khi xác định được sự cân 24mm và 30 mm lần lượt theo thiết kế của Lee  
bằng giữa mức độ sục khí tối đa và ngưỡng và Low (1991); Borowitzka (1997) và Molina  
chịu đựng shear stress của loài tảo đó.  
Grima và ctv (1996).  
Khi nuôi N. oculata ở hệ thống tấm,  
Khác với hệ thống tấm, ở đó sự đảo trộn là  
Richmond và Zhang (2001) đã vận hành ở tốc sục khí nên vi tảo nuôi có thể sử dụng carbon  
độ sục khí 0,3 L/L/phút , Zou và Richmond từ thành phần CO2 trong không khí, hệ thống  
(1999) và Gitelson và ctv (2000) đều ở tốc độ ống là dòng chảy tuần hoàn của nước nuôi,  
0,84 L/L culture/min, và các tác giả Alias và ctv nên việc cung cấp CO2 cho quang hợp là điều  
(2004) và Wang và ctv (2005) thậm chí đến tốc không thể thiếu. Nhu cầu CO2 cần thiết theo  
độ 2,0 L/L/giây.  
Posten (2009) là khoảng 1,85 gCO2/g sinh  
khối hoặc cao hơn. Nghiên cứu này đã đưa  
CO2 tinh khiết vào hệ thống thiết kế tại 2 vị trí  
khác nhau như đã mô tả ở phần phương pháp  
nghiên cứu.  
Hệ thống tấm trong nghiên cứu này với tốc  
độ sục khí 0,9-1,0 L/L/phút, loài N. oculata đạt  
tốc độ tăng trưởng 0,25/ngày, mật độ 310x106  
tb/mL. So với kết quả nghiên cứu trong nước  
trước đây, mật độ đạt được cao gấp 6-14 lần,  
Công bố của Doucha và ctv (2005) và  
cụ thể là mật độ N. oculata chỉ đạt 22x106 Spalding (2008) là lời giải thích cho kết quả  
tb/mL khi nuôi sinh khối làm thức ăn cho ấu khác biệt về tốc độ tăng trưởng và mật độ đạt  
trùng cá mú đen (Epinephelus coioides) tại được của N. oculata. Để đảm bảo tế bào tảo có  
Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I (Lê thể sử dụng được nguồn carbon, áp lực nước  
Xân và Đỗ Xuân Hải, 2004), 30-50x106 tb/mL nuôi 0,1-0,2 kPa là cần thiết. Tuy hạn chế của  
khi nuôi sinh khối làm thức ăn cho ấu trùng nghiên cứu này là chưa đo được áp lực nước  
cá măng (Đặng Tố Vân Cầm và ctv, 2009) tại nuôi tại các điểm khác nhau trong suốt vòng  
Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II. Kết tuần hoàn trong hệ thống ống, nhưng chắn  
quả nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng chắn là áp lực nước trong hệ thống đã thiết kế  
Thủy sản III chỉ là bước đầu xây dựng qui trꢀnh sẽ khác nhau do chênh lệch về độ cao và do  
lưu giữ và nuôi sinh khối (Nguyễn Thị Xuân đầu bơm hút đẩy gây ra, vị trí 2 sẽ có áp lực  
Thu và ctv, 2004). So với kết quả nghiên cứu cao hơn vị trí 1.  
ngoài nước, mật độ cao nhất của N. oculata  
nuôi trong hệ thống tấm có cùng đường dẫn  
ánh sáng là 10cm được công bố là 550x106 tb/  
mL khi nuôi ở thể tích 200L cho mỗi đơn vị  
nuôi của Richmond và Zhang, (2001) cũng  
như Zhang và ctv (2001). Nguyên nhân là do  
hệ thống tấm trong nghiên cứu này chưa bổ  
sung CO2 so sánh với hệ thống của hai tác giả  
nêu trên được bổ sung 1,5% CO2. Hệ thống  
tấm có đường dẫn ánh sáng hẹp 1,4cm của Zou  
và ctv (2000) cho năng suất lên đến 2,9g trọng  
lượng khô/L/ngày.  
