So sánh và đánh giá khả năng nhiễm chéo của vi khuẩn Edwardsiella ictaluri phân lập từ cá rô phi và cá nheo Mỹ trong điều kiện thực nghiệm

Vietnam J. Agri. Sci. 2021, Vol. 19, No. 5: 605-615  
Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2021, 19(5): 605-615  
SO SÁNH VÀ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG NHIỄM CHÉO CỦA VI KHUẨN Edwardsiella ictaluri  
PHÂN LẬP TỪ CÁ RÔ PHI VÀ CÁ NHEO MỸ TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC NGHIỆM  
Đoàn Thị Nhinh1, Đặng Thị Hóa1, Trần Thị Trinh1, Lê Việt Dũng1,  
Nguyễn Thị Hương Giang2, Kim Văn Vạn1, Đặng Thị Lụa3, Trương Đình Hoài1*  
1Khoa Thủy sản, Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
2Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam,  
3Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1  
*Tác giả liên hệ: [email protected]  
Ngày nhận bài: 05.01.2021  
Ngày chấp nhận đăng: 23.04.2021  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu được thực hiện để so sánh và đánh giá khả năng nhiễm chéo của chủng vi khuẩn Edwardsiella  
ictaluri gây bệnh trên cá rô phi và cá nheo Mỹ. Các chủng vi khuẩn E. ictaluri phân lập từ cá rô phi và cá nheo Mỹ  
nhiễm bệnh được so sánh về đặc điểm sinh hóa, giám định PCR, liều gây chết LD50 và khả năng gây nhiễm chéo  
cho loài cá còn lại. Kết quả cho thấy, chủng vi khuẩn E. ictaluri phân lập từ cá rô phi và cá nheo Mỹ khác nhau ở  
2/22 phản ứng sinh hóa (citrate utilization, Voges-proskauer) nhưng tương đồng về kết quả định danh bằng PCR.  
Chủng vi khuẩn E. ictaluri từ cá rô phi có độc lực rất cao cho loài cá này (LD50 = 2,5 × 101 CFU/cá) nhưng thể hiện  
độc lực thấp khi được gây nhiễm chéo cho cá nheo Mỹ (LD50 = 2,0 × 106 CFU/cá). Tương tự, chủng vi khuẩn phân  
lập từ cá nheo Mỹ có độc lực cao trên cá nheo Mỹ (LD50 = 4,7 × 103 CFU/cá) nhưng giảm độc lực đáng kể khi gây  
nhiễm chéo cho cá rô phi (LD50 = 2,5 × 106 CFU/cá). Như vậy, vi khuẩn E. ictaluri gây bệnh trên cá nheo Mỹ và cá rô  
phi là khác nhau, nhưng ở nồng độ cao vẫn gây chết khi gây nhiễm chéo, do đó cần có các biện pháp đảm bảo an  
toàn sinh học để tránh việc lây lan mầm bệnh giữa các hệ thống nuôi.  
Từ khóa: Edwardsiella ictaluri, rô phi, nheo Mỹ, độc lực, nhiễm chéo.  
Comparison and Evaluation of Cross-infection Possibility of Edwardsiella ictaluri Isolated  
from Tilapia and Channel Catfish under the Experimental Conditions  
ABSTRACT  
The study was conducted to compare and evaluate the cross-infection possibility of Edwardsiella ictaluri causing  
diseases in tilapia and Channel catfish. The strains of E. ictaluri isolated from tilapia and Channel catfish were  
compared based on the biochemical characteristics, PCR confirmation, lethal doses and the possibility of cross-  
infection among other fish species. The results revealed that E. ictaluri isolated from tilapia and Channel catfish  
differed in 2/22 biochemical reactions (citrate utilization, Voges-proskauer) but they were identical in PCR assay. The  
virulence of E. ictaluri strains from tilapia was high when they were challenged to tilapia (LD50 = 2.5 101 CFU/fish)  
but remarkably decreased to Channel catfish (LD50 = 2.0 106 CFU/fish). Similarly, the isolates from Channel catfish  
exhibited a high virulence in this fish (LD50 = 4.7 103 CFU/fish) but reduced their pathogenicity to tilapia  
(LD50 = 2.5 106 CFU/fish). The primary result demonstrates that E. ictaluri causing diseases in Channel catfish and  
tilapia differed in several characteristics. However, they cause relatively high mortality of fish when cross-infection  
among fish species at high bacterial densities. Thus, biosafety is required to avoid the spreading of pathogens in the  
culture systems.  
Keywords: Edwardsiella ictaluri, tilapia, Channel catfish, lethal dose, cross-infection ability.  
