Mô hình giá kì vọng của nông hộ nuôi tôm ở Cà Mau
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
MÔ HÌNH GIÁ KÌ VỌNG CỦA NÔNG HỘ NUÔI TÔM Ở CÀ MAU
PRICE EXPECTATION MODELING FOR SHRIMP FARMERS
IN CA MAU
Lê Nhị Bảo Ngọc1
Tóm tắt – Nghiên cứu xây dựng mô hình giá kì vọng của nông hộ nuôi tôm
sú Cà Mau. Số liệu trong nghiên cứu được thu thập bằng phỏng vấn trực tiếp 97
nông hộ tại tỉnh Cà Mau. Dựa trên tổng hợp của Fisher và Tanner (1978), 06 mô
hình về kì vọng giá của nông hộ được ước lượng. Mô hình giá kì vọng của
Nerlove phù hợp với số liệu quan sát nhất. Theo đó, giá kì vọng của nông hộ được
xác định dựa trên giá trễ một kì và sự điều chỉnh kì vọng so với giá thị trường của
nông hộ trong kì trước. Kết quả nghiên cứu còn chỉ ra giá kì vọng của nông hộ có
tương quan dương với giá trễ trên thị trường.
Từ khóa: giá kì vọng, giá thị trường, tôm sú, tỉnh Cà Mau.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Giá kì vọng là một phần quan trọng của nhiều mô hình kinh tế hành vi bởi
giá kì vọng tác động đến kế hoạch sản xuất, mục đích sản xuất của nông dân; mức
độ không chắc chắn ảnh hưởng đến viꢀc tổ chức các nguồn lực, quyết định cung.
Giá kì vọng đóng vai trò then chốt trong sản xuất. Mặc dù vậy, thực tế rất hiếm
khi người sản xuất biết giá kì vọng được thiết lập bằng cách nào; cũng như vai trò
nền tảng của giá kì vọng tác động đến quyết định cung của người sản xuất [1], [2].
Giá kì vọng sẽ giúp di chuyển hoạt động sản xuất sang hướng khác hay
thông tin tiếp nhận sẽ giúp người sản xuất tạo ra sự dịch chuyển nguồn lực hiꢀu
quả [3]. Nói cách khác, nếu người sản xuất kì vọng trong tương lai giá hàng hóa
sẽ tăng thì họ quyết định tăng cung hàng hóa. Nghiên cứu các nhà quản lí và các
nhà kinh tế học sử dụng phương pháp đo lường giá kì vọng dựa trên số liꢀu điều
tra [1]. Khi đó, giá kì vọng được thu thập đông đảo từ những người trực tiếp tham
gia sản xuất về những thay đổi có thể xảy ra trong tương lai; cũng như phản ánh
được sự đa dạng có thể của các nhóm người sản xuất khác nhau [4].
Giá kì vọng rất quan trọng đối với quyết định sản xuất có độ trễ lớn bởi giá
kì vọng có khả năng làm thay đổi chu kì sản xuất, tiềm ẩn sự bất ổn định trong thị
trường [5]. Những phân tích trên cho thấy viꢀc nghiên cứu nhằm xác định cơ sở
giả thuyết xây dựng mô hình giá kì vọng đồng thời đánh giá hiꢀu quả của mô hình
125
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
kì vọng giá là thật sự cần thiết [6], [7]. Do đó, để đạt được mục tiêu nghiên cứu
đặt ra, tác giả tiến hành phỏng vấn nông hộ nuôi tôm tại 4 huyꢀn (Cái Nước, Trần
Văn Thời, Đầm Dơi, Phú Tân) tỉnh Cà Mau, với 97 nông hộ và ước lượng phương
nhỏ nhất OLS (Ordinary Least Squares) để xây dựng mô hình giá kì vọng. Kết
quả nghiên cứu nhằm cung cấp thông tin về viꢀc xác định giá kì vọng của người
sản xuất trong quá trình đưa ra quyết định sản xuất. Đồng thời, nghiên cứu nguồn
tài liꢀu bổ sung cho các lĩnh vực nghiên cứu còn hạn chế về hành vi của nông hộ,
phân tích giá và là cơ sở để thiết lập mô hình giá kì vọng trong nghiên cứu cung
nông sản.
2. CƠ SỞ LÍ THUYẾT
2.1. Cách tiếp cận mô hình giá với các giả thuyết kì vọng
Trong kinh tế học, kì vọng liên quan đến dự báo của người tham gia hoạt động
kinh tế mức giá, số lượng hàng hóa sản xuất, số lượng hàng hóa cung trên thị trường,
thu nhập hoặc các biến số khác trong tương lai. Nerlove là người đầu tiên đưa kì vọng
vào phân tích điều chỉnh cung [6]. Tiếp đến, Muth [8] đưa kì vọng vào phân tích biến
động giá cả và sau đó, nhà kinh tế như Nerlove [6] là những người tiên phong đưa kì
vọng vào hꢀ thống lí thuyết kinh tế. Theo các nhà kinh tế, có hai loại giả thuyết kì
vọng. Đó là giả thuyết kì vọng thích ứng-AE (Adaptive Expectations) và giả thuyết kì
vọng hợp lí-RE (Rational Expectations). Giả thuyết AE ngụ ý là người ta nghĩ về
ngày mai dựa vào những gì xảy hôm nay, hôm qua và học hỏi thêm từ thực tế để điều
chỉnh kì vọng [9]. Đến năm 1961, giả thuyết RE của Muth [8] cho rằng người ta kì
vọng hiꢀu quả khi thông tin sẵn có vào thời điểm kì vọng hình thành, có kiến thức
sâu, hiểu được cơ chế thị trường, các chính sách vĩ mô (chính sách giá, quy hoạch sản
xuất,...). Các giả thuyết kì vọng đóng vai trò quan trọng trong lí thuyết kinh tế vì
chúng quyết định hành vi của cá nhân, của doanh nghiꢀp và do đó, ảnh hưởng lên giá
cả và các hoạt động kinh tế ở hiꢀn tại lẫn tương lai. Hơn nữa những diễn biến của nền
kinh tế lại tiếp tục ảnh hưởng lên kì vọng [10].
