Đánh giá chất lượng giun nhiều tơ từ nguồn tự nhiên và nguồn nuôi thương phẩm trong nuôi vỗ thành thục tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei (Boone, 1931) bố mẹ
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản
Số 4/2020
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG GIUN NHIỀU TƠ TỪ NGUỒN TỰ NHIÊN VÀ
NGUỒN NUÔI THƯƠNG PHẨM TRONG NUÔI VỖ THÀNH THỤC TÔM THẺ
CHÂN TRẮNG Litopenaeus vannamei (Boone, 1931) BỐ MẸ
EVALUATE THE QUALITY OF THE POLYCHEATE FROM WILD AND FARM
SOURCES ON MATURATION WHITE LEG SHRIMP Litopenaeus vannamei (Boone, 1931)
BROODSTOCK
Nguyễn Văn Dũng1*, Trương Hà Phương1, Lục Minh Diệp2
1 Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III
2 Trường Đại học Nha Trang
Tác giả liên hệ: Nguyễn Văn Dũng (Email: [email protected])
Ngày nhận bài: 19/09/2020; Ngày phản biện thông qua: 14/10/2020; Ngày duyệt đăng: 15/11/2020
TÓM TẮT
Nghiên cứu nhằm đánh giá chất lượng của giun nhiều tơ từ nguồn tự nhiên và nuôi thương phẩm trong
nuôi vỗ thành thục tôm thẻ chân trắng bố mẹ. Kết quả cho thấy giun nhiều tơ nuôi thương phẩm có hàm
lượng dinh dưỡng và axít chưa bão hòa cao đáp ứng tốt cho tôm bố mẹ thành thục sinh dục. Tôm thẻ chân
trắng cái sử dụng thức ăn giun từ nguồn nuôi thương phẩm có sức sinh sản tuyệt đối cao hơn 2% (28,34 ×
104 so với 27,79 × 104), sức sinh sản thực tế tăng 2% (16,67 × 104 so với 15,93 × 104), tỷ lệ thụ tinh tăng
1,5% (85,87% so với 84,53%) và tỷ lệ nở tăng 2% (88,94% so với 87,22%) so với nhóm tôm sử dụng thức ăn
giun thu ngoài tự nhiên. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ chuyển giai đoạn từ Nauplii sang Zoea
1 giữa nghiệm thức sử dụng thức ăn giun nhiều tơ từ nguồn nuôi thương phẩm và giun tự nhiên (p<0,05).
Ngoài ra chất lượng của tinh trùng tôm thẻ chân trắng đực tốt hơn khi cho tôm ăn thức ăn là giun nhiều tơ
từ nguồn nuôi thương phẩm.
Từ khóa: Giun nhiều tơ, tôm thẻ chân trắng bố mẹ, Litopenaeus vannamei.
ABSTRACT
The study was evaluate the quality of the polycheate from farm and wild source on maturation white leg
shrimp broodstock. Results suggest that worms from farmed aquaculture, high nutritional composition and
unsaturated fatty acid content used marine shrimp broodstock maturation. The female white leg shrimps fed
worms from farmed aquaculture showed absolute fecundity 2% higher (28.34 × 104 compared to 27.79 ×
104), actual fecundity higher 2% (16.67 × 104 so với 15.93 × 104), fertization rate higher 1.5% (85.87% so với
84.53%) and hatching rate higher 2% (88.94% so với 87.22%) compared to broodstock fed worms from wild.
Metamorphorsis rate form Nauplii to Zoea 1 was higher (p<0.05). Sperm quality of male white leg shrimps
showed better as they were fed worms from farmed aquaculture.
Keywords: Polychaete, white leg shrimp, Litopenaeus vannamei.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
năm 2018, số lượng tôm thẻ chân trắng bố
mẹ nhập khẩu khoảng 200.000 con chưa tính
lượng tôm bố mẹ sản xuất trong nước tăng
10,9% so với năm 2017 [27]. Điều này cho
thấy, nhu cầu về nguồn thức ăn có chất lượng
cao sử dụng trong nuôi vỗ thành thục tôm bố
mẹ là rất lớn.
Hiện nay, các trại sản xuất giống tôm
biển đặc biệt là tôm thẻ chân trắng trên thế
giới cũng như ở Việt Nam đều sử dụng giun
Nuôi trồng thủy sản đã và đang phát triển
góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu cho nền
kinh tế Việt Nam. Trong đó ngành nuôi tôm,
bao gồm tôm sú và tôm thẻ chân trắng đã
mang lại lợi nhuận lớn cho nghề nuôi trồng
thủy sản. Hiện nay, cả nước có 2.457 cơ sở
sản xuất giống tôm nước lợ, trong đó có 1.855
cơ sở sản xuất giống tôm sú và 602 cơ sở sản
xuất giống tôm thẻ chân trắng [26]. Trong
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 27
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản
Số 4/2020
nhiều tơ làm thức ăn nuôi vỗ thành thục tôm
bố mẹ [1; 4; 15]. Tôm bố mẹ sử dụng chế
độ cho ăn bằng giun nhiều tơ cho chất lượng
tốt hơn khi so sánh với một số loại thứ ăn
thương mại khác về các chỉ tiêu sinh sản
và chất lượng ấu trùng vì trong giun nhiều
tơ có chứa hàm lượng PUFA cao [12], thích
hợp cho sự phát triển buồng trứng của tôm
mẹ [17; 22]. Trong giun nhiều tơ còn có
hàm lượng các axít béo HUFA, DHA, EPA
và các phospholipid (phosphatidylcholine
và phosphatidylethanolamine), chúng đóng
vai trò quan trọng trong quá trình thành thục
của giáp xác và cần được bổ sung tối thiểu
2% vào thức ăn nuôi tôm phát dục [9;21;
24]. Một số nghiên cứu cho thấy hàm lượng
axít arachidonic chiếm tỷ lệ cao trong buồng
trứng tôm mẹ, cũng có trong giun nhiều tơ
[13; 25], thức ăn sử dụng trong nuôi thành
thục thiếu n-3 HUFA có tác dụng xấu đến quá
trình phát triển phôi, chất lượng trứng và ấu
trùng trên hầu hết các loài giáp xác [23]. Tôm
sú bố mẹ sử dụng thức ăn giun nhiều tơ có
bổ sung 2% DHA có tác dụng tích cực đến
sức sinh sản, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở, thời gian
và tỷ lệ chuyển giai đoạn của ấu trùng tôm.