nên được người nuôi lựa chọn và dần trở thành  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
một trong những loài phổ biến ở khu vực phía  
Bắc, đặc biệt là các mô hình nuôi lồng bè hiện  
đang được phát triển và mở rộng nhanh trên  
Cá nheo Mỹ (Ictalurus punctatus) là đối  
tượng nuôi mới, lớn nhanh, có giá trị kinh tế cao  
605  
So sánh và đánh giá khả năng nhiễm chéo của vi khuẩn Edwardsiella ictaluri phân lập từ cá rô phi và cá nheo Mỹ  
trong điều kiện thực nghiệm  
sông và các hồ chứa (Trương Đình Hoài & cs.,  
2020; Kim Văn Vạn, 2017). Cá rô phi  
(Oreochromis sp.) cũng là đối tượng nuôi truyền  
thống quan trọng của Việt Nam, đặc biệt có sự  
phát triển rộng khắp về diện tích nuôi ở nhiều  
tỉnh Miền Bắc trong những năm gần đây. Cá rô  
phi được coi là đối tượng nuôi chủ lực, được tạo  
điều kiện mở rộng quy mô nuôi và tăng sản  
lượng để phục vụ chế biến và xuất khẩu. Năm  
2018, xuất khẩu cá rô phi đạt 7.900 tấn với tổng  
giá trị đạt khoảng 15,3 triệu USD. Năm 2019,  
xuất khẩu cá rô phi đạt hơn 8.000 tấn với kim  
ngạch 16 triệu USD. Bộ Nông nghiệp và Phát  
triển Nông thôn đã đề ra mục tiêu nâng sản  
lượng cá rô phi từ 225.000 tấn (2017) lên  
400.000 tấn vào 2030, ở thời điểm này diện tích  
nuôi có thể tăng lên 40.000ha và 1,8 triệu m3  
nuôi lồng (MARD, 2019). Chính vì vậy, hiện nay  
các mô hình nuôi cá nheo Mỹ và cá rô phi đang  
phát triển mạnh, mang lại lợi nhuận cao, giải  
quyết sinh kế, mang lại thu nhập và giải quyết  
công ăn việc làm cho người dân địa phương.  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Vật liệu nghiên cứu  
Cá rô phi (n = 40) và cá nheo Mỹ (n = 20)  
nhiễm bệnh và các chủng vi khuẩn E. ictaluri  
phân lập và giám định từ cá rô phi (n = 4) và cá  
nheo Mỹ (n = 4) thu từ các vùng nuôi lồng khu  
vực phía Bắc Việt Nam năm 2020. Cá rô phi (cỡ  
30-40g) và cá nheo Mỹ (cỡ 40-50g) phục vụ đánh  
giá độc lực và cảm nhiễm chéo. Môi trường  
Tryptic soya broth và Tryptic soya Agar (TSB và  
TSA; Merck). Bộ thuốc nhuộm vi khuẩn Gram  
(Merck); kit chiết tách DNA thương mại Insta  
Gene Matrix (Bio-Rad), GoTaq PCR green  
(Promega) và các hóa chất, máy móc, thiết bị  
trong phòng thí nghiệm phục vụ trong kỹ thuật  
PCR, phân tích kết quả, hệ thống bể thí nghiệm  
và một số trang thiết bị dụng cụ cần thiết khác.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
2.2.1. Địa điểm và phương pháp thu mẫu  
Một vấn đề đặt ra hiện nay là dịch bệnh do  
Edwardsiella ictaluri đã và đang xuất hiện, gây  
bệnh trên cả cá nheo Mỹ (Trương Đình Hoài &  
cs., 2020), cá rô phi (Dong & cs., 2019; Soto &  
cs., 2012) tại Việt Nam. Tuy nhiên, sự xuất hiện  
của vi khuẩn E. ictaluri gây bệnh cho cả cá nheo  
Mỹ và cá rô phi có liên quan đến nhau hay  
không, vi khuẩn E. ictaluri gây bệnh trên cá  
nheo Mỹ và cá rô phi có giống nhau về đặc tính  
sinh học và có thể lây chéo cho nhau hay không  
là những câu hỏi cần được giải đáp để đề ra giải  
pháp trong quá trình phòng trị bệnh trên các hệ  
thống nuôi hiện nay.  
Để thực hiện nghiên cứu, chúng tôi đã tiến  
hành thu thập mẫu cá nheo Mỹ và cá rô phi nuôi  
lồng trên sông và hồ chứa nhiễm bệnh, có dấu  
hiệu hoại tử nội tạng và gây chết với tỷ lệ cao tại  
một số tỉnh miền Bắc như Hưng Yên, Hải Dương,  
Thái Bình và Hòa Bình. Mẫu được vận chuyển về  
và phân tích tại Phòng thí nghiệm Bệnh thủy  
sản, Khoa Thủy sản, Học viện Nông nghiệp Việt  
Nam, bằng phương pháp vận chuyển kín. Thời  
gian thu thập mẫu và thực hiện các thí nghiệm  
từ tháng 3 đến tháng 11/2020.  
2.2.2. Phân lập vi khuẩn gây bệnh  
Sau khi giải phẫu, tiến hành lựa chọn  
những cá thể cá có dấu hiệu bệnh tích điển hình  
của bệnh do vi khuẩn E. ictaluri như xuất hiện  
nhiều đốm hoại tử trên các cơ quan gan, thận,  
lách. Dùng que cấy vô trùng thu mẫu vi khuẩn  
từ tiền thận cá bị bệnh và nuôi cấy trên môi  
trường TSA ở nhiệt độ 28C. Các chủng vi  
khuẩn phân lập được quan sát hình dạng, màu  
sắc, kích thước khuẩn lạc và xác định hình thái  
vi khuẩn bằng nhuộm Gram theo hướng dẫn  
của nhà sản xuất kit nhuộm Gram (Merck). Các  
chủng vi khuẩn sau phân lập được sử dụng để  
thử đặc tính sinh hóa bằng kít API 20E theo  
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành  
phân lập và giám định các chủng vi khuẩn  
E. ictaluri gây bệnh trên cá rô phi và cá nheo  
Mỹ nuôi lồng trên các hệ thống sông và hồ chứa  
ở một số tỉnh miền Bắc. Các chủng vi khuẩn sau  
đó được xác định mức độ độc lực trên động vật  
cảm nhiễm và được gây nhiễm chéo để so sánh  
và đánh giá khả năng gây bệnh giữa 2 loài cá ký  
chủ. Kết quả nghiên cứu nhằm cung cấp thông  
tin cho việc xây dựng các giải pháp phòng trừ  
dịch bệnh do E. ictaluri trên 2 đối tượng nuôi  
đang được ưa chuộng và phát triển mạnh tại  
miền Bắc Việt Nam.  