Giá kì vọng nên được ước lượng bằng số liꢀu khảo sát [11]. Để từ đó, hiểu
được cách thức nông hộ kì vọng giá bán trong tương lai, năng lực cá nhân và sự điều
chỉnh kì vọng của họ. Các học giả đã khẳng định mô hình giá Cobweb với kì vọng
thích ứng là phù hợp trong điều kiꢀn thị trường không chắc chắn, năng lực dự báo của
nông dân bị hạn chế. Mô hình giá kì vọng trung bình với giả thiết kì vọng RE lí
giải được sự biến động của giá bán trong tương lai [12].
2.2. Các mô hình giá với các giả thuyết kì vọng trong sản xuất nông nghiệp
Mô hình giá kì vọng của nông hộ với giả thuyết kì vọng AE và kì vọng RE
được thể hiꢀn trong sáu mô hình lí thuyết của [11].
Mô hình 1: Mô hình giá kì vọng của [13] được thiết lập theo giả thuyết kì
vọng AE và được ứng dụng trong phân tích phản ứng cung.
126
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
Pe Pe
1 1
RP Pe
t1
t
t1
t1
(1)
Pe
Với
là giá kì vọng kì t và
là giá thực của kì t-1
RP
t
t
Mô hình 2 : Mô hình giá kì vọng khác của Nerlove theo giả thuyết AE
Pe
2
2RP 3
t1
RP Pe
t
t1
t1
(2)
Nerlove đề xuất mô hình 1 và mô hình 2 với kì vọng thích ứng dựa trên
mô hình giá Cobweb và được [4] phát triển và ứng dụng phổ biến trong nghiên
Pe
cứu thực nghiꢀm. Khi đó trong mô hình 1, biến
tác động thuận chiều với biến
t
Pe
Pe
Pe
t1 . Trong khi đó, trong mô hình 2 biến
biến
có mối quan hꢀ ngược
t
t1
chiều được Nerlove (1958, 1979) đề xuất khi phân tích sự vận động của chuỗi giá
thị trường bằng mô hình dự báo.
Mô hình 3 : Giả thuyết kì vọng RE từ kết quả nghiên cứu thực nghiꢀm của
các nhà kinh doanh kì vọng giá bằng giá quá khứ của kì trước và cộng với sự điều
chỉnh sự thay đổi giá trong quá khứ của hai kì trước đó.
Pe
3 RP {4 5[(RP RP )/ RP )]}
t1 t1 t2 t2
t
(3)
Mô hình 4 : Đây là giả thuyết kì vọng RE được Lucas [10] & Sargent phát
triển. Theo đó, giá kì vọng được thiết lập dựa trên thông tin giá của cả hai kì trước
đó:
Pe
4 6RP 7RP
t1 t2
t
(4)
Mô hình 5 : Giả thuyết giá kì vọng giản đơn được thiết lập dựa trên thông
tin giá của kì trước. Mô hình giá đa thức giản đơn được ứng dụng phổ biến trong
nghiên cứu phân tích cung nông sản và phân tích thị trường.
t
5
8
t1
(5)
Mô hình 6 : Giả thuyết giá kì vọng được thiết lập dựa trên thông tin giá
trung bình của kì trước. Nhiều nhà sản xuất thấy khó xây dựng kì vọng và để đơn
giản những người sản xuất thiết lập giá kì vọng từ giá trung bình cộng giản đơn
của các kì trước [5]. Trong nghiên cứu này, hai lựa chọn của công thức này được
sử dụng, tương ứng với n = 2, và 3, mô hình giá kì vọng tổng quát có dạng là :
Pe 6 8[(RP RP .. RP )/ n]
(6)
t
t1
t2
tn
2.3. Tổng quan nghiên cứu
Trong các phân tích kinh tế hành vi, giá kì vọng là một phần rất quan trọng
không thể thiếu trong nghiên cứu cũng thay đổi theo thời gian. Trong sản xuất
nông nghiꢀp luôn tồn tại một độ trễ nhất định (thời gian sản xuất), người sản xuất
127
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
đưa ra mọi quyết định trước khi bán nông sản. Giá nông sản trong tương lai mà
người sản xuất nghĩ được gọi là giá kì vọng. Nerlove là người tiên phong đưa giá
kì vọng AE trong phân tích phản ứng cung [6]. Đến năm 1958, lí thuyết giá kì
vọng thích ứng được xây dựng dựa trên giá của các kì trước được áp dụng phổ
biến trong nghiên cứu phản ứng cung nông sản [13]. Từ đó, phân tích phản ứng
cung (supply response analysis) chủ yếu dựa trên phân tích hàm phản ứng cung
Nerlove (Nerlovian supply response function). Điển hình là nghiên cứu thực
nghiꢀm của Nerlove. Shideed & White [15] đã khẳng định viꢀc hình thành giá kì
vọng là yếu tố quan trọng trong ước lượng hꢀ số co giãn của diꢀn tích của cây
trồng (ngô và đậu nành) [16].