Ngoài ra, chất lượng tinh trùng của tôm đực
cũng tốt hơn khi cho tôm đực sử dụng thức
ăn đã được làm giàu bằng DHA [2]. Tương tự
như tôm sú bố mẹ, khi bổ sung 2% DHA vào
thức ăn giun nhiều tơ nuôi vỗ thành thục tôm
thẻ chân trắng cũng cho kết quả tốt hơn về
sức sinh sản, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở, thời gian
giữa hai lần đẻ, thời gian và tỷ lệ chuyển giai
đoạn của ấu trùng cũng như chất lượng tinh
trùng của tôm đực [2]. Mục đích của nghiên
cứu này để đánh giá thức ăn giun nhiều tơ từ
nguồn nuôi thương phẩm và nguồn tự nhiên
trong nuôi vỗ thành thục tôm thẻ chân trắng
bố mẹ.
Giun nhiều tơ: P. nuntia var. brevicirris nuôi
thương phẩm có khối lượng trung bình 0,92 g/
con được thu tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát
triển Nha Trang.
Tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei
(Boone, 1931) bố mẹ: tôm cái có khối lượng >
40 g/con; tôm đực có khối lượng > 30 g/con,
tôm đưa vào thí nghiệm có sức khỏe tốt, buồng
trứng chưa phát triển.
2. Bố trí thí nghiệm
Tôm thẻ chân trắng khỏe mạnh, buồng trứng
chưa phát triển và không có dấu hiệu bệnh lý
được bố trí ngẫu nhiên sang các bể xi măng, thể
tích 4 m3/bể.
Nghiệm thức 1 (NT1): cho ăn bằng giun
nhiều tơ từ nguồn khai thác tự nhiên; Nghiệm
thức 2 (NT2) cho ăn bằng giun nhiều tơ từ
nguồn nuôi thương phẩm. Mỗi nghiệm thức
được lặp lại 3 lần.
Số lượng cá thể theo dõi 30 con/bể 4 m3.
Thời gian tiến hành thí nghiệm 60 ngày.
Cho ăn 20 - 30% khối lượng thân/ngày,
hàng ngày cho tôm bố mẹ ăn 3 lần (7h, 15h và
23h), hàng ngày thay nước 100%, chế độ chăm
sóc quản lý như nhau giữa các nghiệm thức.
Các chỉ tiêu theo dõi:
Tôm cái: Tỷ lệ thành thục, sức sinh sản, tỷ
lệ thụ tinh, tỷ lệ nở, tỷ lệ chuyển từ Nauplii
sang Zoea1.
Tôm đực: Khối lượng túi tinh, số lượng
tinh, tỷ lệ tinh bình thường, tỷ lệ tinh chết, tỷ lệ
tinh bất thường, thời gian tái phát dục.
3. Phương xác định các chỉ tiêu
3.1 Xác định chất lượng giun nhiều tơ
Hàm lượng protein trong các mẫu giun
nhiều tơ được xác định theo phương pháp
Kjeldalh. hàm lượng lipid theo tiêu chuẩn ISO
6492: 1999, hàm lượng chất xơ theo phương
pháp AOCS Ba-6a-05 và độ ẩm theo phương
pháp EC 152/2009.
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Hàm lượng axít béo của giun nhiều tơ được
xác định theo tiêu chuẩn ISO 5508/5509:2000.
1. Vật liệu nghiên cứu
3.2 Xác định các thông số môi trường
Nhiệt độ nước đo ngày 2 lần (8h, 14h) bằng
nhiệt kế thuỷ ngân, độ chính xác 1%.
Độ mặn của nước được đo 1 lần/ngày bằng
khúc xạ kế, độ chính xác 1‰.
Giun nhiều tơ: Perinereis nuntia var.
brevicirris tự nhiên có khối lượng trung bình
1,02 g/con khai thác tự nhiên tại vùng biển Vạn
Ninh, Khánh Hòa.
28 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản
Số 4/2020
pH nước xác định bằng máy đo Handy
Gamma – Đan Mạch, độ chính xác 0,01 đơn
vị. Hàng ngày đo 2 lần (8h, 14h).