606  
Đoàn Thị Nhinh, Đặng Thị Hóa, Trần Thị Trinh, Lê Việt Dũng,  
Nguyễn Thị Hương Giang, Kim Văn Vạn, Đặng Thị Lụa, Trương Đình Hoài  
hướng dẫn của nhà sản xuất (BioMerieux,  
2.2.4. Phương pháp cảm nhiễm xác định liều  
Pháp) và bảo quản trong môi trường TSB bổ  
sung 20% glycerol (v/v) và giữ trong điều kiện  
âm sâu (-80C) theo phương pháp của Trương  
Đình Hoài & cs. (2019) và Trương Đình Hoài &  
cs. (2020) để sử dụng cho các nội dung nghiên  
cứu tiếp theo.  
gây chết LD50  
Sau khi phân lập và giám định bằng kỹ  
thuật PCR, 4 chủng vi khuẩn E. ictaluri gây  
bệnh từ mỗi loài cá với triệu chứng và bệnh tích  
điển hình được lựa chọn phục vụ thí nghiệm  
cảm nhiễm để xác định liều gây chết 50% (LD50)  
cho từng chủng. Các chủng vi khuẩn được nuôi  
cấy vào môi trường Nutrient Broth đạt mật độ  
5,0 108 CFU/ml (xác định bằng phương pháp  
đếm đĩa kết hợp đo mật độ quang ở bước sóng  
OD600). Dãy nồng độ vi khuẩn có nồng độ từ 102  
đến 108 CFU/ml cho mỗi chủng vi khuẩn được  
chuẩn bị để cảm nhiễm cho cá với liều 0,1 ml/cá  
(tương ứng với liều 101 đến 107 CFU/cá).  
2.2.3. Định danh và giám định vi khuẩn  
Edwardsiella ictaluri  
DNA từ vi khuẩn (n = 8; 4 chủng phân lập  
từ cá nheo Mỹ, 4 chủng phân lập từ cá rô phi)  
được tách chiết theo kit InstaGene™ Matrix  
(Bio-Rad). Quy trình chiết tách DNA được thực  
hiện theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Kỹ  
thuật PCR dùng để giám định các chủng vi  
khuẩn sử dụng cặp mồi đặc hiệu khuếch đại  
đoạn gene 16S rRNA và gene xác định loài vi  
khuẩn E. ictaluri (Bảng 1).  
Cá nheo Mỹ và cá rô phi được nuôi thích  
nghi 7 ngày trước khi sử dụng cho các thí  
nghiệm, được lấy mẫu kiểm tra để đảm bảo cá  
khỏe mạnh và không nhiễm bệnh. Với mỗi  
chủng vi khuẩn thử nghiệm, sử dụng hệ thống  
bể nuôi loại 100 lít, mỗi bể nuôi chứa 15 cá, được  
tiêm các nồng độ vi khuẩn từ 101 đến 107  
CFU/cá, và 1 bể đối chứng được tiêm Phosphat  
buffer saline (PBS), thí nghiệm được lặp lại 3  
lần. Liều gây chết LD50 được tính theo phương  
pháp của Reed & Muench (1938). Môi trường  
nước nuôi thí nghiệm được duy trì ở nhiệt độ 27  
± 1C, pH 7,0-7,5 và không tiến hành thay nước  
trong quá trình nuôi cảm nhiễm. Những thay  
đổi về tập tính của cá, dấu hiệu bệnh lý và số  
lượng cá chết hàng ngày được theo dõi và ghi  
chép. Mẫu mô gan, thận, lách của cá cảm nhiễm  
được nhuộm Gram để kiểm tra sự hiện diện của  
vi khuẩn trong cơ thể, tiến hành phân lập và  
giám định lại vi khuẩn từ cá được cảm nhiễm  
bằng kỹ thuật PCR. Thí nghiệm được thực hiện  
trong 14 ngày sau khi tiêm cảm nhiễm.  
Thành phần phản ứng PCR bao gồm: 5,5  
nuclease-free water; 12,5µl 2X Go Taq green  
master mix (Promega); 1µl Mồi ngược (10  
pmole); 1µl mồi xuôi (10 pmole) và 5µl khuôn  
mẫu DNA. Đối chứng dương sử dụng trong phản  
ứng PCR là chủng Edwardsiella ictaluri LMG  
7860, đây là chủng đối chứng dương chuẩn quốc  
tế phân lập từ cá nheo Mỹ (Ictalurus punctatus)  
được cung cấp từ Viện Nghiên cứu Nuôi trồng  
thủy sản II.  
Chu trình nhiệt được thực hiện đối với đoạn  
mồi xác định giống Edwardsiella bao gồm: tiền  
biến tính ở 94°C trong 3 phút; chu kỳ lặp lại 30  
lần: biến tính ở 94°C trong 30 giây, gắn mồi ở  
55°C trong 30 giây, tổng hợp kéo dài ở 72°C  
trong 2 phút; hoàn thành ở 72°C trong 5 phút.  
Chu trình nhiệt được thực hiện đối với đoạn mồi  
xác định loài Ed –ictaluri có 3 bước bao gồm:  
tiền biến tính ở 94°C trong 3 phút; chu kỳ lặp  
lại 35 lần: biến tính ở 94°C trong 30 giây, gắn  
mồi ở 62°C trong 30 giây, tổng hợp kéo dài ở  
72°C trong 60 giây; hoàn thành ở 72°C trong 5  
phút (Sakai & cs., 2009). Sản phẩm PCR được  
điện di trên gel 1,5% (TBE 1X) với thang DNA  
chuẩn 100bp (marker). Sử dụng nguồn điện di ở  
hiệu điện thế 100V cường độ 100mA, thời gian  
chạy điện di trong 30 phút. Sản phẩm PCR nếu  
dương tính sẽ cho vạch sáng ở vị trí lần lượt là  
848 và 470bp.  
2.2.5. Gây nhiễm chéo  
Sau khi xác định được giá trị LD50 của các  
chủng vi khuẩn E. ictaluri phân lập từ cá rô phi  
và cá nheo Mỹ. Tiến hành lựa chọn chủng có giá  
trị LD50 thấp nhất (độc lực cao nhất) để tiến  
hành cảm nhiễm chéo. Thí nghiệm gây nhiễm  
chéo được bố trí và thực hiện tương tự như thí  
nghiệm xác định liều gây chết LD50 đã trình bày  
ở phần 2.2.4. Tuy nhiên, điểm khác biệt trong  
607  
So sánh và đánh giá khả năng nhiễm chéo của vi khuẩn Edwardsiella ictaluri phân lập từ cá rô phi và cá nheo Mỹ  
trong điều kiện thực nghiệm  
thí nghiệm này là chủng vi khuẩn có độc lực cao  
phân lập từ cá rô phi được sử dụng để tiêm chéo  
cho cá nheo Mỹ và ngược lại. Dãy nồng độ vi  
khuẩn sử dụng để tiêm chéo là từ 101-107  
CFU/cá. Môi trường nước của các bể thí nghiệm  
được giữ ở nhiệt độ 27±1C, pH 7,0-7,5 và không  
tiến hành thay nước trong quá trình cảm nhiễm.  
