Xác định hàm lượng kẽm trong một số loài cá ở khu vực sông Gianh, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử

Tạp chí phân tích Hóa, Lý và Sinh học - Tập 25, Số 2/2020  
XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG KẼM TRONG MỘT SỐ LOÀI CÁ Ở KHU VỰC  
SÔNG GIANH HUYỆN QUẢNG TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH  
BẰNG PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ NGUYÊN TỬ  
Đến tòa soạn 19-11-2019  
Nguyễn Mậu Thành, Ngô Thị Thuỳ Linh  
Trường Đại học Quảng Bình  
SUMMARY  
DETERMINATION OF ZINC CONTENT IN SOME FISH SPECIES IN  
GIANH RIVER AT QUANG TRACH DISTRICT, QUANG BINH PROVINCE  
BY ATOMIC ABSORPTION SPECTROMETY  
The flame atomic absorption spectrometry (F-AAS) has been applied to determine the zinc content in  
some fish species, in Gianh river at Quang Trach distric Quang Binh province. This method has high  
repeatability with relative standard deviation (RSD) < 2.0%, the recovery from 95 to 105 %, low limit  
of detection (LOD) = 0.06 ppm and limit of quantization (LOQ) = 0.20 ppm. The concentration of zinc  
has a good linear correlation in the concentration of 0,005 ÷ 1 ppm. Results obtained shows that the  
average zinc contents in the fish species were in the range of 3.803 ÷ 9.000 mg/kg wet weight and  
within the allowed limits according to the regulation No.46/2007/QĐ-BYT.  
Keywords: Gianh river, some fish species, zinc, AAS method  
1. MỞ ĐẦU  
nguồn nước của sông. Một số nghiên cứu đã  
chỉ ra rằng, hàm lượng các chất ô nhiễm tích  
lũy trong sinh vật thường phản ánh về chất  
lượng môi trường. Nhiều nghiên cứu trên thế  
giới đã cho thấy, cá là một trong số các loài  
sinh vật được quan tâm nghiên cứu về mức tích  
lũy các kim loại, trong đó có kẽm [12].  
Sông Gianh là con sông chảy trên địa phận  
tỉnh Quảng Bình, bắt nguồn từ khu vực ven núi  
Cô Pi cao 2017 mét thuộc dãy Trường Sơn,  
chảy qua các huyện Minh Hóa, Tuyên Hoá,  
Quảng Trạch, Ba Đồn, Bố Trạch, để đổ ra biển  
Đông ở Cửa Gianh. Đây là con sông lớn nhất  
trong số 5 con sông của tỉnh, có giá trị lớn về  
mặt kinh tế xã hội cho tỉnh. Song song với việc  
khai thác những tiềm năng từ dòng sông Gianh  
thì vấn đề môi trường ở đây cũng cần được  
quan tâm. Đặc biệt, hệ thống sông Gianh tiếp  
nhận nước thải sinh hoạt, nông nghiệp và  
công nghiệp đang hoạt động như: Nhà máy xi  
măng Sông Gianh, nhà máy xi măng Văn  
Hoá, nhà máy gạch - ngói tuynel, nhà máy  
phân lân vi sinh Sông Gianh, nhà máy khai  
thác đất cao lanh,…, đe doạ gây ô nhiễm  
Phương pháp phân tích quang phổ hấp thụ  
nguyên tử ngọn lửa (F-AAS) được nhiều quốc  
gia trên thế giới thừa nhận là một phương  
pháp chuẩn, đã và đang được ứng dụng rộng  
rãi để xác định hàm lượng vết các kim loại  
(trong đó có Zn) ở các đối tượng mẫu môi  
trường khác nhau như: nước, trầm tích, sinh  
vật... [2].Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có  
nghiên cứu nào về xác định hàm lượng Zn  
trong các loài cá ở sông Gianh. Vì vậy, trong  
bài báo này, chúng tôi trình bày kết quả  
60  
nghiên cứu xác định hàm lượng Zn trong thịt  
một số loài cá ở khu vực sông Gianh chảy  
qua địa phận huyện Quảng Trạnh, tỉnh  
Quảng Bình bằng phương pháp F-AAS.  