Nghiên cứu thực nghiꢀm với sáu mô hình giả thuyết của giá kì vọng của
nông hộ với hai bộ số liꢀu “truyền thống” và “doanh nhân” với nông dân Úc [11].
Các tác giả ước lượng mô hình giá kì vọng bằng OLS, và dùng các chỉ tiêu AIC,
BIC và R2 để so sánh giữa các mô hình và cuối cùng là so sánh giá kì vọng với giá
thực tế để lựa chọn mô hình phù hợp. Kết quả nghiên cứu khẳng định mô hình giá
kì vọng giữa hai nhóm số liꢀu không có sự khác biꢀt và mô hình giá Cobweb với
giả thuyết kì vọng thích ứng của Nerlove là phù hợp. Đây là kết luận khác biꢀt so
với nghiên cứu của Gardner [17], Sulewski et al. [12], theo đó, giá kì vọng được
xây dựng dựa vào mô hình giá trung bình với giả thuyết kì vọng hợp lí.
3. SỐ LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH
3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Mô hình giá kì vọng của nông hộ được ước lượng trên số liꢀu khảo sát bốn
huyꢀn (Cái Nước, Đầm Dơi, Trần Văn Thời và Phú Tân). Đây là các huyꢀn có diꢀn
tích, sản lượng, năng suất tôm nuôi và số hộ nuôi tôm sú lớn nhất tỉnh. Các huyꢀn
này đều nằm trong quy hoạch cụm nuôi tôm công nghiꢀp, nuôi quảng canh cải tiến
như tôm lúa, và tôm rừng của tỉnh Cà Mau. Tôm (sú, thẻ chân trắng) được nuôi chủ
yếu dưới hai hình thức công nghiꢀp và quảng canh cải tiến (tôm lúa, tôm rừng, tôm
kết hợp với thủy sản khác). Cụ thể là, tôm sú nuôi công nghiꢀp tập trung chủ yếu ở
huyꢀn Đầm Dơi, tôm lúa và tôm kết hợp với thủy sản khác được nuôi tập trung ở
huyꢀn Cái Nước và Trần Văn Thời. Riêng huyꢀn Phú Tân tôm được nuôi dưới tán
rừng.
Dung lượng mẫu quan sát trong nghiên cứu được thu thập đảm bảo tính
khách quan, đủ lớn phản ánh được tổng thể. Số lượng quan sát được xác định dựa
theo Tabachnick & Fidell [18], đối với phân tích hồi quy, cỡ mẫu tối thiểu cần đạt
được theo công thức n = 50 + 8*m (m là số biến độc lập). Nội dung phân tích sử
dụng tối đa 4 biến nên tối thiểu cần 82 quan sát (hộ). Để tăng tính đại diꢀn của
mẫu theo nguyên tắc mẫu càng lớn càng phản ánh tốt tổng thể, trong điều kiꢀn về
thời gian và tài chính, tác giả tiến hành khảo sát 97 hộ làm mẫu để nghiên cứu mô
hình giá kì vọng của nông nuôi tôm Cà Mau.
128
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
Bảng 1: Số quan sát được thu thập tại các huyꢀn, tỉnh Cà Mau
STT
Địa điểm
Huyꢀn Cái Nước
Huyꢀn Đầm Dơi
Huyꢀn Phú Tân
Huyꢀn Trần Văn Thời
Tổng cộng
Số quan sát (nông hộ)
Tỉ lệ (%)
16,49
1
2
3
4
16
39
21
21
97
40,21
21,65
21,65
100,00
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu khảo sát năm 2018)
Số liꢀu nghiên cứu được thu thập bằng phỏng vấn trực tiếp. Khi đó, mỗi
nông hộ nuôi tôm sẽ được cho biết thông tin về chuỗi giá thực nghiꢀm2 của một
sản phẩm mà họ không sản xuất (giá cá tra3) và dựa chuỗi giá thực nghiꢀm nông
hộ dự báo giá bán cho sản phẩm trong kì tới. Nông dân dự báo giá được lưu ý là
nếu giá kì vọng không chính xác thì nông hộ đang sản xuất sản phẩm đó sẽ bị ảnh
hưởng đến lợi nhuận. Mỗi nông hộ được cung cấp 10 mức giá và yêu cầu trả lời 6
mức giá kì vọng cho 3 kì sản xuất kế tiếp (3 với thông tin dưới dạng bảng biểu và
3 với thông tin mới dưới dạng đồ thị). Trong đó, nông hộ được yêu cầu trả lời giá
kì vọng của kì 11, kì 12 và kì 13. Tóm lại, kết quả nghiên cứu thu thập được số
quan sát từ nông hộ là 6 mức giá với 97 nông hộ là 6 * 97 = 582 quan sát. Thông
tin về giá kì vọng của nông hộ được tiến hành thu thập bằng phiếu khảo sát chi
tiết.