Đối với việc tối ưu hóa hệ thống ống dẫn,  
ngoài việc cung cấp CO2, vận tốc dòng chảy  
và trao đổi khí là cực kỳ quan trọng. Theo  
Weissman và ctv (1988), việc thải O2 ra khỏi  
hệ thống ống còn khó khăn nhiều hơn so với  
việc cung cấp CO2. Đối với bất kỳ hệ thống  
ống, O2 tạo ra từ quá trꢀnh quang hợp sẽ được  
tích tụ trong nước nuôi cho đến khi dòng chảy  
đến chỗ trao đổi khí, nơi đó O2 sẽ được tách ra  
vào không khí. Vận tốc dòng chảy và tốc độ  
thải O2 ra khỏi hệ thống ống có liên quan mật  
thiết với nhau (Molina và ctv, 2001). Vꢀ vậy, hệ  
Hệ thống ống trong nghiên cứu này được thống ống trong nghiên cứu này, sau khi lắp đặt  
lắp đặt bằng ống acrylic Ф60mm. Posten (2009) cũng đã vận hành thử trên loài N. oculata ở 3  
và nhiều tác giả khác đã kết luận rằng để đạt vận tốc dòng chảy khác nhau 0,2-0,3; 0,4-0,5  
được mật độ cao, đường kính ống càng mỏng và 0,6-0,7 m/giây.  
càng tốt, thậm chí đường kính chỉ bằng 12mm,  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
80  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
Giải thích nguyên nhân quần thể không tb/mL, tùy thuộc vào đường kính ống (Lubian  
đạt được mật độ cực đại và suy tàn tại vận và ctv, 2000).  
tốc dòng chảy thấp 0,2-0,3m/giây, là do giá  
trị DO của nước nuôi cao, dao động trong  
khoảng 350-400 % mức bão hòa, tương ứng  
với nồng độ 27-33mg/L. Bởi vꢀ hàm lượng  
O2 trên mức bão hòa (0,2247 mol O2/m3 tại  
20°C) sẽ ức chế quang hợp của hầu hết các  
loài tảo, cho dù hàm lượng CO2 được duy trꢀ ở  
mức tối ưu (Aiba, 1982). Thật vậy, Tredici và  
ctv (1992) đã dẫn chứng rằng năng suất của  
Spirulina được cải thiện rõ rệt khi giảm hàm  
lượng O2 hòa tan từ 35mg/L xuống 20mg/L.  
Molina và ctv (2001) kết luận rằng hàm lượng  
O2 cao kết hợp với cường độ ánh sáng cao sẽ  
làm tổn hại tế bào tảo do sự oxi hóa bằng ánh  
sáng (photooxidation). Giá trị DO của nước  
nuôi ở 2 vận tốc dòng chảy cao hơn, dao động  
trong khoảng 120-200%, tương ứng 8-15mg/  
L. Giá trị DO tỷ lệ nghịch với vận tốc dòng  
chảy. Như vậy, vận tốc dòng chảy lớn hơn có  
khuynh hướng tốt hơn cho sinh trưởng của  
quần thể tảo, do giảm hàm lượng O2 tích tụ  
xuống dưới mức ức chế quang hợp. Tuy nhiên  
vận tốc dòng chảy lớn quá giới hạn cho phép  
không những giảm sản lượng thu hoạch mà  
V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT  
1. Tốc độ sục khí trong hệ thống tấm có ảnh  
hưởng đến tốc độ tăng trưởng và mật độ cực  
đại của loài nuôi thử nghiệm N. oculata. Tốc độ  
sục khí 0,3-0,4 L/L/phút là không tối ưu khi so  
sánh với 0,6-0,7 và 0,9-1,0 L/L/phút, sự khác  
biệt giữa hai tốc độ 0,6-0,7 và 0,9-1,0 L/L/phút  
không có ý nghĩa thống kê.  
2. Hệ thống tấm đã thiết kế có thể tích 72 lít  
cho mỗi đơn vị nuôi, đường dẫn ánh sáng 10cm,  
cho mật độ N. oculata 311x106 tb/mL.  
3. Vị trí đưa CO2 vào hệ thống và vận tốc  
dòng chảy có ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng  
và mật độ cực đại của loài nuôi thử nghiệm N.  
oculata. Ở vị trí CO2 không phù hợp, quần thể  
N. oculata phát triển nhưng không đạt được cực  
đại. Ở vận tốc dòng chảy 0,2-0,3 m/giây, quần  
thể N. oculata không phát triển và suy tàn. Quần  
thể N. oculata đạt cực đại ở mức cao hơn khi  
vận tốc dòng chảy cao và nằm giữa hai giá trị  
0,4-0,5 và 0,6-0,7 m/giây, tuy nhiên sự khác biệt  
là không có ý nghĩa thống kê.  