2. THỰC NGHIỆM  
thức ăn bao gồm rong tảo, rau xanh, côn  
trùng, giáp xác và thức ăn viên, ký hiệu là  
CNi; Cá bơn (Soleidae) thân bẹt sống ở tầng  
nước đáy thức ăn của chúng là các loài động  
vật giáp xác nhỏ và các loài động vật không  
xương sống, ký hiệu là Cbi ; trong đó: i = 1  
2 (thứ tự đợt lấy mẫu).  
2.1. Thiết bị, dụng cụ, hóa chất  
Các ống nghiệm, cốc thủy tinh chịu nhiệt, bình  
định mức; cân phân tích, bếp điện, máy xay mẫu  
chuyên dụng, bộ dao mổ y tế làm bằng inox  
được dùng để tách thịt ra khỏi xương cá; các  
micropipette và pipete (Eppendorf). Máy quang  
phổ hấp thụ nguyên tử Zeenit 700P của hãng  
Analytika Jena (Đức).  
Mẫu cá được chuyển ngay về phòng thí  
nghiệm sau khi thu được. Mẫu được xử lý sơ  
bộ trước khi tiến hành phân tích: Rửa sạch  
bằng nước cất nhiều lần, sau đó dùng dao inox  
tách lấy phần thịt. Tiến hành phân hủy mẫu  
theo phương pháp tro hóa khô [3, 4, 6]: Phần thịt  
cá được xay nhuyễn, rồi được vô cơ hóa như  
sau: Đưa lên trên cân phân tích một lượng mẫu  
chính xác (lượng cân dao động trong khoảng 3  
5 gam); cho vào cốc nung có nắp, thêm 5 mL  
HNO3 65% và 5 mL Mg(NO3)2 5%; khuấy đều  
rồi đun nhẹ trên bếp điện đến than đen. Chuyển  
cốc nung chứa mẫu vào lò nung, nung ở nhiệt  
độ 4500C trong vòng 8 giờ; lấy mẫu ra khỏi lò,  
để nguội và thấm ướt tro bằng một ít nước cất  
và lặp lại quá trình trên đến khi thu được tro  
trắng [4]. Chuyển mẫu sang cốc thủy tinh bằng  
HNO3 2 M, đun đến cạn để đuổi hết lượng axit  
dư. Dùng 1 mL HNO3 0,5 M để hòa tan mẫu  
và chuyển định lượng vào bình định mức dung  
tích 50 mL, định mức bằng nước cất, được  
Các hóa chất sử dụng đều là loại tinh khiết  
(PA) của hãng Merck (Đức): Dung dịch chuẩn  
gốc kẽm (1000 ± 2 ppm) chuyên dùng cho  
phép đo AAS, axit HNO3 65% và Mg(NO3)2  
... Nước để pha chế hóa chất và rửa dụng cụ là  
nước cất hai lần.  
2.2. Lấy mẫu, xử lý mẫu  
Các mẫu cá được thu thập bằng cách dùng các  
ngư cụ đánh bắt (lưới, chèo, chài, vợt,...) tại  
nhiều địa điểm trên sông Gianh chảy qua địa  
phận huyện Quảng Trạch (đoạn từ thôn Phù  
Ninh xã Quảnh Thanh đến tổ dân phố Nam  
phường Quảng Thuận với chiều dài khoảng  
14,5 km), vào 2 đợt (đợt 1: 16 18/8/2019; đợt  
2: 19 21/10/2019). Mỗi đợt gồm 6 mẫu được  
phân loại theo kích cỡ từ nhỏ đến lớn theo  
chiều dài của các loài cá, mỗi mẫu gồm 5 12  
cá thể tùy theo loài và các mẫu thu được là  
mẫu tổ hợp.  
dung dịch phân tích [3, 5, 8, 9]  
.