Oxy hoà tan xác định bằng máy đo oxy cầm
tay (Handy Gamma – Đan Mạch), độ chính xác
0,1 mg/L.
Đối với tôm đực:
Tôm đực được đánh giá thông qua số lượng
tinh trùng, số tinh trùng hoạt động và có hình
dạng bình thường.
3.3 Đánh giá hiệu quả nuôi vỗ thành thục
tôm thẻ chân trắng bố mẹ
Đối với tôm cái:
Tinh trùng được xác định theo phương pháp
của Leung-Trujillo và Lawence (1987) [16]. Sử
dụng buồng đếm Neubauer, túi tinh được làm
đồng nhất trong dung dịch calcium-free saline
(thành phần: 21,63 g NaCl; 1,12 g KCl; 0,53 g
H3BO3; 0,19 g NaOH; 4,93 g MgSO4.7H2O và
điều chỉnh pH đến 7,4 với acid HCl 1N).
Để xác định số lượng tinh trùng chết, dung
dịch tinh trùng (đã được làm đồng nhất trong
dung dịch calcium-free saline) được nhuộm
màu bằng dung dịch trypan blue (Sigma,
USA) với tỷ lệ 1:10. Sau khi nhuộm màu
10-15 phút, số tinh trùng chết (có màu xanh)
được đếm dưới kính hiển vi điện tử. Các tinh
trùng có hình cầu, có đuôi và không dị hình
được xem là tinh trùng tốt, các tinh trùng dị
hình, không có đuôi, v.v, được xem là không
thể thụ tinh được.
Tỷ lệ sống (TLS):
Tỷ lệ thành thục (TLTT):
Tỷ lệ đẻ (TLĐ):
Sức sinh sản thực tế: Tổng số trứng/lần đẻ
Tỷ lệ thụ tinh (TLTT): Ngay sau khi tôm
đẻ dùng vợt vớt trứng ở tầng giữa, cho vào
03 bình thủy tinh (100 trứng/0,5 lít/bình),
sau 6 giờ đếm số trứng thụ tinh; những trứng
trong, nhìn thấy phôi là những trứng thụ tinh;
những trứng trắng đục là những trứng không
thụ tinh.
4. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Thu thập và lưu trữ số liệu trên phần
mềm Microsoft Excel. Tất cả các số liệu
được thống kê và xử lý trên phần mềm
thống kê sinh học. So sánh sự khác nhau
giữa các trung bình sau phân tích t-test với
độ tin cậy 95%. Các thí nghiệm được bố trí
lặp lại 3 lần.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO
LUẬN
Xác đinh tỷ lệ nở (TLN): Cho trứng vào 03
bình thủy tinh (100 trứng/bình/2 lít), sục khí
nhẹ. Sau khi trứng nở hoàn toàn, đếm số ấu
trùng trong bình rồi tính tỷ lệ nở.
1. Phân tích thành phần sinh hóa trong giun
nhiều tơ từ nguồn tự nhiên và nguồn nuôi
thương phẩm sử dụng trong nuôi vỗ thành
thục tôm bố mẹ
1.1 Thành phần dinh dưỡng trong giun nhiều tơ
Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng
của các nguồn giun nhiều tơ đang được sử
dụng làm thức ăn nuôi phát dục tôm bố mẹ thể
hiện trong Bảng 1.
Tỷ lệ sống của ấu trùng: Xác định số lượng
ấu trùng trong bể từng ngày tuổi theo phương
pháp thể tích rồi áp dụng công thức:
Kếtquảphântíchchothấy, hàmlượngprotein
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 29
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản
Số 4/2020
Bảng 1. Hàm lượng protein, chất béo, chất xơ và độ ẩm trong giun nhiều tơ (%/100 g ướt)
Chỉ tiêu
Giun tự nhiên
12,01 ± 0,60a
3,53 ± 0,10a
nd
Giun thương phẩm
13,19 ± 0,34b
3,64 ± 0,02a
nd
Protein (%)
Chất béo (%)
Chất xơ (%)
Độ ẩm (%)
76,40 ± 0,47a
77,48 ±1,13a
Ghi chú: nd: không xác định. Các giá trị thể hiện trên bảng là giá trị trung bình và độ lệch chuẩn. Các giá trị trong cùng một hàng có ký tự
giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
của hai nguồn giun khác nhau là khác nhau
(p<0,05). Hàm lượng protein có trong nguồn
giun nuôi thương phẩm đạt cao hơn (13,19%)
nguồn giun thu ngoài tự nhiên (12,01%). Tổng
lượng chất béo trong nguồn giun thương phẩm
và tự nhiên không có sự khác nhau (p>0,05).
Tuy nhiên, qua số liệu phân tích thấy rằng hàm
lượng chất béo trong mẫu giun nuôi thương
phẩm (3,64%) cao hơn mẫu thu ngoài tự nhiên
(3,53%). Kết quả này cũng tương tự như nghiên
cứu của Limsuwatthanathamrong và cộng sự
(2012) [17] cũng so sánh tổng lượng chất béo
của loài giun cát (P. nuntia) từ nguồn giun thu
ngoài tự nhiên thấp hơn so với trong điều kiện
nuôi. Hàm lượng chất xơ không phát hiện trong
hai nguồn giun.
