Thành phần loài cá suối kẽm thuộc Vườn quốc gia Tam Đảo

Nghiên cứu khoa học công nghệ  
THÀNH PHẦN LOÀI CÁ SUỐI KẼM THUỘC  
VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO  
PHẠM HỒNG PHƯƠNG (1), NHEZDOLY V.K. (2), LÊ NAM HƯNG (1), TRẦN VĂN ĐẠT (1)  
1. MỞ ĐẦU  
Tam Đảo là một dãy núi cao, chạy dài gần 80 km theo hướng Tây Bắc - Đông  
Nam, có cấu tạo địa hình phức tạp, độ chia cắt sâu lớn, bề ngang núi hẹp, sườn dốc,  
nhiều nơi có độ dốc trên 35o. Dãy núi có đỉnh cao nhất là đỉnh Tam Đảo, cao 1592 m.  
Toàn bộ khối núi được bao phủ bởi thảm thực vật kiểu rừng lá rộng thường xanh  
nhiệt đới và á nhiệt đới.  
Khu vực suối Kẽm nằm ở sườn núi phía đông bắc của dãy Tam Đảo, là một  
phần quan trọng của vùng lõi Vườn Quốc gia (VQG), có địa giới hành chính thuộc  
xã Ký Phú, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.  
Trong thời gian trước đây, các nghiên cứu về loài cá thuộc VQG Tam Đảo  
cũng đã được tiến hành nhưng chủ yếu mới tập trung nghiên cứu tại các vùng có đai  
độ cao thấp và các thủy vực tại vùng đệm của VQG [5]. Vì vậy, năm 2013 và 2014  
việc điều tra, nghiên cứu thành phần loài cá suối Kẽm thuộc VQG Tam Đảo ở các  
độ cao từ 90 m đến trên 800 m đã được tiến hành. Kết quả nghiên cứu nhằm cung  
cấp những dẫn liệu khoa học và cơ sở để quy hoạch khu bảo tồn thủy vực nước ngọt  
tự nhiên ở đây.  
2. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu:  
Thời gian điều tra, khảo sát thực địa về thành phần loài cá suối Kẽm được chia  
làm 3 đợt: Đợt 1 từ 13/3/2013 đến 16/3/2013; đợt 2 từ 15/5/2013 đến 18/5/2013; đợt  
3 từ 20/6/2014 đến 24/6/2014.  
Hình 1. Vị trí thu mẫu khu vực suối Kẽm  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 09, 12 - 2015  
19  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Địa điểm tiến hành khảo sát, thu thập các mẫu cá được đánh dấu tọa độ trên hệ  
thống thủy văn của suối Kẽm theo các đai độ cao khác nhau. Bên cạnh đó, còn thu  
thập các mẫu vật tại chợ cá trong khu vực huyện Đại Từ để định loại (bảng 1).  
Bảng 1. Thời gian, địa điểm số lượng mẫu tại các điểm nghiên cứu  
Thời gian  
thu mẫu  
Vị trí,  
Độ cao (H)  
Tọa độ  
GPS  
Số lượng  
mẫu  
1. Thu thập trên hệ thống thủy văn của suối Kẽm  
Khu vực hồ Vai Miếu  
Н = 93 m  
N-21o31’55,3’’  
13-14/3/2013  
105  
40  
E-105o38’48,1’’  
Điểm số 4  
Н = 293 m  
N-21o30’56,3’’  
E-105o37’32,2’’  
Điểm số 3  
Н = 199 m  
Điểm số 2  
Н = 130 m  
Điểm số 10  
Н = 248 m  
Điểm số 9  
Н = 214 m  
Điểm số 8  
Н = 165 m  
N-21o31’24,3’’  
E-105o37’41,2’’  
N-21o31’41,1’’  
E-105o37’52,2’’  
14/3/2013  
80  
50  