Chuỗi số liꢀu thực nghiꢀm được sử dụng trong thu thập số liꢀu kì vọng giá
của nông hộ là chuỗi giá cá tra ở tỉnh An Giang. Hơn nữa, cá tra là sản phẩm phổ
biến nên thông tin sẽ phổ biến đối với nông dân. Viꢀc dùng chuỗi cá tra để nông
hộ nuôi tôm hình thành giá kì vọng nhằm loại trừ những suy diễn chủ quan của
nông hộ có thể ảnh hưởng đến sự kì vọng. Về bản chất tính không chắc chắn trong
sản xuất thủy sản và sự chênh lꢀch giữa thời điểm thả giống với thời điểm thu
hoạch – hay gọi là độ trễ của một kì sản xuất là nguyên nhân dẫn đến giá kì vọng
làm cơ sở để nông hộ đưa ra các quyết định sản xuất. Đồng thời, thông tin thị
2 Là một phần của chuỗi giá thực tế trên thị trường của cá tra thịt trắng 13 kì được Sở Nông nghiꢀp
tỉnh An Giang quản lí. Yêu cầu của chuỗi giá thực nghiꢀm trong nghiên cứu sử dụng là giá cổng
trại của sản phẩm mà nông hộ nuôi tôm không sản xuất.
3 Vì cá tra là mặt hàng thủy sản xuất khẩu đứng thứ hai sau tôm của ngành thủy sản Viꢀt Nam. Năm
2017, giá trị kim ngạch xuất khẩu ngành thủy sản đạt 8,3 tỉ USD, tăng 18% so với năm 2016. Trong
đó, tôm 3,8 tỉ USD (chiếm 46,0%), cá tra thịt trắng 1,8 tỉ USD (chiếm 21,6%), còn là là các mặt hàng
khác 2,7 tỉ USD (chiếm 32,4%). Đồng thời, tôm và cá tra là hai đối tượng thủy sản được nuôi chính ở
Đồng bằng sông Cửu Long. Cá tra được nuôi chủ yếu tập trung tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp,
Bến Tre và Cần Thơ, trong khi tôm được nuôi chủ yếu tại các tỉnh Cà Mau, Kiên Giang, Bạc Liêu,
Sóc Trăng, Long An và Trà Vinh [19].
129
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
trường về tình hình biến động giá bán tác động đến quyết định của người sản xuất.
Bất kì biến động nào của thị trường cũng đều ảnh hưởng mạnh đến giá của hàng
hóa, bởi vì cung cứng nhắc thì giá phải biến động mạnh làm thay đổi số cầu và tái
lập cân bằng thị trường. Như vậy, giá cổng trại bị chi phối nhiều bởi những thị
trường tiêu thụ và nhận định, phân tích xu hướng thị trường của người sản xuất.
Nói cách khác tầm quan trọng sự biến động của giá trên thị trường hiꢀn tại có tác
động đối với kì vọng về giá bán trong tương lai và ngược lại. Đây được xem là
phương án tối ưu nhất trong thời điểm thực hiꢀn nghiên cứu thực nghiꢀm mô hình
giá kì vọng nông hộ nuôi tôm ở Cà Mau.
3.2. Phương pháp phân tích
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, phương pháp phân tích định tính và phương
pháp phân tích định lượng, tương thích với từng nội dung nghiên cứu. Phương pháp
phân tích định tính được sử dụng để phân tích và tổng hợp kết quả các nghiên cứu lí
thuyết và nghiên cứu thực nghiꢀm trong nhằm làm sáng tỏ cơ sở lí thuyết lí giải sự hình
thành kì vọng giá bán của nông hộ nuôi tôm. Phương pháp phân tích định lượng được
sử dụng nghiên cứu là phương pháp thống kê mô tả kết hợp với ước lượng (hồi quy)
trên cơ sở số liꢀu thứ cấp và sơ cấp. tính không chắc chắn trong sản xuất nông
nghiꢀp và sự chênh lꢀch giữa thời điểm thả giống với thời điểm thu hoạch – hay
gọi là độ trễ của một kì sản xuất là nguyên nhân dẫn đến giá kì vọng làm cơ sở để
nông hộ đưa ra các quyết định sản xuất. được thu thập nhằm xác định mô hình giá kì
vọng của nông hộ nuôi tôm và đánh giá sự vận động của chuỗi giá. Qua đó, nghiên cứu
thiết lập mô hình nghiên cứu thực nghiꢀm đối với nông hộ nuôi tôm.
Tác giả chia số liꢀu khảo sát ra hai nhóm số liꢀu “truyền thống” và “doanh
nhân”. Trong đó, giá kì vọng của kì 11, kì 12 và kì 13 nông dân dựa vào số liꢀu
giá dưới dạng bảng biểu – được gọi là nhóm số liꢀu “truyền thống”. Giá kì vọng
của kì 11, kì 12 và kì 13 nông dân dựa vào số liꢀu giá dưới dạng đồ thị – được gọi
là nhóm số liꢀu “doanh nhân”. Mô hình giá kì vọng được ước lượng là mô hình
OLS với số liꢀu nhóm số liꢀu “truyền thống” và “doanh nhân” được xem là số liꢀu
mảng (cluster data) nên phương pháp ước lượng phải tương tự số liꢀu bảng. Để
khắc phục tính tự hồi quy của chuỗi số liꢀu trong phân tích các biến phụ thuộc sẽ
được biến đổi thành các chuỗi sai phân.