Kết quả phân tích độ ẩm ở các nguồn giun
tự nhiên và nuôi thương phẩm lần lượt là
76,40% và 77,48%, khác nhau không có ý nghĩa
(p>0,05). So sánh kết quả phân tích mẫu cho
thấy, nguồn giun nuôi thương phẩm có thành
phần dinh dưỡng cao hơn so với nguồn giun thu
ngoài tự nhiên. Có thể nhận định giun thương
phẩm là nguồn thức ăn tươi sống an toàn trong
nuôi thành thục, phát dục tôm bố mẹ.
1.2 Thành phần axít béo trong giun nhiều tơ
Thành phần axít béo trong các mẫu giun
nhiều tơ được trình bày cụ thể trong Bảng 2.
Số liệu cho thấy, axit béo C20:4n-6 (AA)
trong mẫu giun tự nhiên đạt cao hơn (135,50
mg) so với mẫu giun nuôi thương phẩm (119,00
Bảng 2. Thành phần axít béo trong giun nhiều tơ (mg/100 g ướt)
Axít béo
Giun tự nhiên
135,50 ± 2,34b
91,80 ± 0,95a
35,00 ± 1,25a
325,90 ± 5,7a
500,60 ± 6,58a
1.097,10±7,41b
752,00 ± 6,52a
972,60 ± 5,13a
Giun nuôi thương phẩm
119,00 ± 2,00a
C20:4n-6 (AA)
C20:5n-3 (EPA)
C22:6n-3 (DHA)
Tổng n-3
158,00 ± 1,74b
86,00 ± 1,37b
496,00 ± 4,50b
501,80 ± 8,17a
1.012,70 ± 7,81a
716,00 ± 4,21a
1.143,70 ±9,67b
Tổng n-6
SFA
MUFA
PUFA
Ghi chú: nd; không xác định. SFA: axít béo bão hòa; MUFA: axít béo không bão hòa đơn phân tử; PUFA: axít béo không bão hòa đa
phân tử. Các giá trị thể hiện trên bảng là giá trị trung bình và độ lệch chuẩn. Các giá trị trong cùng một hàng có ký tự giống nhau thì khác biệt
không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
30 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản
Số 4/2020
mg) (Bảng 2). Ngược lại, C20:5n-3 (EPA)
trong mẫu giun thu ngoài tự nhiên thấp (91,80
mg) hơn so với mẫu giun nuôi nuôi thương
phẩm (158,00 mg).
Hàm lượng C22:6n-3 (DHA) ở mẫu giun
nuôi nuôi thương phẩm đạt (86,00 mg) cao
hơn có ý nghĩa (p<0,05) so với nguồn giun thu
ngoài tự nhiên (35,00 mg).
dài chu kỳ sinh sản của tôm được cho thức ăn
giun nhiều tơ là yếu tố thích hợp trong nuôi phát
dục loài này. Giá trị dinh dưỡng của giun nhiều
tơ được sử dụng làm thức ăn cho tôm được đánh
giá làm tăng số lượng trứng trên 1 lần đẻ, tăng tỷ
lệ thụ tinh và tỷ lệ sống của ấu trùng tôm [7]. Bên
cạnh đó, khẩu phần ăn có giun nhiều tơ (chiếm
16%) được tính toán theo chế độ ăn giống với
tỷ lệ của ARA/EPA, DHA/EPA và n-3/n-6 của
buồng trứng của tôm ngoài tự nhiên được Hoa
và cộng sự (2009) [14] thí nghiệm trên tôm sú
bố mẹ, kết quả cho thấy số lần tham gia sinh sản
và sức sinh sản, tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở của tôm
sú ảnh hưởng bởi tỷ lệ ARA/EPA, DHA/EPA
và n-3/n-6 trong thức ăn. Tổng hàm lượng SFA
trong 2 nguồn giun có sự khác nhau (p<0,05).
Tuy nhiên không có sự khác biệt về tổng hàm
lượng MUFAvà PUFAtrong mẫu giun thu ngoài
tự nhiên và nuôi thương phẩm (p>0,05).
Tuy nhiên, sự khác biệt về các thành phần
dinh dưỡng trong các nguồn giun khác nhau
còn phụ thuộc vào mùa vụ [11], môi trường
sống và chế độ dinh dưỡng của giun [8; 15].
Số liệu thu được cho thấy, thành phần dinh
dưỡng trong giun thương phẩm nuôi cao hơn so
nguồn giun thu ngoài tự nhiên. Có thể so sánh
với kết quả nghiên cứu của Techaprempreecha
và cộng sự (2011) [22]. Ông đã kết luận giá trị
dinh dưỡng của giun nhiều tơ loài Perinereis
nuntia trong điều kiện nuôi cao hơn so với giun
thu ngoài tự nhiên và ông cho rằng đây là nguồn
thức ăn tươi thích hợp và an toàn trong nuôi vỗ
thành thục tôm bố mẹ.