2.3. Phương pháp phân tích  
Để xác định Zn trong mẫu thịt cá, áp dụng  
phương pháp F-AAS và chấp nhận những điều  
kiện hoạt động của thiết bị đã được công bố ở  
[2] (Bảng 1).  
Đặc tính và ký hiệu các mẫu cá: Cá đục  
(Sillaginidae) nước ngọt, sống ở tầng đáy,  
thường ăn nhiều loại giun nhiều tơ và động vật  
giáp xác, ký hiệu là CĐi; Cá bống (Gobiodei)  
sống ở tầng đáy, thiên ăn những động vật chủ  
yếu là giáp xác, cá nhỏ và động vật thủy sinh  
ở tầng đáy, ký kiệu là CBi; Cá hanh (Tinca  
tinca) chủ yếu kiếm ăn ban đêm với thức ăn là  
tảo và nhiều chủng loại động vật không  
xương sống ở tầng đáy mà nó có thể tự kiếm  
được, ký hiệu là CHi; Cá móm (Gerreidae)  
sống thành từng đàn, len lỏi kiếm ăn chủ yếu  
ở tầng trung và đáy, được ký hiệu là CMi; Cá  
nâu (Scatophagus argus) thường sống ở độ  
sâu 1 4 m nước, cá ăn tạp thiên về thực vật,  
Bảng 1: Điều kiện hoạt động của phương  
pháp F-AAS xác định Zn  
Thông số  
λ (nm)  
Zn  
213,9  
Khe đo (mm)  
Chiều cao buner  
Cường độ đèn (mA)  
Hỗn hợp khí đốt  
Kiểu đèn  
0,5  
6
4,0  
C2H2- KK  
Catot rỗng kẽm  
Thời gian chờ (s)  
Thời gian đo (s)  
5
3
61  
Hàm lượng Zn trong các mẫu được định lượng  
theo phương pháp đường chuẩn: phương trình  
đường chuẩn có dạng y a bx, trong đó a là  
đoạn cắt trên trục tung và b là độ dốc, y và x  
tương ứng là độ hấp thụ quang và nồng độ của  
Zn trong dung dịch phân tích. Trường hợp độ  
hấp thụ quang của mẫu lớn hơn điểm cực đại  
của đường chuẩn, cần pha loãng mẫu với hệ số  
pha loãng phù hợp để đưa đô hấp thụ quang  
của mẫu vào vùng đường chuẩn (hay khoảng  
tuyến tính). Hàm lượng Zn trong mẫu được  
tính theo khối lượng tươi mg/kg hay ppm, theo  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Khoảng tuyến tính và đường chuẩn  
Để khảo sát khoảng tuyến tính, tiến hành đo độ  
hấp thụ quang của các dung dịch chuẩn Zn, rồi  
xây dựng đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc giữa độ  
hấp thụ quang (A) và nồng độ dung dịch chuẩn  
(C), theo nguyên tắc của phương pháp bình  
phương tối thiểu, sử dụng công cụ Data  
Analysis của phần mềm Microsoft - Excel  
2013 và phần mềm Origin 8.5. Kết quả ở Bảng  
2 và Hình1 cho thấy: Phương trình có dạng: y  
= (0,019 ± 0,005) + (0,431 ± 0,009) x, với y là  
độ hấp thụ quang và x là hàm lượng Zn (ppm).  
Trong khoảng nồng độ C = 0,005 ÷ 1 ppm,  
giữa y và x có tương quan tuyến tính tốt với R2  
0,997.  
([C]2 [C]1 )d f 50  
[5]  
công thức  
:
,
C   
m
trong đó, [C]2 là nồng độ Zn trong dung dịch  
phân tích; [C]1 là nồng độ trung bình của Zn  
trong dung dịch mẫu trắng; df là hệ số pha  
loãng; m là khối lượng của mẫu phân tích.  