Tình trạng sức khỏe, dấu hiệu bệnh lý và số  
lượng cá chết hàng ngày được theo dõi và ghi  
chép chi tiết. Các mẫu cá chết sau quá trình  
cảm nhiễm được giải phẫu để tổng hợp triệu  
chứng bệnh tích và phân lập vi khuẩn. Vi khuẩn  
sau phân lập lại được thử đặc tính sinh hóa và  
giám định bằng kỹ thuật PCR. Dấu hiệu lâm  
sàng, khả năng gây chết khi gây nhiễm trực tiếp  
và gây nhiễm chéo được so sánh và đánh giá.  
Thí nghiệm được thực hiện trong 14 ngày sau  
khi tiêm cảm nhiễm.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Kết quả kiểm tra đặc điểm bệnh tích,  
phân lập và giám định Edwardsiella  
ictaluri từ cá rô phi và nheo Mỹ  
Cá rô phi và cá nheo Mỹ nhiễm bệnh  
xuất hiện các triệu chứng và bệnh tích điển  
hình do vi khuẩn E. ictaluri gây ra (Hình 1).  
Quan sát lâm sàng và giải phẫu kiểm tra cho  
thấy, cá nheo Mỹ nhiễm bệnh thường xuất hiện  
các đốm mủ tập trung dày ở gan và phân bố rải  
rác ở thận, trong khi đó với cá rô phi nhiễm  
bệnh, các đốm mủ thường xuất hiện nhiều ở  
lách, thận (đặc biệt là thận trước), tần xuất bắt  
gặp đốm mủ trên gan rất thấp so với trên cá  
nheo Mỹ.  
Chúng tôi tiến hành phân lập, thử đặc tính  
sinh hóa và giám định bằng kỹ thuật PCR cho 4  
chủng đại diện phân lập từ mỗi loài cá. Kết quả  
cho thấy, vi khuẩn E. ictaluri phân lập từ 2 loài  
cá đều phát triển trên môi trường thạch TSA  
sau 48h nuôi cấy trong điều kiện 28C, khuẩn  
lạc có kích cỡ nhỏ, dạng đầu kim, màu trắng đục  
có rìa và bề mặt không đồng nhất. Vi khuẩn  
Gram âm, có dạng hình que (Hình 2).  
2.2.6. Xử lý số liệu  
Các giá trị LD50, tỷ lệ sống của cá trong các  
lô thí nghiệm và nồng độ gây nhiễm đều được  
biểu diễn dưới dạng giá trị trung bình cộng và  
độ lệch chuẩn (SD) sử dụng phần mềm  
Microsoft Excel.  
Bảng 1. Các cặp mồi sử dụng để giám định vi khuẩn Edwardsiella ictaluri  
phân lập từ cá nheo Mỹ và cá rô phi  
Gen đích  
Ed genus  
Trình tự đoạn mồi (5′→3′)  
F: ACAGCCTGGAAGAGTCCTAC  
R: TTGAGAGTCGCTGCTTAC  
F: CAGATGAGCGGATTTCACAG  
R: CGCGCAATTAACATAGAGCC  
Độ dài gen đích (bp)  
848  
Nguồn tham khảo  
Sakai & cs. (2009)  
Ed-ictaluri  
470  
Hình 1. Bệnh tích trên cá nheo Mỹ (A) và cá rô phi (B) nhiễm vi khuẩn E. ictaluri  
với đốm mủ trắng trên gan, thận ở cá nheo Mỹ và trên lách, thận ở cá rô phi (mũi tên)  
608  
Đoàn Thị Nhinh, Đặng Thị Hóa, Trần Thị Trinh, Lê Việt Dũng,  
Nguyễn Thị Hương Giang, Kim Văn Vạn, Đặng Thị Lụa, Trương Đình Hoài  
Hình 2. Vi khuẩn E. ictaluri phát triển trên môi trường TSA, hình thái khuẩn lạc  
và hình dạng vi khuẩn E. ictaluri phân lập từ cá nheo Mỹ (A-C) và cá rô phi (D-E)  
Kết quả kiểm tra các đặc tính sinh hóa của  
các chủng vi khuẩn phân lập được tổng hợp ở  
bảng 2 cho thấy 04 chủng vi khuẩn gây bệnh  
trên cá rô phi phân lập được trong nghiên cứu  
2019), trong khi các chủng phân lập được từ cá  
nheo Mỹ trong nghiên cứu có đặc tính sinh hóa  
hoàn toàn tương đồng với chủng E. ictaluri phân  
lập được trên cá tra (Nguyễn Thị Ngọc Huyền &  
Đặng Thị Hoàng Oanh, 2020) và trên cá nheo  
Mỹ đã phân lập trước đây (Hawke & cs., 1981).  
(RPHB-02.20,  
RPTQ-04.20,  
RPHD-05.20,  
RPTB-05.20) có kết quả khác biệt đối với 2 phản  
ứng sinh hóa (Citrate utilization và Voges-  
proskauer) so với 04 chủng phân lập được trên  
cá nheo Mỹ nhiễm bệnh (NMHB-03.20, NMTQ-  
06.20, NMHD-04.20, NMTB-08.20) (Bảng 2). So  
sánh và đối chiếu kết quả thử đặc tính sinh hóa  
thu được trong nghiên cứu hiện tại với nghiên  
cứu trước đây cho thấy, các chủng vi khuẩn E.  
ictaluri phân lập được từ cá rô phi trong nghiên  
cứu đều có sự tương đồng ở hầu hết các chỉ tiêu  
sinh hóa với chủng phân lập bởi Dong & cs.  