4. Hệ thống ống đã thiết kế có chiều dài  
còn làm tổn hại tế bào tảo, như Carlozzi và 34m, thể tích nuôi 85 lít, đường dẫn ánh sáng  
Torzillo (1996) đã quan sát khi nuôi Spirulina 6cm, cho mật độ N. oculata 520x106 tb/mL.  
trong hệ thống ống với vận tốc dòng chảy  
cao (0,97 m/giây). Mới đây, Norsker và ctv  
(2011) cũng đã kết luận rằng nồng độ O2 cao  
sẽ làm giảm năng suất tảo, và việc loại bỏ khí  
O2 là một trong những vấn đề cần nghiên cứu  
khi tối ưu hóa hệ thống thiết kế.  
5. Cả hai hệ thống tấm và ống đã thiết kế và  
lắp đặt rất có tiềm năng để thay thế hoàn toàn  
phương pháp nuôi vi tảo biển theo kiểu truyền  
thống, chẳng những phục vụ cho ngành nuôi  
trồng thủy sản, mà còn có thể phục vụ cho các  
ngành công nghiệp khác như nuôi tảo Spirulina  
Như vậy với hệ thống ống đã thiết kế, vị trí làm nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho người,  
đưa CO2 vào hệ thống tại điểm giữa đầu bơm nuôi các loài vi tảo để ly trích astaxanthin,  
và ống ở vị trí thấp nhất, vận tốc dòng chảy DHA, EPA.  
0,6-0,7 m/giây, đạt mật độ 520x106 tb/mL. Khi  
so sánh với hệ thống ống của Bùi Bá Trung và  
LỜI CẢM ƠN  
Tác giả chân thành cảm ơn Chương trꢀnh  
ctv (2009) bao gồm 10 ống thủy tinh Ф32mm,  
Công nghệ sinh học Nông nghiệp, Thủy sản của  
chiều dài 1270mm, đạt mật độ 61x106 tb/mL,  
Bộ NN & PTNT đã cấp kinh phí, các bạn cộng  
mật độ trong nghiên cứu này cao gấp 9 lần và  
tác viên của đề tài và Ban lãnh đạo Viện Nghiên  
hoàn toàn có thể so sánh với hệ thống ống của  
cứu Nuôi Trồng Thủy sản 2 đã tạo mọi điều kiện  
các tác giả ngoài nước, đạt mật độ từ 108 đến 109  
thuận lợi cho nghiên cứu thành công.  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
81  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
Đặng Tố Vân Cầm, Nguyễn Thị Kim Vân, Trần Kim  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Đồng, Nguyễn Hữu Thanh, Nguyễn Xuân Toản,  
Lâm Văn Đức, 2009. Công nghệ sinh sản nhân tạo  
cá măng (Chanos chanos, Forskal 1775). Tuyển  
tập nghề cá sông Cửu Long, 133-143.  
Abu-Rezq, T.S., Al-Musallam, L., Al-Shimmari, J.,  
Dias, P., 1999. Optimum production conditions for  
different high-quality marine algae. Hydrobiologia  
403, 97-107.  
Doucha, J., Straka, F., Livansky, K., 2005. Utilization  
of flue gas for cultivation of microalgae (Chlorella  
sp.) in an outdoor open thin-layer photobioreactor.  
J. Appl. Phycol. 17(5), 403-412.  
Aiba, S., 1982. Growth kinetics of photosynthetic  
microorganisms. Adv. Biochem. Eng, 23, 85-  
156.  
Alias, C.B., Lopez, M.C.G.M., Acien Fernandez,  
F.G.A., Sevilla, J.M.G. , Sanchez, J.L.G., Grima,  
E.M., 2004. Influence of power supply in the  
feasibility of Phaeodactylum tricornutum cultures.  
Biotechnol. Bioeng, 87(6), 723-733.  
Garcıa, C.F., Gallardo, R.J.J., Sanchez, M.A., Ceron,  
G.M.C., Belarbi, E.H., Molina Grima, E., 2007.  
Determination of shear stress thresholds in toxic  
dinoflagellates cultured in shaken flasks. Process  
Biochem. 42, 1506-1515.  
Borowitzka, M.A., 1997. Microalgae for aquaculture:  
opportunities and constraints. J. Appl. Phycol, 9,  
393-401.  
Gitelson, A.A., Grits, Y.A., Etzion, D., Ning, Z.,  
Richmond, A., 2000. Optical properties of  
Nannochloropsis sp and their application to  
remote estimation of cell mass. Biotechnol.  