Hàm lượng PUFA có trong mẫu giun nuôi
thương phẩm đạt cao hơn (1.143,70 mg) nguồn
giun thu ngoài tự nhiên (972,60 mg). Kết quả
phân tích này cũng tương tự nghiên cứu của
Costa và cộng sự (2000) [10] về các thành phần
các axít béo của giun nhiều tơ N. diversicolor,
cũng có sự khác nhau về thành phần AA, DHA,
EPA và PUFA. Để khẳng định tầm quan trọng
về vai trò của các axit béo AA, DHA, EPA trong
nhu cầu dinh dưỡng của tôm bố mẹ, Meunpol
và cộng sự (2005) [15] đã chứng minh khi
sử dụng khẩu phần ăn trên tôm sú (Penaeus
monodon) đực có giun nhiều tơ được tính toán
tỷ lệ AA:EPA:DHA 5:1:1, kết quả cho thấy chất
lượng tinh trùng không giảm trong vòng một
tháng thí nghiệm và điều này cho thấy có thể
thay thế sự phụ thuộc nguồn giun ngoài tự nhiên.
Tổng n-3 (omega-3) và trong mẫu giun nuôi
thương phẩm cao hơn (496,00 mg) so với mẫu
giun thu ngoài tự nhiên (325,90 mg). Trong khi
đó tổng n-6 (omega-6) lại không có sự khác biệt
giữa hai nguồn giun nuôi thương phẩm và tự
nhiên (lần lượt 501,80 mg và 500,60 mg). Kết
quả này cũng được Lytle và cộng sự (1990) [19]
nhận định hàm lượng PUFA trong giun nhiều
tơ có thể giúp kích thích sự thành thục của tôm
thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei chủ yếu
là: omega-6 (n-6) và omega-3 (n-3), mặc dù
trong thức ăn tổng hợp người ta sử dụng hàm
lượng omega-3 cao nhưng tỷ lệ giữa omega-3
và omega-6 không cân bằng được như trong
giun nhiều tơ và sự cân bằng giữa omega-3 và
omega-6 có thể là một yếu tố quan trọng cho nhu
cầu khẩu phần ăn trong nuôi vỗ thành thục tôm
thẻ chân trắng. Một nghiên cứu khác trên loài tôm
Penaeus kerathurus được Luis và Ponte (1993)
[18] sử dụng giun nhiều tơ N. diversicolor làm
thức ăn cho tôm trong nuôi điều kiện nuôi nhốt,
ông đã nhận định vai trò của các axit béo có tầm
quan trọng đối với sinh sản tôm, khả năng kéo
Như vậy qua kết quả phân tích hai mẫu
giun cho thấy, thành phần dinh dưỡng có trong
mẫu giun nhiều tơ nuôi thương phẩm cao hơn
so với mẫu giun thu ngoài tự nhiên. Kết quả
này có thể nhận định nguồn giun nuôi thương
phẩm là nguồn thức ăn tươi thích hợp và an
toàn trong nuôi vỗ thành thục tôm bố mẹ.
2. Đánh giá chất lượng giun nhiều tơ từ
nguồn tự nhiên và nguồn nuôi thương phẩm
trong nuôi vỗ thành thục tôm thẻ chân trắng
bố mẹ
2.1. Một số yếu tố môi trường trong quá trình
thí nghiệm
Kết quả theo dõi về điều kiện môi trường
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 31
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản
Số 4/2020
nước trong suốt quá trình nuôi vỗ thành thục
tôm thẻ chân trắng bố mẹ được trình bày trong
Bảng 3.
Nhiệt độ, pH, độ mặn và hàm lượng oxy hòa
tan trung bình của các nghiệm thức trong suốt quá
trình thí nghiệm không có sự khác nhau và tương
Bảng 3. Diễn biến một số yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm
Nghiệm thức
Nhiệt độ (oC)
28,57±0,57
28,21±0,44
pH
Độ mặn (‰)
31-32
DO (mg/L)
5,23±0,09
5,17±0,12
TA giun tự nhiên
TA giun thương phẩm
7,8-8,3
7,7-8,3
31-32
đối ổn định. Theo Boyd (1998) [5], nhiệt độ thích
hợp cho những loài sống trong vùng nước ấm là
từ 25-32ºC và pH thích hợp dao động từ 6,5-9,0.
Độ mặn thích hợp trong nuôi vỗ thành thục của
tôm thẻ chân trắng thấp nhất la 28‰ [20]. Như
vậy, các yếu tố môi trường trong suốt quá trình thí
nghiệm đều nằm trong khoảng thích hợp.
giun nuôi thương phẩm cao hơn có ý nghĩa thống
kê so với nhóm tôm sử dụng thức ăn là giun tự
nhiên. Không có sự khác biệt lớn về thời gian
từ khi lột xác đến đẻ lần đầu, sức sinh sản tuyệt
đối và thực tế giữa nhóm tôm sử dụng giun nuôi
thương phẩm và giun tự nhiên (p>0,05). Tuy
nhiên, sức sinh sản tuyệt đối ở nhóm tôm sử
dụng thức ăn giun thương phẩm (28,34 × 104
trứng/lần đẻ) cao hơn nhóm tôm sử dụng giun tự
nhiên làm thức ăn (27,79 × 104 trứng/lần đẻ), tỷ
lệ thụ tinh cao hơn 2% (85,87% so với 84,53%),
tỷ lệ nở cao hơn 2% (88,94% so với 87,22%)
và tỷ lệ chuyển từ Nauplii sang Zoea1 cao hơn
1,5% (90,86% so với 88,53%) (p<0,05).