(2019). Sự khác biệt chỉ thể hiện ở phản ứng  
citrate utilization, trong khi 4/4 chủng vi khuẩn  
phân lập được trong nghiên cứu đều cho kết quả  
thử (+), chỉ có 3/4 chủng phân lập bởi Dong & cs.  
(2019) cho kết quả (+) và 1/4 chủng cho kết quả  
(-). Kết quả (+) với phản ứng citrate của các  
chủng từ cá rô phi trong nghiên cứu cũng tương  
đồng với đặc tính của chủng E. ictaluri phân lập  
từ cá điêu hồng ở khu vực Nam Bộ (Nguyễn Thị  
Ngọc Huyền & Đặng Thị Hoàng Oanh, 2020;  
Trương Trọng Nghĩa & Đặng Thị Hoàng Oanh,  
Kết quả giám định bằng kỹ thuật PCR cho  
thấy 4 chủng E. ictaluri phân lập được từ cá  
nheo Mỹ và 4 chủng phân lập được từ cá rô phi  
đều cho kết quả dương tính với cả 2 cặp mồi: cặp  
mồi giám định giống Edwardsiella (848bp) và  
cặp mồi giám định loài E. ictaluri (470bp) sử  
dụng trong nghiên cứu. Do vậy, tất cả các chủng  
vi khuẩn phân lập được đều được định danh là  
E. ictaluri (Hình 3).  
3.2. Kết quả xác định liều gây chết 50%  
trên cá thí nghiệm của các chủng vi khuẩn  
E. ictaluri  
Kết quả gây nhiễm thực nghiệm xác định  
liều gây chết 50% của 04 chủng vi khuẩn gây  
bệnh trên cá nheo Mỹ và 04 chủng phân lập từ  
rô phi được thể hiện ở bảng 3 cho thấy giá trị  
LD50 của các chủng vi khuẩn phân lập từ cá rô  
phi ở mức 2,5-2,9 × 101 CFU/cá, trong khi các  
chủng vi khuẩn phân lập từ cá nheo Mỹ có giá  
trị LD50 trong khoảng 4,7-5,4 × 103 CFU/cá.  
609  
So sánh và đánh giá khả năng nhiễm chéo của vi khuẩn Edwardsiella ictaluri phân lập từ cá rô phi và cá nheo Mỹ  
trong điều kiện thực nghiệm  
Trong đó chủng E. ictaluri NMHB-03.20 phân  
lập từ cá nheo Mỹ và chủng vi khuẩn E. ictaluri  
RPHB-02.20 phân lập từ cá rô phi có độc lực cao  
nhất, tương ứng với liều LD50 thấp nhất, lần  
lượt là 4,7 × 103 CFU/cá và 2,5 × 101 CFU/cá.  
xuất hiện ở gan. Bệnh tích đại thể chính biểu  
hiện trên gan là xuất huyết và tụ huyết (Hình  
5). Tất cả các lô cá được cảm nhiễm bệnh bị chết  
hoặc còn sống sau 14 ngày thí nghiệm đều được  
giám định đúng tác nhân gây bệnh là E. ictaluri  
bằng các phương pháp nhuộm tươi, nuôi cấy và  
giám định lại bằng kỹ thuật PCR. Như vậy, cá  
thí nghiệm sau khi được cảm nhiễm bằng vi  
khuẩn phân lập từ đúng loài cá ký chủ biểu  
hiện các triệu chứng và bệnh tích điển hình  
tương tự như trên cá nhiễm bệnh tự nhiên thu  
ngoài thực địa (Trương Đình Hoài & cs., 2020;  
Dong & cs., 2019).  
Kết quả kiểm tra triệu chứng bệnh tích trên  
cá thí nghiệm cho thấy cá nheo Mỹ sau khi gây  
nhiễm xuất hiện các đốm trắng hoại tử tập  
trung nhiều ở gan và thận, rất ít xuất hiện đốm  
trắng ở lách (Hình 4). Trong khi đó, cá rô phi  
sau khi được tiêm cảm nhiễm vi khuẩn  
E. ictaluri có xuất hiện các đốm mủ trắng tập  
trung chủ yếu ở lách và thận, ít quan sát thấy  
Bảng 2. So sánh đặc tính sinh hóa  
của các chủng vi khuẩn E. ictaluri gây bệnh cho cá nheo Mỹ và cá rô phi  
Chủng E. ictaluri trên cá rô phi  
Chủng E. ictaluri trên cá nheo Mỹ  
NMHB-03.20  
RPHB-02.20  
Đặc điểm sinh hóa  
NMTQ-06.20  
NMHD-04.20  
NMTB-08.20  
Đối chứng  
(Dong & cs., 2019)  
RPTQ-04.20  
RPHD-05.20  
RPTB-05.20  
Đối chứng  
(Hawke & cs., 1981)  
Nhuộm gram  
Gram âm  
Gram âm  
Gram âm  
Gram âm  
Hình thái vi khuẩn  
Oxidase  
Trực khuẩn  
Trực khuẩn  
Trực khuẩn  
Trực khuẩn  
-
+
-
-
+
-
-
+
-
-
+
-
Catalase  
ONPG  
Arginine dihydrolase  
Lysine decarboxylase  
Ornithine decarboxylase  
Citrate utilization  
H2S production  
Urease  
-
-
-
-
+
-
+
-
+
+
-
+
+
-
+
-
D
-
-
-
-
-
-
-
TDA  
-
-
-
-
Indole production  
Voges-proskauer  
Gelatin  
-
-
-
-
+
-
+
-
-
-
-
-
Acid production  
D-glucose  
+
-
-
-
-
-
-
-
-
+
-
-
-
-
-
-
-
-
+
-
-
-
-
-
-
-
-
+
-
-
-
-
-
-
-
-
D-mannitol  
Inositol  
D-sorbitol  
L-rhamnose  
D-sucrose  
D-melibiose  
Amygdalin  
L-arabinose  
Ghi chú: D: dao động (+ hoặc -).  