Bioeng. 69(5), 516-525.  
Brown, M., Robert, R., 2002. Preparation and  
assessment of microalgal concentrates as feeds  
for larval and juvenile Pacific oyster (Crassostrea  
gigas). Aquaculture 207, 289-309.  
Guillard, R.R.L., Ryther, J.H., 1962. Studies on marine  
planktonic diatoms. Gran. Can. J. Microbiol. 8,  
229-239.  
Bùi Bá Trung, Hoàng Thị Bích Mai, Nguyễn Hữu  
Dũng, Cái Ngọc Bảo Anh, 2009. Ảnh hưởng  
của mật độ ban đầu và tỷ lệ thu hoạch lên sinh  
trưởng vi tảo Nannochloropsis oculata nuôi  
trong hệ thống ống dẫn trong suốt nước chảy  
liên tục. Tạp chí Khoa học-Công nghệ Thủy  
sản, số 1/2009.  
Korstad, J., Neyts, A., Danielsen, T., Overrein, I.,  
Olsen, Y., 1995. Use of swimming speed and  
egg ratio as predictors of the status of rotifer  
cultures in aquaculture. Hydrobiologia 313/314,  
395-398.  
Le Xan, Do Xuan Hai, 2004. Effect of temperature,  
salinity and stocking density on development  
of mass culture of Isochrysis galbana and  
Nannochloropsis oculata for breeding. Increasing  
aquaculture productivity.  
Carlozzi, P., Torzillo, G., 1996. Productivity of  
Spirulina in a strongly curved outdoor tubular  
photobioreactor. Appl. Microbiol. Biotech. 45,  
18-23.  
Chini Zittelli, G., Lavista, F., Bastianini,A., Rodolfi, L.,  
Vincenzini, M., Tredici M.R., 1999. Production  
of eicosapentaenoic acid by Nannochloropsis sp.  
cultures in outdoor tubular photobioreactors. J.  
Biotech. 70, 299-312.  
Lee, Y.K., Low, C.S. ,1991. Effect of photobioreactor  
inclination on the biomass productivity of an  
outdoor algal culture. Biotechnol. Bioeng. 38,  
995-1000.  
Lubian, L.M., Montero, O., Moreno-Garrido,  
I., Emma Huertas, I., Sobrino, C., 2000.  
Chini Zittelli, G., Pastorelli, R., Tredici M.R., 2000.  
A modular flat panel photobioreactor (MFPP) for  
indoor mass cultivation of Nannochloropsis sp.  
under artificial illumination. J. Appl. Phycol. 12,  
521-526.  
Nannochloropsis  
(Eustigmatophyceae)  
as  
source of commercially valuable pigments. J.  
Appl. Phycol. 12, 249-255.  
Michels, M.H.A., Goot, A.G., Norsker, N.H., Wijffels,  
R.H., 2010. Effects of shear stress on the  
microalgae Chaetoceros muelleri. Bioprocess.  
Biosyst. Eng. 33, 921-927.  
Chini Zittelli, G., Rodolfi, L., Tredici, M.R., 2003.  
Mass cultivation of Nannochloropsis sp. in  
annular reactors. J. Appl. Phycol. 15, 107-114.  
Contreras, A., Garcıa, F., Molina, E., Merchuk, J.C.,  
1998. Interaction between CO2-mass transfer,  
light availability, and hydrodynamic stress  
in the growth of Phaeodactylum tricornutum  
in a concentric tube airlift photobioreactor”.  
Biotechnol. Bioeng. 60, 17-325.  
Molina Grima, E., Sanchez Perez, J.A., Garcia  
Camacho, F., Fernandez Sevilla, J.M., Acien  
Fernandez, F.G., 1996. Productivity analysis  
of outdoor chemostat cultures in tubular airlift  
photobioreactors. J. Appl. Phycol. 8, 369-380.  
Molina Grima, E., Fernandez, J., Acien, F.G., Chisti,  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
82  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
Y., 2001. Tubular photobioreactor design for algal  
cultures. J. Biotech. 92, 113-131.  
Spalding, M.H. , 2008. Microalgal carbon-dioxide-  
concentrating mechanisms: Chlamydomonas  
inorganic carbon transporters. J. Exp. Bot, 59,  
1463-1473.  
Muller-Feuga, A., 2004. Microalgae for aquaculture.  
The current global situation and future trends,  
352-364.  
Tredici, M.R., Zitelli, G.C., Biagiolini, S. , 1992.  