2.2. Chất lượng tôm thẻ chân trắng cái sử
dụng thức ăn giun nhiều tơ từ nguồn tự
nhiên và nuôi thương phẩm
Kết quả Bảng 4 cho thấy thức ăn là giun nhiều
tơ có tác động lớn đến việc sinh sản của tôm thẻ
chân trắng (khẩu phần thức ăn cho tôm thẻ chân
trắng chiếm chủ yếu là giun nhiều tơ (60%). Sau
thời gian theo dõi 60 ngày, khối lượng tôm thẻ
chân trắng cái có sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê (p<0,05). Khối lượng nhóm tôm cái sử dụng
Nghiên cứu của Trương Hà Phương và cộng
sự (2016) [2] về ảnh hưởng của hàm lượng
DHA đến chất lượng tôm bố mẹ thấy rằng, tôm
Bảng 4. Chất lượng tôm thẻ chân trắng cái sử dụng giun tự nhiên và nuôi thương phẩm làm thức ăn
(TB ± SD; n=15)
Nghiệm thức
Chỉ tiêu đánh giá tôm thẻ chân trắng cái
Giun tự nhiên
41,95 ± 1,33
49,15 ±2,23a
6,22 ± 1,09b
6,07 ± 0,78b
12,82±1,38b
10,82± 1,36a
27,79 ± 2,95a
15,93 ±10,38a
84,53 ± 5,14a
87,22 ± 2,10a
40,66 ± 1,15a
88,53 ± 2,87a
Giun thương phẩm
41,82 ±1,23
KL trung bình ban đầu thí nghiệm (g)
KL trung bình kết thúc thí nghiệm (g)
Thời gian khi cắt mắt đến đẻ lần đầu (ngày)
Thời gian giữa 2 lần đẻ (ngày)
51,07 ±3,70b
5,81 ± 1,01a
5,74 ± 0,76a
Thời gian giữa 2 lần lột xác (ngày)
12,37 ±1,01a
11,29± 1,55a
28,34 ± 6,84a
16,67 ±10,61b
85,87 ± 3,54a
88,94 ±1,86b
39,67 ± 0,57a
90,86 ± 2,70b
Số lần đẻ/cá thể cái
Sức sinh sản tuyệt đối (trứng/cá thể x104)
Sức sinh sản thực tế (trứng/lần đẻ x104)
Tỷ lệ thụ tinh (%)
Tỷ lệ nở (%)
Thời gian chuyển từ Nauplii sang Zoea 1 (giờ)
Tỷ lệ chuyển từ Nauplii sang Zoea 1 (%)
Các giá trị thể hiện trên bảng là giá trị trung bình và độ lệch chuẩn. Các giá trị trong cùng một hàng có ký tự giống nhau thì khác biệt không có
ý nghĩa thống kê (p>0,05).
32 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản
Số 4/2020
thẻ chân trắng cái có khuynh hướng ảnh hưởng
bởi thức ăn từ giun làm giàu bằng DHA. Tôm
thẻ chân trắng mẹ được làm giàu DHA có sức
sinh sản tuyệt đối tăng 22,6%, sức sinh sản
thực tế tăng 17,2%; tỷ lệ nở tăng 4,2%; tỷ lệ thụ
tinh tăng 17,2% so với nhóm tôm đối chứng.
Nghiên cứu về nhu cầu lipid của tôm thẻ
chân trắng nuôi tái phát dục được công bố bởi
một số tác giả, Bray và cộng sự (1990) [6]
nghiên cứu nhu cầu lipid cho tôm chân trắng bố
mẹ nuôi tái phát dục là 11%. Wounter và cộng
sự (2001) [25] khuyến cáo thức ăn có mức lipid
thấp hơn 9% sẽ làm chậm quá trình phát triển
buồng trứng và sự thành thục của tôm mẹ. Nhìn
chung, nhóm axít béo chiếm ưu thế trong buồng
trứng của nhóm tôm he là 16:00, 16:1n-7, 18:00,
18:1n-9, 20:4n-6, 20:5n-3, và 22:6n-3. Trong
đó, thành phần chiếm ưu thế là n-3 HUFA, đặc
biệt là 20:5n-3, và 22:6n-3, đây là các nhóm
axít béo có nhiều trong giun nhiều tơ [3; 19;
26]. Kết quả nghiên cứu cho thấy giun nhiều
tơ có tác động tích cực đến chất lượng ấu trùng
và rút ngắn thời gian biến thái từ Nauplii sang
giai đoạn Zoea 1.
2.3. Chất lượng tôm thẻ chân trắng đực sử
dụng thức ăn giun nhiều tơ từ nguồn tự
nhiên và nuôi thương phẩm
Khối lượng tôm thẻ chân trắng đực và khối
lượng túi tinh không có sự khác biệt sau hai
tháng theo dõi khi sử dụng thức ăn giun nhiều
tơ tự nhiên và nuôi thương phẩm (p>0,05). Số
lượng tinh trùng bất thường ở nghiệm thức sử
dụng thức ăn giun tự nhiên (15,87%) cao hơn
nghiệm thức sử dụng thức ăn giun nhiều tơ
nuôi thương phẩm (11,67%) (p<0,05).