610  
Đoàn Thị Nhinh, Đặng Thị Hóa, Trần Thị Trinh, Lê Việt Dũng,  
Nguyễn Thị Hương Giang, Kim Văn Vạn, Đặng Thị Lụa, Trương Đình Hoài  
Hình 3. Kết quả giám định PCR các chủng E. ictaluri trên cá nheo Mỹ (A-B)  
và cá rô phi (C-D) sử dụng cặp mồi định danh giống Edwardsiella (848bp)  
và cặp mồi định danh loài Edwardsiella ictaluri (470bp)  
Bảng 3. Kết quả xác định liều gây chết 50% cá thí nghiệm (LD50)  
của các chủng vi khuẩn E. ictaluri phân lập được từ cá bệnh  
Loài cá phân lập  
Cá nheo Mỹ  
Tên chủng vi khuẩn  
E. ictaluri NMHB-03.20  
E. ictaluri NMTQ-06.20  
E. ictaluri NMHD-04.20  
E. ictaluri NMTB-08.20  
E. ictaluri RPHB-02.20  
E. ictaluri RPTQ-04.20  
E. ictaluri RPHD-05.20  
E. ictaluri RPTB-05.20  
Loài cá cảm nhiễm  
Nheo Mỹ  
Địa điểm thu mẫu  
Hòa Bình  
Liều gây chết LD50* (CFU/cá)  
4,7 × 103  
Tuyên Quang  
Hải Dương  
Thái Bình  
5,4 ×103  
4,9 ×103  
5,3 × 103  
2,5 × 101  
2,8 ×101  
Cá rô phi  
Rô phi  
Hòa Bình  
Tuyên Quang  
Hải Dương  
Thái Bình  
2,7 × 101  
2,9 ×101  
Ghi chú: *Liều gây chết LD50 trung bình của 3 lần thí nghiệm lặp lại.  
và cá nheo Mỹ tại hồ Hòa Bình. Kết quả xác  
định độc lực, khả năng gây chết khi gây nhiễm  
chéo được thể hiện ở hình 6 và hình 7.  
3.3. Kết quả gây nhiễm chéo và đánh giá  
độc lực  
Dựa vào kết quả đánh giá độc lực các chủng  
vi khuẩn gây bệnh cho từng loài cá, chủng vi  
khuẩn có độc lực cao nhất trên cá nheo Mỹ  
(E. ictaluri NMHB-03.20) và cá rô phi (E.  
ictaluri RPHB-02.20) được lựa chọn để gây  
nhiễm chéo cho nhau. Đây cũng là 2 chủng vi  
khuẩn được phân lập từ các trại nuôi cá rô phi  
Kết quả gây nhiễm chéo cho thấy vi khuẩn  
E. ictaluri NMHB-03.20 phân lập từ cá nheo  
Mỹ không thể hiện độc lực mạnh trên cá rô phi  
như khi gây nhiễm trực tiếp cho cá nheo Mỹ.  
Liều gây chết LD50 của chủng E. ictaluri  
NMHB-03.20 trên cá rô phi là 2,51 × 106  
611  
So sánh và đánh giá khả năng nhiễm chéo của vi khuẩn Edwardsiella ictaluri phân lập từ cá rô phi và cá nheo Mỹ  
trong điều kiện thực nghiệm  
CFU/cá. Ngoài ra, các biểu hiện bệnh tích trên  
cá rô phi khi tiêm cảm nhiễm chủng E. ictaluri  
NMHB-03.20 phân lập từ cá nheo Mỹ không  
giống với biểu hiện khi cá rô phi mắc bệnh  
ngoài thực địa, các đốm trắng đặc trưng chỉ  
xuất hiện rải rác ở thận, tần xuất bắt gặp ở  
gan cũng rất thấp và hoàn toàn không xuất  
hiện trong lách (Hình 8A). Tương tự như vậy,  
chủng vi khuẩn E. ictaluri RPHB-02.20 phân  
lập từ cá rô phi khi gây nhiễm cho cá nheo Mỹ  
có liều gây chết 50% LD50 là 1,99 × 106 CFU/cá,  
cao hơn rất nhiều so với giá trị LD50 khi gây  
nhiễm cho cá rô phi (2,5 × 101 CFU/cá). Kết quả  
kiểm tra tất cả các lô cá nheo Mỹ được gây  
nhiễm cũng không xuất hiện bệnh tích điển  
hình, không xuất hiện các đốm trắng hoại tử  
trên gan và thận như khi được gây nhiễm trực  
tiếp hoặc khi cá nhiễm bệnh tự nhiên ngoài  
thực địa (Hình 8C). Kiểm tra mẫu thận từ cá  
được gây nhiễm chéo bằng phương pháp nhuộm  
tươi đều cho thấy sự có mặt của vi khuẩn E.  
ictaluri mật độ cao trên mẫu mô thận (Hình 8B  
và 8D). Như vậy, mặc dù tồn tại với mật độ cao  
trong cơ thể cá cảm nhiễm nhưng khả năng gây  
bệnh của vi khuẩn E. ictaluri trên loài cá được  
gây nhiễm chéo đã giảm đi rất đáng kể.  
Ghi chú: A-C: Các đốm trắng xuất hiện trên gan, thận cá; D: vi khuẩn E. ictaluri nhuộm tươi thận cá.  
Hình 4. Cá nheo Mỹ gây nhiễm thực nghiệm chủng vi khuẩn E. ictaluri NMHB-03.20  
Ghi chú: A-C: Các đốm trắng hoại tử xuất hiện rõ trên lách và thận cá; D: vi khuẩn E. ictaluri nhuộm tươi trên  
mẫu thận cá.  