70  
N-21o32’06,5’’  
E-105o37’13,5’’  
N-21o32’11,9’’  
E-105o37’25,9’’  
N-21o31’51’’  
16/3/2013  
65  
55  
E-105o37’41,2’’  
Điểm số 5  
H = 405 m  
N-21o30’43’’  
70  
75  
50  
E-105o37’32’’  
15/5/2013  
16/5/2013  
Điểm số 6  
H = 556 m  
N-21o30’39’’  
E-105o37’27’’  
Điểm số 7  
H = 838 m  
N-21o30’25’’  
E-105o37’20’’  
Điểm số 11  
H = 267m  
Điểm số 12  
H = 489m  
Điểm số 1  
H = 122 m  
Điểm số 13  
H = 235 m  
Điểm số 14  
H = 300 m  
N-21o32’09’’  
E-105o36’53’’  
17/5/2013  
18/5/2013  
68  
65  
21  
40  
45  
N-21o32’11’’  
E-105o36’32’’  
N-21o31’52’’  
E-105o38’24’’  
N-21o31’19’’  
E-105o37’30’’  
N-21o31’18’’  
E-105o37’24’’  
20/6/1014  
2. Mua tại chợ cá  
16/3/2013  
20/6/1014  
Chợ gần hồ Vai Miếu  
Chợ gần điểm số 13  
Tổng cộng  
20  
25  
944  
20  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 09, 12 - 2015  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
2.2. Phương pháp thu và xử lý mẫu  
- Thu mẫu và phân loại cá: Mẫu cá được thu bằng lưới, vợt, sốc điện và thu mua  
từ các ngư dân, các chợ cá thuộc các điểm nghiên cứu. Tại các điểm đã được định vị  
trên bản đồ theo các đai độ cao, mẫu cá được thu trong khoảng chiều dài 200 m suối.  
Mẫu sau khi thu được cố định bằng formol 7%, sau đó mẫu được rửa sạch và được  
ngâm bằng cồn 70o, được phân tích và bảo quản tại phòng thí nghiệm.  
- Đo đếm, phân tích mẫu vật theo phương pháp hướng dẫn nghiên cứu cá của  
Pravdin, 1963 [6].  
- Định loại cá dựa theo các tài liệu trong nước và ngoài nước [2, 3, 4, 7, 8, 9].  
- Phương pháp phỏng vấn: Dùng bộ ảnh màu của cá để phỏng vấn trực tiếp  
người dân trong khu vực nghiên cứu.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu  
- Đặc điểm về thủy văn của khu vực suối Kẽm được chia làm hai kiểu: Khu  
vực nước chảy bao gồm suối chính cùng các phụ lưu của nó và khu vực nước tĩnh là  
khu hồ Vai Miếu.  
- Khí hậu khu vực chia thành 2 vùng rõ rệt:  
+ Vùng thấp dưới chân núi có khí hậu tương tự như vùng đồng bằng Bắc Bộ,  
nhiệt độ trung bình 23oC, lượng mưa trung bình 1600 mm/năm.  
+ Vùng cao từ 700 m trở lên có khí hậu mát mẻ, nhiệt độ trung bình năm  
18oC và lượng mưa trung bình là 2600 mm/năm. Số ngày có sương mù lên tới hơn  
100 ngày/năm. Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10. Tổng lượng mưa trong  
mùa hè và mùa thu khá cao, đạt khoảng 60% tổng lượng mưa năm. Cường độ mưa  
lớn, các trận lũ lớn thường xảy ra vào các tháng 6, 7, 8, 9 hàng năm. Số giờ nắng  
trên 1600 h/năm. Độ ẩm bình quân 80%, thời kỳ mưa phùn độ ẩm lên đến 90%, mùa  
hanh khô chỉ còn 70 ÷ 75%.  