Bảng 2: Kết quả xác định độ hấp thụ quang của các dung dịch chuẩn Zn  
Nồng độ Zn (ppm)  
0,005  
0,1  
0,2  
0,4  
0,8  
1
Độ hấp thụ quang (A)  
0,0348  
0,0567  
0,1109  
0,1978  
0,3719  
0,4403  
0.45  
0.40  
Zn  
3.2. Độ lặp lại của phương pháp  
Tiến hành phân tích Zn trong sáu mẫu thịt cá  
lấy ở đợt một, mỗi mẫu được phân tích lặp lại  
3 lần (n 3), thu được kết quả ở Bảng 3.  
y (0,0190,005) (0,4310,009)X  
2
0.35  
0.30  
0.25  
0.20  
0.15  
0.10  
0.05  
0.00  
R
= 0,997  
0.0 0.1 0.2 0.3 0.4 0.5 0.6 0.7 0.8 0.9 1.0 1.1  
Nång ®é (ppm)  
Hình 1. Đường chuẩn xác định Zn  
Bảng 3: Kết quả xác định độ lặp lại của phương pháp F-AAS xác định Zn trong các mẫu thịt cá (a)  
Hàm lượng, ppm  
½ RSDH  
(%)  
6,2  
Mẫu  
Lần 1  
5,576  
7,452  
3,868  
8,183  
9,000  
8,238  
Lần 2  
5,468  
7,348  
3,759  
8,267  
8,896  
8,074  
Lần 3  
5,685  
7,462  
3,856  
8,095  
9,117  
8,401  
Trung bình ± SD  
RSD (%)  
1,9  
CĐ1  
CB1  
CH1  
CM1  
CN1  
Cb1  
5,576 ± 0,109  
7,421 ± 0,063  
3,828 ± 0,060  
8,182 ± 0,086  
9,004 ± 0,111  
8,238 ± 0,164  
0,9  
5,9  
1,6  
6,5  
1,1  
5,8  
1,2  
5,7  
2,0  
5,8  
62  
(a)  
SD: Độ lệch chuẩn (n = 3); RSD: Độ lệch  
chuẩn tương đối (n = 3); RSDH: Độ lệch chuẩn  
tương đối tính theo phương trình Horwitz [11]  
Độ đúng của phương pháp phân tích bất kỳ  
được xác định thông qua độ thu hồi (Recovery)  
[11]  
.
theo  
công  
C2 C  
Co  
thức  
:
Kết quả ở Bảng 3 cho thấy, phương pháp F-  
AAS đạt được độ lặp lại tốt với RSD < 2,0%.  
Người ta cho rằng, khi xác định những nồng độ  
C bất kỳ, nếu đạt được RSD không vượt quá ½  
RSDH là đạt yêu cầu (RSDH là độ lệch chuẩn  
tương đối tính toán được từ phương trình  
Horwitz: RSDH = 21 – 0,5lgC với C là nồng độ  
được biểu diễn bằng phân số [12]).  
Rev(%)   
1 100. Trong đó, C0 là  
nồng độ chất phân tích được thêm vào mẫu; C1  
là nồng độ chất phân tích trong mẫu; C2 là  
nồng độ chất phân tích trong mẫu đã được  
thêm chuẩn. Độ đúng của phương pháp F-AAS  
xác định Zn trong sáu mẫu thịt cá lựa chọn  
được ở Bảng 4.  
3.3. Độ đúng của phương pháp  
Bảng 4: Kết quả đánh giá độ đúng của phương pháp F-AAS xác định Zn trong mẫu thịt cá  
Nồng độ Zn trong  
mẫu (ppm)  
5,576  
Nồng độ Zn thêm  
Nồng độ Zn sau khi  
thêm vào mẫu (ppm)  
15,197  
Độ thu hồi  
Mẫu  
vào mẫu (ppm)  
(Rev, %)  
96  
CĐ1  
CB1  
CH1  
CM1  
CN1  
Cb1  
10  
10  
10  
10  
10  
10  
7,452  
16,995  
95  
3,868  
13,496  
96  
8,183  
18,714  
105  
104  
98  
9,000  
19,397  
8,238  
18,006  
Từ kết quả ở Bảng 4 cho thấy, phương pháp  
đạt được độ đúng tốt với độ thu hồi từ 95   
105%.  