Hình 5. Cá rô phi gây nhiễm thực nghiệm chủng vi khuẩn E. ictaluri RPHB-02.20  
612  
Đoàn Thị Nhinh, Đặng Thị Hóa, Trần Thị Trinh, Lê Việt Dũng,  
Nguyễn Thị Hương Giang, Kim Văn Vạn, Đặng Thị Lụa, Trương Đình Hoài  
Hình 6. Kết quả gây nhiễm thực nghiệm chủng E. ictaluri NMHB-03.20 trên cá rô phi  
Hình 7. Kết quả gây nhiễm thực nghiệm chủng E. ictaluri RPHB-02.20 trên cá nheo Mỹ  
Ghi chú: Cá rô phi được gây nhiễm chủng vi khuẩn phân lập từ cá nheo Mỹ (A) và sự hiện diện của vi khuẩn  
E. ictaluri trong thận cá rô phi cảm nhiễm (B). Cá nheo Mỹ được gây nhiễm chủng vi khuẩn phân lập từ cá rô  
phi (C) và sự hiện diện của vi khuẩn E. ictaluri trong thận cá nheo Mỹ được cảm nhiễm (D)  
Hình 8. Bệnh tích của cá được gây nhiễm chéo chủng vi khuẩn E. ictaluri  
613  
So sánh và đánh giá khả năng nhiễm chéo của vi khuẩn Edwardsiella ictaluri phân lập từ cá rô phi và cá nheo Mỹ  
trong điều kiện thực nghiệm  
Như vậy, có thể thấy khi gây nhiễm chéo  
chủng vi khuẩn E. ictaluri liều cao có thể gây  
chết cho cá nheo Mỹ và rô phi trong điều kiện  
thực nghiệm. Tuy nhiên so với gây nhiễm trực  
tiếp, khi được gây nhiễm chéo cho kết quả khác  
biệt về liều gây chết LD50, độc lực và dấu hiệu  
lâm sàng của bệnh. Kết hợp các kết quả xác  
định đặc điểm sinh hóa, giám định bằng PCR và  
kết quả gây nhiễm chéo có thể kết luận rằng vi  
khuẩn E. ictaluri gây bệnh ở cá nheo Mỹ và rô  
phi là có sự khác nhau về một số đặc tính sinh  
hóa, khả năng gây bệnh và bệnh tích gây ra  
trên từng loài cá. Sự suy giảm độc lực của vi  
khuẩn E. ictaluri khi được gây nhiễm sang loài  
cá ký chủ khác như giữa cá tra và cá điêu hồng  
hay từ cá nheo Mỹ sang cá rô phi đã được mô tả  
ở một số nghiên cứu trước đó. Kết quả nghiên  
cứu của nhóm tác giả Nguyễn Thị Ngọc Huyền  
& Đặng Thị Hoàng Oanh (2020) trên chủng  
E. ictaluri phân lập từ cá điêu hồng bị bệnh gan  
thận mủ chỉ có khả năng gây bệnh ở cá điêu  
hồng mà không gây bệnh ở cá tra. Tương tự như  
vậy, nghiên cứu tại Mỹ của Plumb & Sanchez  
(1983) cho thấy chủng vi khuẩn E. ictaluri phân  
lập từ cá nheo Mỹ không gây chết cho cá rô phi  
xanh khi được cảm nhiễm, trừ khi sử dụng liều  
tiêm rất cao (108 CFU/cá). Kết quả nghiên cứu  
chúng tôi một lần nữa cung cấp minh chứng  
chứng minh rằng chủng vi khuẩn E. ictaluri từ  
cá rô phi có sự khác biệt với chủng gây bệnh ở cá  
nheo Mỹ. Nghiên cứu gần đây của Griffin & cs.  
(2016) cho thấy chủng vi khuẩn E. ictaluri có  
nguồn gốc từ ký chủ khác nhau thì có sự khác  
biệt về hệ gene, đây có thể là lý do chính làm  
cho mức độ độc lực suy giảm khi gây nhiễm chéo  
giữa các loài. Do vậy, cần có thêm các nghiên  
cứu tiếp theo để giải trình tự toàn bộ hệ gene  
của chủng E. ictaluri phân lập từ cá nheo Mỹ và  
rô phi phân lập được trong nghiên cứu này để  
tìm ra điểm khác biệt về hệ gene giữa chúng,  
thiết lập được các cặp mồi đặc hiệu phục vụ  
chẩn đoán phân biệt chủng gây bệnh ở hai loài  
cá này.  
(LD50 = 4,7 × 102 CFU/cá) và gây ra các đốm  
hoại tử trên nội quan loài cá này với dấu hiệu  
bệnh lý tương tự như trên cá bệnh thu thập ở  
lồng bè nuôi ngoài thực địa ở một số tỉnh miền  
Nam. Kết hợp với kết quả thu mẫu và phân tích  
ở nhiều địa điểm khác nhau ở khu vực phía Bắc  
trong nghiên cứu này, có thể thấy rằng chủng  
E. ictaluri độc lực cao gây bệnh trên cá rô  
phi/điêu hồng có thể đã lây lan và hiện diện tại  
nhiều vùng nuôi cá rô phi của Việt Nam. Do  
vậy, cần có các giải pháp ngăn chặn để hạn chế  
dịch bệnh bùng phát và giảm thiểu gây thiệt hại  
cho nghề nuôi cá rô phi, phục vụ phát triển bền  
vững loài nuôi này.  
4. KẾT LUẬN  
Chủng Edwardsiella ictaluri gây bệnh trên  
cá nheo Mỹ và cá rô phi khác nhau về một số  
đặc tính sinh hóa nhưng tương đồng về kết quả  
phân tích PCR khi sử dụng 2 cặp mồi đặc hiệu  
phân tích giống Edwardsiella và loài E. ictaluri  
trên cá nheo Mỹ.  
Giá trị LD50 của chủng vi khuẩn phân lập  
từ cá rô phi và từ cá nheo Mỹ khi tiêm cho đúng  
loại ký chủ tương ứng ở mức 2,5-2,9 × 101  
CFU/cá và 4,7-5,4 × 103 CFU/cá. Khi được gây  
nhiễm chéo, mức độ độc lực của các chủng vi  
khuẩn đều suy giảm lớn với giá trị LD50 khi cảm  
nhiễm chủng phân lập cá nheo Mỹ cho rô phi và  
chủng phân lập từ rô phi cho cá nheo Mỹ tương  
ứng ở mức 2,51 × 106 CFU/cá và 1,99 × 106  
CFU/cá. Với nồng độ gây nhiễm cao (107  
CFU/cá) vẫn gây chết tỷ lệ cao (> 80%) trên loài  
cá được gây nhiễm chéo.  