3.2. Thành phần loài cá khu vực nghiên cứu  
Đã tiến hành thu mẫu, phân tích thành phần loài cá tại 14 điểm của khu vực  
suối Kẽm thuộc VQG Tam Đảo, ngoài ra còn thu mua các mẫu tại các chợ cá trong  
vùng nghiên cứu, tổng lượng cá thu được là 944 mẫu (cá thể). Danh lục các loài cá  
trong khu hệ suối Kẽm VQG Tam Đảo được trình bày ở bảng 2.  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 09, 12 - 2015  
21  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Bảng 2. Thành phần loài cá khu vực suối Kẽm VQG Tam Đảo  
Ghi  
chú  
TT  
Tên Tiếng Việt  
Tên khoa học  
CYPRINIFORMES  
I. BỘ CÁ CHÉP  
1. Họ cá Chép  
Cyprinidae  
1 Cá Chép  
Cyprinus carpio Linnaeus, 1758  
Carassius auratus Linnaeus, 1758  
M
M
2 Cá Diếc  
3 Cá Dầm xanh  
4 Cá Trôi  
Sinilabeo lemassoni Pellegrin & Chevey, 1936 PV  
Cirrhinus molitorella Valenciennes,1844  
Carassioides cantonensis Heincke, 1892  
Puntius semifasciolatus Gunther, 1868  
Puntius brevis Bleeker, 1850  
M
PV  
M
5 Cá Nhưng  
6 Cá Đòng đong cân cấn  
7 Cá Đong chấm  
8 Cá Cháo  
M
Opsarichthys bidens Gunther, 1873  
M
9 Cá Thiểu mắt to  
10 Cá Thè be  
11 Cá Mè hoa  
12 cá Mè trắng  
13 Cá Trắm cỏ  
14 Cá Hân  
Ancherythroculter daovantieni Banarescu, 1967, M  
Acheilognathus tonkinensis Vaillant, 1892  
Aristichthys nobilis Richardson, 1844  
Hypophthalmichthys molitrix Cuvier, 1844  
Ctenopharyngodon idella Valenciennes, 1842  
Acrossocheilus elongatus Pellegrin, 1934  
Labeo rohita Hamilton, 1822  
M
M
M
M
M
M
M
M
15 Cá Rô hu  
16 Cá Mrigan  
17 Cá Sỉnh  
Cirrhinus mrigala Hamilton, 1822  
Onychostoma fangi Kottelat, 2000  
Cobitidae  
2. Họ cá Chạch  
18 Cá Chạch bùn  
19 Cá Chạch hoa  
Misgurnus anguillicaudatus Cantor, 1842  
Cobitis sinensis Sauvage & Dabry 1874  
M
M
3.Họ cá Chạch vây bằng Balitoridae  
20 Cá Bám đá khuyết  
21 Cá Chạch đá nâu  
Beaufortia leveretti Nichol & Pope, 1927  
M
M
Schistura incerta Nichols, 1931  
Schistura hingi Herre, 1934  
22 Cá Chạch suối chín sọc  
23 Cá Chạch đá Sapa  
Schistura chapaensis Rendahl, 1944  
M
M
M
M
24 Cá Chạch suối mười sọc Schistura fasciolata Nichols & Pope, 1927  
25 Cá vây bằng một thùy  
26 Cá vây bằng bốn thùy  
II. BỘ CÁ DA TRƠN  
4. Họ cá nheo  
Liniparhomaloptera monoloba Yên, 1978  
Vanmanenia tetraloba Yên, 1978  
SILURIFORMES  
Siluridae  
27 Cá Nheo sông  
Parasilurus asotus Linnaeus, 1758  
M
22  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 09, 12 - 2015  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
28 Cá Thèo  
Pterocryptis cochinchinensis Valenciennes, 1840  
M
5. Họ cá lăng  
29 Cá Bò  
Bagridae  
Pelteobagrus fulvidraco Richardson, 1846  
Hemibagrus guttatus Lacepede, 1803  
Claridae  
M
30 Cá Lăng  
PV  
6. Họ cá trê  
31 Cá Trê  
Clarius fuscus Lacepede, 1803  
Clarias gariepinus Burchell, 188  
Sisoridae  
M
M
32 Cá Trê phi  
7. Họ cá chiên  
33 Cá Chiên  
Bagarius rutilus Ng.& Kottelat, 2000  
SYNBRANCHIFORMES  
Monopteridae  
M
III. BỘ MANG LIỀN  
8. Họ lươn  
34 Lươn  
Monopterus albus Zuiew, 1793  
Mastacembelidae  
M
M
9. Họ cá chạch sông  