Viꢀc lựa chọn mô hình dựa vào các tiêu chuẩn AIC (Akaike Info Criterion),
BIC (Bayesian Information Criterion), và R2. Trong đó, giá trị các thống kê AIC,
BIC càng nhỏ, mô hình càng phù hợp. Trước khi diễn giải kết quả mô hình phải
được kiểm định tự tương quan, kiểm định phương sai sai số thay đổi và kiểm định
t đối với các hꢀ số ước lượng.
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
130
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
4.1. Đặc điểm của nông hộ
Các tiêu chí cơ bản của nông hộ nuôi tôm được trình bày tại Bảng 2, cho
thấy chủ hộ có độ tuổi trung bình khoảng 46 tuổi, trong đó tập trung độ tuổi từ 35
tuổi trở lên chiếm trên 82% tổng số hộ điều tra. Số năm kinh nghiꢀm trung bình
của nông hộ nuôi tôm khoảng 14 năm. Đây được xem là độ tuổi có sức khỏe,
trưởng thành và là khoảng thời gian đủ dài để nông hộ nuôi tôm tích lũy kinh
nghiꢀm trong quá trình nuôi tôm và những nông hộ xung quanh góp phần tăng
hiꢀu quả nuôi tôm cho nông hộ. Tuy nhiên, trình độ học vấn trung của chủ hộ
(người quyết định sản xuất của hộ) là 8,60 năm với độ lꢀch chuẩn 3,90 năm,
chiếm khoảng 60% chủ hộ nuôi có trình độ nuôi từ cấp II trở xuống thì có đến
89% số nông hộ không có trình độ chuyên môn. Nhìn chung, trình độ học vấn và
trình độ chuyên môn của chủ hộ nuôi tôm còn thấp. Điều này có thể làm hạn chế
viꢀc tiếp thu các kĩ thuật canh tác mới và hoạch định kế hoạch sản xuất kinh
doanh hiꢀu quả. Đây là một trong những bất lợi sản xuất tôm ở Đồng bằng sông
Cửu Long chưa tạo được ưu thế trong sản xuất [20].
Bảng 2: Các tiêu chí cơ bản của nông hộ nuôi tôm
Tiêu chí
Trung bình Lớn nhất
Nhỏ nhất
Độ lệch
chuẩn
Tuổi chủ hộ
46,30
8,60
74
2
17
11,23
Trình độ học vấn của
chủ hộ
16
1
3,90
0,31
6,54
0,11
0
Trình độ chuyên môn
của chủ hộ
13,75
2
32
Số năm kinh nghiꢀm
nuôi tôm
(Nguồn: Kết quả tổng hợp số liệu tự khảo sát năm 2018)
Qua khảo sát thực tế, nhu cầu thông tin của nông hộ tiếp nhận từ các nguồn
cung cấp được mô tả tại Hình 1, cho thấy thông tin quan trọng nhất là giá bán tôm.
Nông hộ nuôi tôm thu thập thông tin giá bán tôm hơn 50% được từ các người nuôi
khác trong vùng mình đang sinh sống và hơn 20% từ thương lái vì họ muốn bán
tôm với giá cao nhất có thể. Thông tin quan trọng thứ hai là giá và tiêu chuẩn đầu
vào (tôm giống, thức ăn, ...). Nông hộ nuôi thu thập thông tin về tôm giống, thức
ăn, ... từ các công ti cung cấp chiếm tỉ trọng gần 45%. Điều đó cho thấy vị thế và
vai trò giá bán tôm đối với hoạt động sản xuất của nông hộ nuôi tôm là rất quan
trọng.
131
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
Hình 1: Nhu cầu thông tin của nông hộ tiếp nhận từ các nguồn cung cấp
(Nguồn: Kết quả tổng hợp số liệu tự khảo sát năm 2018)
4..2 Mô hình giá kì vọng của nông hộ nuôi tôm
Tổng hợp kết quả khảo sát trực tiếp ý kiến người sản xuất về kì vọng giá
trong năm 2018 của nông dân với hai nhóm số liꢀu “truyền thống” và nhóm số
liꢀu “doanh nhân”. Kết quả ước lượng mô hình giá kì vọng của nhóm số liꢀu
“truyền thống” được trình bày tại Bảng 3 và nhóm số liꢀu “doanh nhân” được
trình bày tại Bảng 4 cho thấy có sự khác biꢀt về giá kì vọng giữa hai nhóm số liꢀu.
Thông tin giá được trình bày ở dạng bảng biểu và đồ thị có ý nghĩa đối với nông
hộ kì vọng giá sản phẩm. Cụ thể là, mô hình 1 của nhóm số liꢀu “truyền thống” và
nhóm số liꢀu “doanh nhân” có hꢀ số ước lượng có mức ý nghĩa thống kê ở mức
1% và hꢀ số xác định R2 lớn, các trị thống kê của tiêu chuẩn AIC và BIC là nhỏ
nhất. Tiêu chuẩn thông tin Akaike (AIC) và tiêu chuẩn thông tin Bayesian (BIC)
được sử dụng (i) so sánh các giá trị khác nhau của tiêu chuẩn thông tin, (ii) chúng
ta tính toán cho cùng một mẫu dữ liꢀu và (iii) chỉ sử dụng để xếp hạng các mô
hình. Mô hình càng phù hợp thì AIC, BIC càng nhỏ, điều này có nghĩa là mô hình
đó phù hợp với bộ số dữ liꢀu nhất. Vì vậy, mô hình 1 của nhóm số liꢀu “truyền
thống” và nhóm số liꢀu “doanh nhân” là mô hình phù hợp nhất với số liꢀu nghiên
cứu.