Kết quả nghiên cứu là thông tin cần thiết  
cho việc xây dựng kế hoạch, quy hoạch phát triển  
các mô hình nuôi trên sông, hồ chứa và định  
hướng phòng trị bệnh do vi khuẩn E. ictaluri gây  
ra trên cá nheo Mỹ và cá rô phi nuôi khi hai loài  
cá này đang được phát triển nuôi tập trung trên  
cùng một hệ thống mở như hiện nay.  
Về mức độ lưu hành, theo kết quả của  
Nguyễn Trọng Nghĩa & Đặng Thị Hoàng Oanh  
(2019) khi cảm nhiễm chủng E. ictaluri phân  
lập từ cá điêu hồng có độc lực khá cao  
LỜI CẢM ƠN  
Nghiên cứu được thực hiện dưới sự tài trợ  
của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn  
614  
Đoàn Thị Nhinh, Đặng Thị Hóa, Trần Thị Trinh, Lê Việt Dũng,  
Nguyễn Thị Hương Giang, Kim Văn Vạn, Đặng Thị Lụa, Trương Đình Hoài  
KHCN trong nuôi cá rô phi quy mô hàng hóa, Hòa  
Bình, ngày 05/04/2019.  
trong khuôn khổ dự án Worldbank với mã số đề  
tài ĐTKHCN.WB.11/20. Tác giả xin chân  
thành cảm ơn sự hỗ trợ của các hộ nuôi cá nheo  
Mỹ và cá rô phi tại các tỉnh đã phối hợp thực  
hiện, tạo điều kiện thu mẫu để hoàn thành  
nghiên cứu này.  
Nguyễn Thị Ngọc Huyền & Đặng Thị Hoàng Oanh  
(2020). Đặc điểm bệnh học của vi khuẩn  
Edwardsiella ictaluri gây bệnh gan thận mủ trên cá  
tra (Pangasianodon hypophthalmus) và cá điêu  
hồng (Oreochromis sp.). Tạp chí Khoa học,  
Trường Đại học Cần Thơ. 56(1): 947-969  
Nguyễn Trọng Nghĩa & Đặng Thị Hoàng Oanh (2019).  
Khả năng gây bệnh của vi khuẩn Edwardsiella  
ictaluri trên cá điêu hồng (Oreochromis sp.).  
Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Cần Thơ.  
55: 123-131  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Dong H.T., Senapin S., Jeamkunakorn C., Nguyen  
V.V., Nguyen N.T., Rodkhum C., Khunrae P. &  
Rattanarojpong T. (2019). Natural occurrence of  
edwardsiellosis caused by Edwardsiella ictaluri in  
farmed hybrid red tilapia (Oreochromis sp.) in  
Southeast Asia. Aquaculture. 499: 17-23.  
Plumb J.A. & Sanchez D.J. (1983). Susceptibility of  
five species of fish to Edwardsiella ictaluri. J. Fish  
Dis. 6: 261-266.  
Griffin M., Reichley S., Greenway T., Quiniou S.,  
Ware C., Gao D., Gaunt P., Yanong R., Pouder D.  
& Hawke J. (2016). Comparison of Edwardsiella  
ictaluri isolates from different hosts and  
geographic origins. Journal of Fish Diseases.  
39(8): 947-969.  
Reed L.J. & Muench H. (1938) A simple method of  
estimating fifty per cent endpoints. American  
journal of epidemiology. 27: 493-497  
Sakai T., Yuasa K., Sano M. & Iida T. (2009).  
Identification of Edwardsiella ictaluri and E. tarda  
by species-specific polymerase chain reaction  
targeted to the upstream region of the fimbrial  
gene. J. Aquat. Anim. Health. 21: 124-132.  
Hawke J.P., Mcwhorter A.C., Steigerwalt A.G. &  
Brenner D.J. (1981). Edwardsiella ictaluri sp.  
nov., the causative agent of enteric septicemia of  
catfish. International Journal of Systematic and  
Evolutionary Microbiology. 31(4): 396-400.  
Soto E., Griffin M., Arauz M., Riofrio A., Martinez A.,  
& Cabrejos M.E. (2012). Edwardsiella ictaluri as  
the causative agent of mortality in cultured Nile  
tilapia. Journal of Aquatic Animal Health.  
24(2): 81-90.  
Hoai T.D., Trang T.T., Van Tuyen N., Giang N.T.H. &  
Van Van K. (2019). Aeromonas veronii caused  
disease and mortality in channel catfish in  
Vietnam. Aquaculture. 513: 734425.  
Trương Đình Hoài, Kim Văn Vạn, Đào Lê Anh,  
Nguyễn Thị Huyên, Nguyễn Văn Tuyến, Vũ Đức  
Mạnh, Nguyễn Thị Hương Giang, Trương Quang  
Lâm & Nguyễn Thị Lan (2020). Đặc điểm bệnh lý  
và ứng dụng phương pháp PCR chẩn đoán bệnh  
gan thận mủ trên cá nheo Mỹ (Ictalurus  
punctatus). Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt  
Nam. 18(2): 94-104.  
Kim Văn Vạn (2017). Xây dựng mô hình nuôi cá nheo  
mỹ (Ictalurus punctatus) trong ao tại Hưng Yên.  
Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.  
15(6): 738-745.  
MARD (2019). Quy hoạch phát triển nuôi cá rô phi đến  
năm 2020, định hướng 2030. Diễn đàn ứng dụng  
615  
pdf 11 trang yennguyen 13380 Free
Bạn đang xem tài liệu "So sánh và đánh giá khả năng nhiễm chéo của vi khuẩn Edwardsiella ictaluri phân lập từ cá rô phi và cá nheo Mỹ trong điều kiện thực nghiệm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfso_sanh_va_danh_gia_kha_nang_nhiem_cheo_cua_vi_khuan_edwards.pdf