35 Cá Chạch sông  
IV. BỘ CÁ VƯỢC  
10. Họ cá rô  
Mastacembelus armatus Lacepede, 1800  
PERCIFORMES  
Anabantidae  
36 Cá Rô  
Anabas testudineus Bloch, 1792  
Osphronemidae  
M
11. Họ cá tai tượng  
37 Cá Đuôi cờ  
38 Cá Sặc bướm  
12.Họ cá bống trắng  
39 Cá Bống trắng  
40 Cá Bống suối  
41 Cá Bống đá  
42 Cá Bống đá khe  
13. Họ cá rô phi  
43 Cá Rô phi thường  
44 Cá Rô phi vằn  
14. Họ cá quả  
45 Cá Quả  
Macropodus opercularis Linneaus, 1758  
Trichogaster trichopterus Pallas, 1770  
Gobiidae  
M
M
Glossogobius giuris Cuvier, 1816  
Rhinogobius duospilus Herre, 1935  
Rhinogobius giurinus Rutter, 1897  
Rhinogobius leavelli Herre, 1935  
Cichlidae  
M
M
M
M
Oreochromis mosambicus Peters, 1852  
Oreochromis niloticus Linnaeus, 1758  
Channidae  
M
M
Channa striata Bloch, 1793  
Channa maculata Lacepède, 1801  
Eleotridae  
M
46 Cá Chuối  
PV  
15. Họ cá Bống đen  
47 Cá Bống tượng  
16. Họ cá Bống tròn  
48 Cá Bống đen  
Oxyeleotris marmorata Bleeker, 1852  
Odontobutidae  
M
Sineleotris namxamensis Chen & Kottelat, 2004 M  
Chú thích: M - Có mẫu vật thu được; PV - Phỏng vấn.  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 09, 12 - 2015  
23  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Kết quả điều tra, phân tích cho thấy thành phần cá ở đây có 48 loài thuộc 36  
giống, 13 họ, 4 bộ. Trong đó, bộ cá Chép có tổng số lượng lớn nhất là 26 loài, bộ cá  
Vược có 13 loài, bộ cá Da trơn có 7 loài và bộ cá Mang liền có 2 loài. Họ cá Chép  
có số lượng nhiều nhất là 17 loài, chiếm gần 35,4%; họ cá Chạch vây bằng có 7 loài,  
chiếm 14,4%; họ cá Bống trắng có 4 loài, chiếm 8,2%; các họ khác còn lại có số  
lượng từ 1 đến 2 loài, chiếm 2,1% đến 4.2%. Số lượng và tỷ lệ phần trăm của các  
loài được trình bày tại bảng 3.  
Bảng 3. Tổng hợp thành phần loài cá ở khu vực suối Kẽm VQG Tam Đảo  
STT  
1
Bộ  
Họ  
Cyprinidae  
Balitoridae  
Cobitidae  
Số loài  
Tỷ lệ %  
35,4  
14,4  
4,2  
17  
Cypriniformes  
2
7
3
2
4
Bagridae  
2
4,2  
Siluriformes  
5
Clariidae  
2
4,2  
6
Siluridae  
2
4,2  
7
Sisoridae  
1
2,1  
8
Mastacembelidae  
Monopteridae  
Anabantidae  
Channidae  
Cichlidae  
1
2,1  
Synbranchiformes  
Perciformes  
9
1
2,1  
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
1
2,1  
2
4,2  
2
4,2  
Eleotridae  
Gobiidae  
1
2,1  
4
8,2  
Osphronemidae  
Odontobutidae  
16 họ  
2
1
4,2  
2,1  
Tổng số: 4 bộ  
48 loài  
100%  
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy đặc điểm phân bố các loài cá theo loại hình  
thủy vực suối và hồ của khu vực nghiên cứu được chia làn hai kiểu rõ rệt, gồm:  
- Kiểu sinh cảnh nước tĩnh đại diện là hồ Vai Miếu nằm trên độ cao 93 m so  
với mực nước biển, là một hồ chứa được hình thành do xây đập chặn dòng của vùng  
hạ lưu suối Kẽm. Hồ với diện tích 46 ha, chỗ sâu nhất gần 30 m, với dung tích  
khoảng 5 triệu m3, toàn bộ lượng nước của hồ được cung cấp từ suối Kẽm và một số  
suối nhỏ thuộc sườn Đông Bắc của dãy Tam Đảo. Hồ được xây dựng và hoàn thành  
vào năm 2000, có chức năng phân lũ và tưới tiêu cho một số xã của huyện Đại Từ.  