Nhìn chung các chỉ tiêu số tinh trùng chết,
thời gian tái phát dục cũng theo xu hướng tương
tự. Tôm đực sử dụng thức ăn giun nuôi thương
Bảng 5. Chất lượng tôm thẻ chân trắng đực qua các nghiệm thức sử dụng giun tự nhiên và nuôi
thương phẩm (TB ± SD; n=15)
Nghiệm thức
Chỉ tiêu đánh giá tôm thẻ chân trắng đực
Giun tự nhiên
35,82 ± 1,34
39,31 ±1,69a
91,07± 2,12a
3,23± 0,32a
Giun thương phẩm
36,09 ±1,27
40,29 ±1,36b
91,62± 2,34a
3,66± 0,36b
KL trung bình ban đầu thí nghiệm (g)
KL trung bình kết thúc thí nghiệm (g)
Khối lượng túi tinh (mg; n=5)
Số lượng tinh (x 106)
Số lượng tinh bình thường (%)
Số lượng tinh bất thường (%)
Số lượng tinh chết (%)
71,73± 7,25a
15,87±3,07b
12,47± 2,39b
13,04± 1,59b
76,67± 0,33a
79,13± 2,16b
11,67±1,35a
9,13± 1,25a
12,57± 1,53a
77,78± 0,51a
Thời gian tái phát dục (ngày)
Tỷ lệ giao vĩ tự nhiên (%)
Các giá trị thể hiện trên bảng là giá trị trung bình và độ lệch chuẩn. Các giá trị trong cùng một hàng có ký tự giống nhau thì khác biệt không có
ý nghĩa thống kê (p>0,05).
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
phẩm đều cho kết quả tốt hơn so với tôm đực
sử dụng thức ăn giun tự nhiên (p<0,05). Tuy
nhiên, chỉ tiêu về tỷ lệ giao vĩ tự nhiên trong thí
nghiệm này không có sự khác nhau (p>0,05).
Kết quả nghiên cứu cho thấy cho tôm đực
sử dụng thức ăn là giun nhiều tơ nuôi thương
phẩm cải thiện đáng kể chất lượng tinh trùng
qua các chỉ tiêu như: số lượng tinh bình thường,
số lượng tinh bất thường, số lượng tinh chết và
thời gian tái phát dục.
1. Kết luận
Hàm lượng protein, chất béo và các axít béo
trong mẫu giun nhiều tơ nuôi thương phẩm cao
hơn mẫu thu ngoài tự nhiên.
Tôm thẻ chân trắng bố mẹ sử dụng thức
ăn giun nhiều tơ nuôi thương phẩm cho chất
lượng tốt hơn so với giun nhiều tơ tự nhiên.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 33
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản
Số 4/2020
2. Kiến nghị
vỗ thành thục tôm bố mẹ.
Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật bảo
quản giun nhiều tơ sau thu hoạch phục vụ nuôi
Nghiên cứu vai trò kích thích sinh sản của
giun nhiều tơ lên tôm bố mẹ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
1. Đào Văn Trí, Nguyễn Thị Thu Hằng, Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Thành Vũ, Nguyễn Thị Thanh Hoa, Lê Thị
Châu (2005), Nghiên cứu áp dụng quy trình sản xuất giống và cơ sở khoa học phục vụ quy hoạch vùng nuôi
tôm he chân trắng (Litopenaeus vannamei boone, 1931), Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và công
nghệ cấp Bộ, tr. 1–150.
2. Trương Hà Phương, Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Khắc Đạt (2016), “Đánh giá chất lượng tôm chân trắng bố
mẹ (Litopenaeus vannamei) qua thức ăn giun nhiều tơ (Perinereis nuntia) được làm giàu bằng DHA”, Tạp chí
Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Số 6, tr. 97-103.
Tài liệu tiếng Anh
3. Alava, V.R., Kanazawa, A., Teshima, S., Koshio, S. (1993), “Effect of dietary phospholipids and n-3
highly unsaturated fatty acids on ovarian development of Kuruma prawn”, Nippon Suisan Gakkaishi, 59 (7),
pp. 345–351.
4. Bessie, O. (1996), “Reproductive cycle of Perinereis nuntia var. brevicirris Grube, 1857 (Polychaeta:
Nereidae)”, The raffles bulletin of Zoology, 44 (1), pp. 263 – 273.
5. Boyd, C. E. (1998). “Water quanlity in ponds aquaculture”, Research and Development, 43, pp. 1-11.
6. Bray, W.A., Lawrence, A.L., Lester, L.J. (1990), “Reproduction of eyestalk-ablated Penaeus stylirostris fed
various levels of total dietary lipid”, J. World Aquacult. Soc, 21, pp. 41–52.
7. Briggs, M.R.B., Brown, J.H., Fox, C.J. (1994), “The effects of dietarylipid and lecithin levels on the growth,
survival, feeding efficiency, production and carcass competition of postlarval Penaeus monodon (Fabricius)”,
Aquacult Fish Manag, 25, pp. 279–294.
8. Brown, N., Eddy, S., Plaud, S. (2011) “Utilization of waste from a marine recirculating fish culture system
as a feed source for the polychaete worm, Nereis virens”, Aquaculure, 322-323, pp. 177-183.
9. Cahu, C.L., Guillaume, J.C, Ste´phan, G., Chim, L. (1994), “Influence of phospholipid and highly
unsaturated fatty acids on spawning rate and egg tissue composition in Penaeus vannamei fed semi-purified
diets”, Aquaculture, 126, pp. 159–170.