Influence of turbulence and areal density on the  
productivity of Spirulina platensis grown outdoor  
in a vertical alveolar panel. In: First European  
Workshop on Microalgal Biotechnology, 58-60.  
Nguyễn Thị Xuân Thu, Nguyễn Thị Bích Ngọc và  
Nguyễn Thị Hương, 2004. Tꢀnh hꢀnh sử dụng tảo  
đơn bào làm thức ăn cho động vật thủy sản.  
Norsker, N.H., Barbosa, M.J., Vermuë, M.H., Wijffels,  
R.H., 2011. Microalgal production - A close look  
at the economics. Biotech. Adv. 29, 24-27.  
Wang, C.H., Sun, Y.Y., Xing, R.L., Sun, L.Q. , 2005.  
Effect of liquid circulation velocity and cell  
density on the growth of Parietochloris incisa in  
flat plate photobioreactors. Biotechnol. Bioproc.  
Eng. 10(2), 103-108.  
Posten, C., 2009. Designprinciplesofphoto-bioreactors  
for cultivation of microalgae. Eng. Life Sci. 9 (3),  
165-177.  
Zhang, C.W., Zmora, O., Kopel, R., Richmond, A. ,  
2001. An industrial-size flat plate glass reactor  
for mass production of Nannochloropis sp.  
(Eustigmatophyceae). Aquaculture 195, 35-49.  
Pulz, O., 2001. Photobioreactors: production systems  
for  
phototrophic  
microorganisms.  
Appl.  
Microbiol. Biotech, 57, 287-293.  
Richmond, A., 2000. Microalgal biotechnology at the  
turn of the millennium: a personal view. J. Appl.  
Phycol. 12, 441-451.  
Zou N., Zhang C.W., Cohen Z. and RichmondA. , 2000.  
Production of cell mass and eicosapentaenoic  
acid (EPA) in ultrahigh cell density cultures of  
Nannochloropsis sp. (Eustigmatophyceae). Eur. J.  
Phycol, 35, 127-133.  
Richmond, A., Zhang, C.W., 2001. Optimization of  
a flat plate glass reactor for mass production of  
Nannochloropsis sp. outdoors. J. Biotech, 85,  
259-269.  
DESIGNING AND OPERATING PHOTOBIOREACTOR  
FOR INTENSIVE CULTURE OF MARINE MICROALGAE  
Dang To Van Cam1, Trinh Trung Phi1, Dieu Pham Hoang Vy1,  
Le Thanh Huan1, DangThi Nguyen Nhan1, Tran Thi Tuyet Lan2  
ABSTRACT  
Two different types of photobioreactor were designed at the National Breeding Center for Southern  
Marine Aquaculture, Research Institure for Aquaculture No.2. Flat plate glass reactor has a volume  
of 72L with a light-path of 10cm, this type of photobioreactor were produced in twelve units. Tubu-  
lar photobioreactor made of acrylic pipe 60cm in diameter has a volume of 85L and was produced  
in six units. Both of the designed systems were experimentally operated on a marine microalgae  
species, Nannochloropsis oculata, in order to optimize the designs. The flat plate glass reactor was  
optimized at air flow rate of 0.9-1.0 L/L/min, obtaining the density of N. oculata at 311x106 cells/  
mL. The tubular photobioreactor was optimized at position of CO2 injection between the pump  
and lowest pipe and liquid velocity at 0.6-0.7m/s, obtaining the density of N. oculata at 520x106  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
83  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
cells/mL. The results show that it is potential to use the designed systems for intensive culture of  
N.oculata in particular and marine microalgae in general for a high quality marine seed production.  
Key words: Flat plate glass reactor; Nannochloropsis oculata; photobioreactor; tubular photobioreactor  
N g ư ờ i p h ả n b i ệ n : T S . N g u y ễ n T h ị N g ọ c T ĩ n h  
N g à y n h ậ n b à i : 1 0 / 6 / 2 0 1 3  
N g à y t h ô n g q u a p h ả n b i ệ n : 2 4 / 6 / 2 0 1 3  
Ngày duyệt đăng: 8/7/2013  
1
2
National Breeding Center for Southern Marine Aquaculture, Research Institute for Aquaculture No.2  
Directorate of Fisheries  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
84  
pdf 12 trang yennguyen 16620 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thiết kế và vận hành hệ thống kín quang phản ứng sinh học để nuôi thâm canh vi tảo biển", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthiet_ke_va_van_hanh_he_thong_kin_quang_phan_ung_sinh_hoc_de.pdf