Thành phần loài cá trong hồ chủ yếu là các loài cá nuôi như cá Chép (Cyprinus  
24  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 09, 12 - 2015  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
carpio), cá Trôi (Cirrhinus molitorella), cá Rô hu (Labeo rohita), cá Mrigal  
(Cirrhinus mrigala), cá Mè trắng (Hypophthalmichthys molitrix), cá Mè hoa  
(Hypophthalmichthys nobilis)... Ngoài ra một số loài cá bản địa nguồn gốc tự nhiên  
đã thích nghi với môi trường hồ như cá Cháo (Opsariichthys bidens), cá Bống trắng  
(Glossogobius giuris)... Các loài cá tự nhiên sống trong môi trường hồ nhưng theo  
các quan sát vào mùa sinh sản chúng vẫn ngược dòng lên những vùng nước chảy để  
đẻ trứng. Hồ Vai Miếu mang tính chất đặc trưng của một hồ chứa vì vậy các trầm  
tích dồn về hồ là tương đối lớn. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các loài sinh  
vật phù du phát triển dẫn đến các loài cá sau khi đã thích nghi với môi trường hồ  
thường có sự phát triển nhanh, đạt kích thước và khối lượng lớn. Theo kết quả khảo  
sát, cá Mè hoa - Hypophthalmichthys nobilis có cá thể đạt trọng lượng đến gần 20 kg.  
Tuy nhiên do sự thay đổi môi trường từ dòng chảy mạnh sang hồ nước tĩnh cũng đã  
làm cho một số loài cá ưa dòng chảy mạnh ở đai độ cao thấp hầu như đã không còn  
do không thích nghi được với môi trường nước đứng.  
- Kiểu sinh cảnh nước chảy của khu vực nghiên cứu có đại diện là dòng chảy  
chính của suối Kẽm và một số nhánh của nó. Suối Kẽm được bắt nguồn từ sườn  
Đông Bắc của dãy núi Tam Đảo từ độ cao trên 1000 m. Chiều dài của suối khoảng  
20 km, độ rộng trung bình từ 10 m đến 20 m. Độ sâu của suối vào mùa cạn từ 0,5 m  
đến 1,5 m, vào mùa lũ có thể đạt từ 4 m đến 5 m. Suối Kẽm có độ dốc tương đối lớn  
đặc trưng cho kiểu sông suối vùng núi miền Bắc Việt Nam. Tốc dộ dòng chảy mạnh,  
nền đáy chủ yếu là đá, phần thấp đáy thường là đá tảng xen lẫn cuội, sỏi, cát. Thủy  
tính của nước: trong, hàm lượng oxy hòa tan lớn, pH dao động từ 6,8 ÷ 7,0, nhiệt độ  
nước thay đổi theo các mùa, dao động 19 ÷ 25oC. Thành phần loài cá phân bố trong  
khu vực nghiên cứu hầu hết là các loài đặc trưng cho cá suối, chúng thích nghi tốt  
với điều kiện dòng chảy mạnh, lượng oxy hòa tan lớn và nhiệt độ nước thường lạnh.  
Cơ thể cá thường có cấu trúc thon dài, hệ xương và vây phát triển mạnh, nhiều loài  
có giác bám hoặc miệng thường nằm phía dưới có tác dụng như một giác bám để  
gắn cơ thể vào nền đáy đá chịu được sức ép của dòng chảy mạnh. Thức ăn của  
chúng thường là rong tảo và các loài động vật phù du. Đại diện cho các loài này là  
các loài thuộc họ cá Chạch suối - Balitoridae, cá Bống - Gobiidae... Tại các vũng  
nơi có tốc độ dòng chảy thấp hơn thường phân bố các loài thuộc họ cá Chép -  
Cyprinidae, cá Quả - Channidae, cá Lăng - Bagridae, cá Trê - Claridae...  