nhận yb là giá trị của y khi C = 0, suy ra yb = a và  
Sb = Sy (độ lệch chuẩn của tín hiệu đo – độ hấp  
thụ quang) với Sy được tính theo công thức sau  
n
3.4. Giới hạn pháp hiện (LOD) và giới hạn  
định lượng (LOQ)  
2
y Y  
i   
i
[11]  
i 1  
:
;
Ở
S b S y  
Giới hạn phát hiện (LOD) của phương pháp  
phân tích được xác định theo quy tắc “3” [11]  
n 2  
.
đây, yi là giá trị thực nghiệm của y và Yi là các  
giá trị tính từ phương trình đường chuẩn. Từ  
phương trình đường chuẩn, biến đổi sẽ tính  
được LOD theo công thức sau: LOD = 3Sy/b.  
Với b là độ dốc của đường chuẩn.  
Theo quy tắc này, giới hạn phát hiện được tính  
như sau: y = yb + 3hay y = yb + 3Sb, trong  
đó, y là tín hiệu ứng với giới hạn phát hiện.  
Biết tín hiệu y sẽ tính được giới hạn phát hiện  
từ phương trình đường chuẩn y = a + bC, do đó  
LOD = (y – a)/b; yb là tín hiệu mẫu trắng; b  
(hoặc Sb) là độ lệch chuẩn của tín hiệu mẫu trắng.  
Có thể xác định yb và Sb như sau: tiến hành thí  
nghiệm để thiết lập phương trình đường chuẩn y  
= a + bC. Từ đó xác định yb và Sb bằng cách chấp  
Giới hạn định lượng (LOQ) của phương pháp  
phân tích được tính theo công thức sau: LOQ =  
10Sy/b 3,3 LOD. Kết quả tính toán LOD và  
LOQ của phương pháp được trình bày ở Bảng  
5.  
Bảng 5. Các giá trị a, b, Sy, LOD, LOQ tính từ phương trình đường chuẩn y = a + bx  
Các giá trị  
Kim loại  
Zn  
LOD  
(ppm)  
0,06  
LOQ  
b
a
Sy  
R
(ppm)  
0,20  
0,431 ± 0,009  
0,019 ± 0,005  
0,009  
0,999  
63  
Kết quả cho thấy, phương pháp F-AAS đạt được  
LOD khá thấp đối với Zn (0,06 ppm). Từ đó xác  
định được LOQ là 0,20 ppm. Kết hợp với các kết  
quả xây dựng đường chuẩn ở trên (mục 3.1), có  
thể cho rằng, đường chuẩn phù hợp để định lượng  
Zn trong các mẫu cá khảo sát.  
1. Lê Huy Bá. Độc học môi trường cơ bản,  
Nxb ĐHQG TP Hồ Chí Minh, 2008.  
2. Phạm Luận. Phương pháp phân tích phổ  
nguyên tử, Nxb ĐHQG Hà Nội, 2006.  
3. Phạm Luận. Những vấn đề cơ sở của các kỹ  
thuật xử lý mẫu phân tích, Nxb ĐHTHQG Hà  
Nội, 1999.  
3.5. Hàm lượng kẽm trong thịt một số loài cá  
Các kết quả về hàm lượng Zn trong thịt một  
số loài cá ở khu vực sông Gianh thuộc địa  
bàn huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình  
qua 2 đợt khảo sát ở Hình 2 cho thấy:  
4. Nguyễn Mậu Thành. Xác định, đánh giá  
hàm lượng chì và đồng trong trong nghêu ở  
khu vực sông Gianh bằng phương pháp F-AAS,  
Tạp chí Hóa học và Ứng dụng, Hội Hóa học  
Việt Nam, số 4(36), tr.1-5, 2016.  