Kết quả hồi quy được tổng hợp và trình bày tại Bảng 3 và Bảng 4 cho thấy
mô hình giá Cobweb với kì vọng thích ứng được ước lượng bằng nhóm số liꢀu
“doanh nhân” giải thích tốt hơn nhóm số liꢀu “truyền thống”. Cụ thể là, kết quả
ước lượng mô hình giá kì vọng bằng nhóm số liꢀu “doanh nhân” có hꢀ số xác định
R2 cao hơn (81% và 30%) nghĩa là biến độc lập giải thích được 81% biến động
của giá kì vọng tại kì t. Hꢀ số ước lượng sai số kì vọng là 0,83 với mức ý nghĩa
thống kê 1%. Điều này hàm ý, mô hình giá Cobweb với kì vọng thích ứng và mô
132
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
hình giá Cobweb với kì vọng hợp lí được nông dân vận dụng kì vọng giá cho kì
sản xuất hiꢀn hành. Kết quả này chứng tỏ, nông hộ điều chỉnh kì vọng theo sai số
dựa báo ở kì quá khứ gần nhất (kì t-1).
Điều này khẳng định, nông hộ dựa vào mô hình 1 của Nerlove theo giả
thuyết kì vọng AE và RE để hình thành giá kì vọng. Kết quả này có nghĩa là, nông
hộ căn cứ vào thông tin giá ở thời điểm quá khứ gần nhất – kì t cùng với mức
chênh lꢀch giá kì vọng và thực tế kì t-1, để dự báo cho giá bán tương lai – kì t. Mô
hình giá kì vọng của nông hộ được xác định là mô hình giá Cobweb với kì vọng
thích ứng. Kết quả phân tích này là giá kì vọng của nông hộ phụ thuộc vào giá trễ
hay tuân theo mô hình Cobweb.
Kết quả so sánh mô hình giá Cobweb với kì vọng thích ứng (Bảng 3) và mô
hình giá Cobweb với kì vọng hợp lí (Bảng 4) với mô hình AR(2) cho thấy mô
hình giá Cobweb với kì vọng thích ứng phù hợp vì mức độ chính xác cao hơn so
với Cobweb với kì vọng hợp lí. Điều này ngụ ý là, giá kì vọng của nông hộ nuôi
tôm có tương quan thuận với giá của kì trước, đồng thời, kiến thức kinh tế của
nông hộ và loại thông tin tiếp nhận có ảnh hưởng thuận chiều tới điều chỉnh giá kì
vọng. Giả thuyết kì vọng thích ứng ngụ ý là, nông dân nuôi tôm phản ứng chừng
mực hơn với sự thay đổi của giá, dẫn đến mức độ biến động của giá bán tôm được
hạn chế qua đó làm tăng tính ổn định của giá tôm kì vọng. Kết quả này phù hợp
với những lí thuyết trong kinh tế học và tương đồng với nghiên cứu của Fisher &
Tanner [11] dựa trên số liꢀu điều tra nông dân tại Úc, cũng như nghiên cứu của Lê
Khương Ninh và cộng sự [21] khi lí giải sự vận động giá lúa của nông hộ trong
nghiên cứu giải pháp bình ổn giá bán lúa cho nông hộ ở Đồng bằng sông Cửu
Long. Tất cả các nghiên cứu này đều chỉ ra nông hộ kì vọng giá bằng mô hình
Cobweb với kì vọng thích ứng của Nerlove có ước lượng tốt nhất và đáng tin cậy.
Trong khi, nghiên cứu của Gardner [17] cũng như của Sulewski et al. [12] thì
nông hộ kì vọng giá sản phẩm bằng mô hình giá đa thức với kì vọng RE.
Kết quả hồi quy của mô hình giá Cobweb với kì vọng thích ứng cũng chỉ ra
giá kì vọng của nông hộ có tương quan dương với giá trễ trên thị trường. Trong khi
phân tích sự vận động của chuỗi giá thực tế trên thị trường giá có tương quan âm
với giá trễ của chính nó. Điều này cho thấy, kì vọng giá của nông hộ nuôi tôm gặp
phải sai biꢀt trong kì là rất lớn. Kết quả phân tích tương đồng với nghiên cứu của
Fisher & Tanner [11] nhưng theo Gardner [17], giá kì vọng từ nông hộ sản xuất
còn gặp nhiều hạn chế dẫn đến các quyết định cung của nông hộ chưa thật sự
mạng lại hiꢀu quả.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu đã chứng minh mô hình giá kì vọng trung
bình giản đơn của các kì trước có kết quả ước lượng thấp nhất. Tuy nhiên, điểm
khác biꢀt của nghiên cứu là mô hình giá kì vọng trung bình giản đơn của hai kì
trước tác động đến giá kì vọng trong khi Fisher & Tanner [11] thì cho rằng mô
hình giá kì vọng trung bình giản đơn của ba kì.
133
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình giá Cobweb với kì vọng thích ứng
được nông hộ sử dụng trong quá trình dự báo giá cho mùa vụ tới. Giá bán tương
lai được nông dân kì vọng thường có độ trễ so với giá thực tế nên sản lượng cung
ứng cũng trễ so với cầu trên thị trường. Do vậy, viꢀc dự báo giá và phổ biến thông
tin về giá kịp thời có ý nghĩa tích cực trong viꢀc điều chỉnh kì vọng giá kịp thời.