10. Costa, P.F, Narciso, L. Fonseca, C. (2000), “Growth, survival and fatty acid profile of Nereis diversicolor
(O.F Muller, 1776) fed on six different diets”, B. Mar. Sci, 67 (2000), pp. 337–343.
11. Garcia-Alonso, J., Muller, C.T., Hardege, J.D. (2008), “Influence of food regimes and seaonality on fatto
acid composition in the ragworm”, Aquatic Biology, 4, pp. 7-13.
12. Harrison, K. E. (1991), “Crustacean reproduction nutrition”, Crustac Nutr Newsl, 7, pp. 62 - 70.
13. Harrison, K.E. (1997), Broodstock nutrition and maturation diets. In: Advances in World Aquaculture vol.
6: Crustacean Nutrition (L.R. D'Abramo, D.E. Conklin and D. M. Akiyama). World Aquaculture Society,
Baton Rouge, Louisiana, USA, pp. 390-408.
34 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản
Số 4/2020
14. Hoa, N. D., Wouters, R., Wille, R., Thanh,V., Dong, T. K., Hao, N. V., and Sorgeloos, P. (2009), “A fresh-
food maturation diet with an adequate HUFA composition for broodstock nutrition studies in black tiger shrimp
Penaeusmonodon (Fabricius, 1798)”, Aquaculture, 297, pp. 116-121.
15. Meunpol, O., Meejing, P., & Piyatiratitivorakul, S. (2005), “Maturation diet based on fatty acid content for
male Penaeus monodon (Fabricius) broodstock”, Aquaculture Research, 36(12), pp. 1216–1225.
16. Leung-Trujillo, J. R. and Lawrence, A. L. (1987). “Observations on the decline in sperm quality of Penaeus
setiferus under laboratory conditions”. Aquaculture, 65, pp. 363-370.
17. Limsuwatthanathamrong, M., Sooksai, S., Chunhabundit, S., Noitung, S., Ngamrojanavanich, N., and
Petsom, M. (2012), “Fatty Acid Profile and Lipid Composition of Farm-raised and Wild-caught Sandworms,
Perinereis nuntia, the Diet for Marine Shrimp Broodstock”, Asian Journal of Animal Sciences, 6 (2), pp. 65–75.
18. Luis, O. J., and Ponte, A. C. (1993), “Control of reproduction of the shrimp Penaeus kerathurus held in
captivity”, J.World Aquacult. Soc, 24, pp. 31-39.
19. Lytle, J. S., Lytle, T. F., Ogle, J. T. (1990), “Polyunsaturated fatty acid profiles as a comparative tool in
assessing maturation diets of Penaeus vannamei), Aquaculture, 89, pp. 287–299.
20. Parnes, S., Mills, E., Segall, C., Raviva, S., Davis, C., Sagi, A. (2004), “Reproductive readiness of the
shrimp Litopenaeus vannamei grown in a brackish water system”. Aquaculture, 236, pp. 593-606.
21. Ravid, T., Tietz, A., Khayat, M., Boehm, E., Michelis, R., Lubzens, E. (1999), “Lipid accumulation in the
ovaries of a marine shrimp Penaeus semisulcatus. (De Haan.)”, J. Exp. Biol, 202(13), pp. 1819–1829.
22. Techaprempreecha, S., Khongchareonporn, N., Chaicharoenpong, C., Aranyakananda, P., Chunhabundit,
S., Petsom, A. (2011), “Nutritional composition of farmed and wild sandworms, Perinereis nuntia”, Animal
Feed Science and Technology, 169 (3-4), pp. 265–269.
23. Wouters, R., Gomez, L., Lavens, P., Calderon, J. (1999a), “Feeding enriched Artemia biomassa to Penaeus
vannamei broodstock: its effect on reproductive performance and larval quality”, J. Shellfish Res, 18(2), pp.
651–656.
24. Wouters, R., Molina, C., Lavens, P., Calderon, J. (1999b), Contenido de l´ıpidos y vitaminas en reproductores
silvestres durante la maduracio´n ova´rica y en nauplios de Penaeus vannamei. Proceedings of the Fifth
Ecuadorian Aquaculture Conference, Guayaquil, Ecuador, Fundacio´n CENAIM-ESPOL, CDRom.
25. Wouters, R., Lavens, P., Nieto, J., and Sorgeloos, P. (2001), “Penaeid shrimp broodstock nutrition: an
updated review on research and development”, Aquaculture, 202 (1-2), pp. 1–21.
26. Xu, X. L., Ji, W. L., Castell, J. D., O’Dor, R. K. (1994), “Influence of dietary lipid sources on fecundity,
egg hatchability and fatty acid composition of Chinese prawn (Penaeus chinensis) broodstock”, Aquaculture,
119, pp. 359–370.
Tài liệu trang web
28. http://nguoinuoitom.vn/nganh-san-xuat-tom-giong-2018-nhap-khau-khoang-200-000-tom-chan-trang-bo.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 35
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá chất lượng giun nhiều tơ từ nguồn tự nhiên và nguồn nuôi thương phẩm trong nuôi vỗ thành thục tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei (Boone, 1931) bố mẹ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
danh_gia_chat_luong_giun_nhieu_to_tu_nguon_tu_nhien_va_nguon.pdf