9.5  
9.0  
§ît 1  
§ît 2  
5. Nguyễn Mậu Thành, Nguyễn Đình Luyện.  
Phân tích, đánh giá hàm lượng một số kim loại  
trong thịt cá lóc (Channa maculata) nuôi ở khu  
vực xã Ngư Thủy Bắc, huyện Lệ Thủy, tỉnh  
Quảng Bình, Tạp chí Hóa học, số 3e12 55, tr  
85-89, 2017.  
8.5  
8.0  
7.5  
7.0  
6.5  
6.0  
5.5  
5.0  
4.5  
4.0  
3.5  
3.0  
6. Nguyễn Mậu Thành, Nguyễn Thị Nhàn.  
Phân tích, đánh giá hàm lượng đồng và kẽm  
trong lá cây đinh lăng (Polyscias fruticosa (L.)  
Harms) ở thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng  
Bình bằng phương pháp F-AAS, Tạp chí phân  
tích Hóa, Lý và Sinh học, tập 24, số 4A, tr.162  
– 167, 2019.  
C§  
CB  
CH  
CM  
CN  
Cb  
C¸c loµi c¸  
Hình 2. Hàm lượng Zn trong thịt các loài cá ở  
sông Gianh  
Hàm lượng Zn trong thịt các loài cá khác nhau  
không nhiều giữa 2 đợt khảo sát, dao động  
trong khoảng 3,803 ÷ 9,000 ppm (mg/kg tươi).  
Hàm lượng Zn trung bình trong các mẫu thịt cá  
qua 2 đợt khảo sát là 7,058 ppm tươi (n 12)  
và hàm lượng đó nằm trong phạm vi cho phép  
theo Quyết định 46/2007/QĐ-BYT của Bộ Y tế  
quy định về giới hạn tối đa cho phép của chất ô  
nhiễm trong thực phẩm (quy định hàm lượng  
7. Bộ Y Tế. Quyết định số 46/2007/QĐ-BYT,  
“Quy định giới hạn tối đa ô nhiễm sinh học và  
hoá học trong thực phẩm”, Hà Nội, 2007.  
8. AOAC International (2012). AOAC Guidelines  
for Single Laboratory Validation of Chemical  
Methods for Dietary Supplements and Botanicals.  
9. AOAC International (1995). Official  
Methods of Analysis of the Association of  
Official Analytical Chemists, 16th ed.,  
(Arlington, Virginia).  
Zn ≤ 100 mg/kg) [7]  
.
4. KẾT LUẬN  
10. Horwitz W., Albert R.,. The Concept of  
Uncertainty as Applied to Chemical  
Measurement, Analyst 122. 615-617, 1997.  
11. Miller J. C., Miller J. N., Statistics and  
Chemometrics for Analytical Chemistry, Ed.  
6th, Pearson Education Limited, England, 2010.  
12. Farkas, A., Salanki, J., & Varanka, I.,.  
Heavy metal concentrations in fish of Lake  
Balaton. Lakes and Reservoirs: Research and  
Management, 5, 271-279, 2000. doi:  
10.1046/j.1440-1770.2000.00127.  
Phương pháp F-AAS là phương pháp thích hợp  
để xác định hàm lượng kẽm trong các mẫu thịt  
cá. Phương pháp có giới hạn phát hiện thấp, độ  
đúng và độ lặp lại tốt.  
Hàm hượng kẽm trong thịt của sáu loài cá ở  
khu vực sông Gianh nằm trong khoảng 3,803  
÷ 9,000 mg/kg tươi và dưới mức cho phép  
theo quy định hiện hành của Bộ Y tế về giới  
hạn tối đa ô nhiễm sinh học và hoá học trong  
thực phẩm.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
64  
pdf 5 trang yennguyen 11260 Free
Bạn đang xem tài liệu "Xác định hàm lượng kẽm trong một số loài cá ở khu vực sông Gianh, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfxac_dinh_ham_luong_kem_trong_mot_so_loai_ca_o_khu_vuc_song_g.pdf