5. KẾT LUẬN MÔ HÌNH GIÁ KÌ VỌNG CỦA NÔNG HỘ NUÔI TÔM
CÀ MAU
Nghiên cứu ước lượng mô hình OLS nhằm xây dựng mô hình giá kì vọng từ
số liꢀu phỏng vấn 97 nông hộ nuôi tôm ở tỉnh Cà Mau. Kết quả nghiên cứu đã chỉ
ra thông tin giá bán tôm là quan trọng nhất nông hộ nuôi tôm thu thập từ nông hộ
nuôi tôm và những người thu mua trong vùng vì mục đích muốn bán tôm giá cao
nhất có thể. Trong đó, kiến thức kinh tế của nông hộ sản xuất và loại thông tin tiếp
cận là các yếu tố tác động tích cực đến hình thành giá kì vọng. Kết quả nghiên cứu
cho thấy các mô hình giá Cobweb với kì vọng thích ứng có kết quả tốt nhất. Điều
này hàm ý giá kì vọng cho các quyết định của người sản xuất được hình thành dựa
vào giá bán của kꢁ trước. Đây là vấn đề quan trọng cần xem xét cho hướng nghiên
cứu trong tương lai và nhất là trong nghiên cứu cung.
Những phát hiꢀn từ nghiên cứu đề xuất trong điều kiꢀn thông tin thị trường
ở Viꢀt Nam cần công bố các bản tin thương mại dưới dạng bản và đồ thị trên các
bản tin thương mại nhằm giúp cho người sản xuất khai thác thông tin thị trường
hiꢀu quả. Từ đó, các nhà khoa học tăng khả năng phân tích và dự báo giá để thông
tin đến người sản xuất. Tuy nhiên, đây là điều tra thực hiꢀn giá kì vọng đầu tiên
được thực hiꢀn tại nông hộ sản xuất ở Viꢀt Nam, và do đó tính đại diꢀn của mẫu
chỉ dừng lại ở mức độ nhất định.
134
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
Bảng 3: Mô hình giá kì vọng được thiết lập của nhóm nông dân
“truyền thống”
Pe Pe
Biến phụ thuộc
t
Mô hình
4
t1
Biến độc lập
Hằng số
Mô hình
1
Mô
Mô
Mô
Mô hình 6
n=24
hình 2 hình 3
hình 5
18,08
(0,41) 76,11*
- 101,58*
-
-
-88,02*
(-1,68)
*
101,47
**
91,61*
(-1,94)
(-1,66) (-2,13)
(-2,14)
0,99**
*
0,80** 1,12**
0,95**
*
RP RP
t1
t2
*
(3,82)
(3,07)
(3,72)
0,15
(1,47)
(3,55)
RP RP
t2
t3
RP Pe
0,42***
(6,40)
t1
t1
RP*
-0,13
t1
(-1,39)
(RP Pe )*
0,14**
*
t1
t1
(2,96)
MP*
0,45*
(1,65)
0,05
t1
R2
F
0,30
0,19
0,14
0,14
0,12
40,92 11,23
0,02 0,00
7,34
0,00
7,47
0,00
12,64
0,00
5,00
0,03
Mức ý nghĩa
của F
AIC
1444,64 1460,6 1467,30
1467,0
1467,2 1474,
41
1472,4 1479,
56
0
8
1474,8
0
7
BIC
1449,79 1468,3 1475,02
2
Ghi chú: *, **, *** lần lượt tương ứng với mức ý nghĩa thống kê 10%, 5% và 1%.
RP* {RP [(RP RP )/ RP ] RP (RP RP )/ RP ]
t1
t1
t1
t2
t3
t2
t2
t3
t3
MP* [(RP RP RP )/3((RP RP RP )/3]
t1
t1
t2
t3
t2
t3
t4
(RP Pe )* (RP Pe RP Pe ]
t1
t1
t1
t1
t1
t1
4 Giá kì vọng được thiết lập dựa trên thông tin giá trung bình của hai kì trước.
135
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
(Nguồn: Tổng hợp tính toán từ số liệu khảo sát năm 2018)
Bảng 4: Mô hình giá kì vọng được thiết lập của nhóm số liꢀu “doanh nhân”
Pe Pe
Biến phụ thuộc
t
t1
Biến độc lập
Hằng số
Mô
hình 1 hình 2 hình 3
2,31
Mô
Mô
Mô
Mô
hình 5
Mô hình
6 n=2
hình 4
-
-
-
-
-
(0,10) 86,31** 149,30 149,19* 129,45 138,98**
(-2,09)
***
**
**
*
(-2,75)
(-2,77) (-2,36)
(-2,55)
0,38 1,19** 0,93*** 0,85**
RP RP
t1
t2
(0,94)
*
(3,09)
*
3.57
(2,74)
0,29**
(2,58)
RP RP
t2
t3
RP Pe
0,83**
*
t1
t1
(8,66)
RP*
-0,26**
(-2,43)
t1
(RP Pe )*
0,40*
(1,70)
t1
t1
MP*
0,71***
(3,17)
0,10
t1
R2
F
0,81
0,31
4,86
0,13
0,13
7,31
0,07
7,49
401,88
10,03
0,00
6,88
0,00
Mức ý nghĩa
của F
0,00
0,00
0,00
0,00
AIC
1343,3 1470,1 1492,6 1491,84 1496,5 1494,12
7
6
1
0
BIC
1348,5 1477,8 1500,3 1499,56 1501,6 1499,27
2
8
3
5
Ghi chú: *, **,*** lần lượt tương ứng với mức ý nghĩa thống kê 10%, 5% và 1%.
RP* {RP [(RP RP )/ RP ] RP (RP RP )/ RP ]
t1
t1
t1
t2
t3
t2
t2
t3
t3
t1
t1
t1
t1
t1
t1
MPt*1 [(RP RPt2 RP )/3((RPt2 RPt3 RP )/3]
t1
t3
t4
(Nguồn: Tổng hợp tính toán từ số liệu khảo sát năm 2018)
136
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
Hơn nữa, nghiên cứu này chỉ khảo sát sự thay đổi giá đối với người sản
xuất, trong khi các điều tra khác về giá kì vọng thường bao quát những yếu tố đầu
vào chủ yếu trong sản xuất bao gồm giá, diꢀn tích canh tác hay sản lượng của
hàng hóa, giá và diꢀn tích hay sản lượng của sản phẩm cạnh tranh hoặc hàng hóa
bổ sung. Song, các nghiên cứu thực nghiꢀm như thế sẽ không khả thi nếu thiếu bộ
số liꢀu thứ cấp bao quát được lưu giữ tại cơ quan quản lí, và đây là nguyên nhân
lĩnh vực nghiên cứu này còn hạn chế tại Viꢀt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Anderson, K.. Distributed lags and barley acreage response
analysis. Australian Journal of Agricultural and Resource Economics.
1974;18(2):119-132.
[2] Turnovsky, S. J.. Empirical evidence on the formation of price
expectations. Journal of the American Statistical Association. 1970;65(332):
1441-1454.
[3] Duloy, J. H., & Watson, A. S.. Supply Relationships in the Australian Wheat
Industry: New South Wales. Australian Journal of Agricultural and Resource
Economics.1964;8(1):28-45.
[4] Nelson, R. G., & Bessler, D. A.. Quasi‐ rational expectations: Experimental
evidence. Journal of Forecasting. 1992;11(2):141
[5] Tomek, W. G., & Robinson, K. L.. Agricultural product prices. Edn 2nd, Cornell
University Press, Ithaca and London. 1981.
[6] Nerlove, M.. Estimates of the elasticities of supply of selected agricultural
commodities. Journal of Farm Economics. 1956;38(2): 496-509.
[7] Carlson, J. A.. The stability of an experimental market with a supply-response
lag. Southern Economic Journal. 1967;305-321.
[8] Muth, J. F.. Rational expectations and the theory of price
movements. Econometrica: Journal of the Econometric Society. 1961;315-
335.
[9] Phillips, A. W.. The relation between unemployment and the rate of change of
money wage rates in the United Kingdom, 1861–1957. Economica.
1958;25(100): 283-299.
[10] Lucas, R. E., & Sargent, T. J. (Eds.). Rational expectations and econometric
practice. U of Minnesota Press. 1981;Vol. 2.
[11] Fisher, B. S., & Tanner, C.. The formulation of price expectations: An
empirical test of theoretical models. American Journal of Agricultural
Economics. 1978;60(2): 245-248.
137
Hội thảo Khoa học
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”
[12] Sulewski, T., Sprigs, J., & Schoney, R. A.. Agricultural producer price
expectations. Canadian Journal of Agricultural Economics/Revue canadienne
d'agroeconomie. 1994;42(3): 301-310.
[13] Nerlove, M.. The dynamics of supply; estimation of farmer's response to
price (No. 04; HD1447, N4.). 1958.
[14] Ezekiel, M.. The cobweb theorem. The Quarterly Journal of Economics.
1938;52(2): 255-280.
[15] Shideed, K. H., & White, F. C.. Alternative forms of price expectations in
supply analysis for US corn and soybean acreages. Western Journal of
Agricultural Economics. 1989;281-292.
[16] Nerlove, M.. The dynamics of supply: retrospect and prospect. American
journal of agricultural economics. 1979;61(5):874-888.
[17] Gardner, B. L.. Futures prices in supply analysis. American Journal of
Agricultural Economics. 1976;58(1):81-84.
[18] Tabachnick, B. G., & Fidell, L. S.. Using multivariate statistics.
Northridge. Cal.: Harper Collins. 1996.
[19] VASEP [Hiꢀp hội chế biến thủy sản]. Báo cáo xuất khẩu thủy sản Viꢀt Nam
năm 2017. 2018.
[20] Phạm Lê Thông & Đặng Thị Phượng. Hiꢀu quả kinh tế của mô hình nuôi tôm
sú thâm canh và bán thâm canh ở Đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Kinh tế
và Phát triển. 2014;số 217 (07/2014): p. 46-55.
[21] Lê Khương Ninh, Huꢁnh Thị Đan Xuân và Cao Văn Hơn. Giải pháp bình ổn
giá bán lúa cho nông hộ ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đề tài khoa học và
công nghꢀ cấp Bộ. 2018.
138
Bạn đang xem tài liệu "Mô hình giá kì vọng của nông hộ nuôi tôm ở Cà Mau", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mo_hinh_gia_ki_vong_cua_nong_ho_nuoi_tom_o_ca_mau.pdf