- Trong 48 loài đã được ghi nhận có 4 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam: Cá  
Chuối thuộc cấp EN, cá Sỉnh, cá Chiên, cá Lăng thuộc cấp VU. Như vậy, thành phần  
loài cá ở đây không chỉ đa dạng, mà còn có nhiều loài quý hiếm, có nguy cơ tuyệt  
chủng, có giá trị bảo tồn.  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 09, 12 - 2015  
25  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Việc xây dựng hồ chứa Vai Miếu có vai trò rất quan trọng trong việc phân lũ  
và đảm bảo nguồn nước điều tiết hệ thống tưới tiêu cho khu vực. Tuy nhiên việc xây  
dựng và sử dụng hồ đã làm cho hệ sinh thái có sự thay đổi đáng kể, đã tạo nên một  
hệ sinh thái thủy vực nước tĩnh tương đối lớn. Các loài cá trong hồ hầu hết là những  
loài thích nghi với điều kiện môi trường mới và thường là các loài cá nuôi được du  
nhập đến từ các vùng khác. Các loài cá bản địa bị thu hẹp môi trường sống, một số  
loài do không thích nghi được nên đã không còn được ghi nhận sau thời gian đưa hồ  
vào sử dụng. Việc xây dựng đập chắn cũng đã làm mất đi sự lưu thông giữa hạ lưu  
và thượng lưu, dẫn đến một số loài cá có tập tính di cư từ khu vực hồ Núi Cốc lên  
thượng nguồn để sinh sản bị hạn chế như cá Chình nhật - Anguilla japonica, cá  
Chiên - Bagarius bagarius... Thời gian trước khi xây dựng hồ Vai Miếu toàn bộ hệ  
thống dòng chảy của suối Kẽm được nối liền với hệ thống suối phía dưới và chảy ra  
hồ Núi Cốc. Cùng với sự khai thác một cách quá mức đã làm cho một số loài cá bản  
địa bị mất đi, một số loài tuy còn phân bố nhưng sản lượng đã giảm đi. Kết quả  
phỏng vấn người dân địa phương cho thấy trong khoảng thời gian 15 năm trở lại đây  
không còn thấy một số loài cá đặc trưng cho khu vực này như cá Nheo sáu râu -  
Silurus wyanadensis, cá Đủng đeng - Liobagrus nigricauda, cá Bỗng -  
Spinibarbichthys denticulatus, cá Chày đất - Spinibarbus hollandi... Một số loài cá có  
giá trị kinh tế đối với dân địa phương là cá Hân, cá Dầu, cá Bống đen, cá Rô tuy còn  
nhưng số lượng đã giảm sút đáng kể. Vì vậy cần có những biện pháp quản lý phù hợp  
nhằm bảo tồn các loài cá bản địa, lưu giữ các nguồn gen quý hiếm của khu vực.  
4. KẾT LUẬN  
- Kết quả điều tra, thống kê cho thấy thành phần loài cá khu vực suối Kẽm  
thuộc VQG Tam Đảo có 48 loài thuộc 36 giống, 13 họ, 4 bộ. Trong đó, bộ cá Chép  
có tổng số lượng loài lớn nhất gồm 26 loài, bộ cá Vược có 13 loài, bộ cá Da trơn có 7  
loài và bộ cá Mang liền có 2 loài. Họ cá Chép có số lượng nhiều nhất là 17 loài chiếm  
gần 35,4%, họ cá Chạch suối có 7 loài chiếm 14,4%, họ cá Bống trắng có 4 loài  
chiếm 8,2%, các họ khác còn lại có số lượng từ 1 đến 2 loài chiếm 2,1% đến 4,2%.  
- Việc xây dựng hồ chứa Vai Miếu đã làm thay đổi tốc dộ dòng chảy vùng hạ  
lưu khu vực suối Kẽm, làm lắng đọng trầm tích tạo điều kiện thuận lợi cho các loài  
sinh vật phù du phát triển dẫn đến các loài cá nuôi phát triển nhanh về số lượng cũng  
như khối lượng lớn. Việc xây đập chặn dòng cùng với sự khai thác một cách quá  
mức đã làm cho một số loài cá bản địa bị mất đi, một số loài tuy còn phân bố nhưng  
sản lượng đã giảm đi đáng kể. Vì vậy cần có những biện pháp quản lý phù hợp nhằm  
bảo tồn các loài cá bản địa, lưu giữ các nguồn gen quý hiếm của khu vực.  
26  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 09, 12 - 2015  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Nguyễn Văn Hảo, Ngô Sỹ Vân, Cá nước ngọt Việt Nam Tập I, Nxb. Nông  
1.  
nghiệp, 2001, tr.622.  
2.  
3.  
Nguyễn Văn Hảo, Cá nước ngọt Việt Nam Tập II, Nxb. Nông nghiệp, 2005, tr.759  
Nguyễn Văn Hảo, Cá nước ngọt Việt Nam Tập III, Nxb. Nông nghiệp, 2005, tr.758  
4. Mai Đình Yên, Định loại cá nước ngọt các tỉnh phía Bắc Việt Nam, Nxb. Khoa  
học và kỹ thuật, Hà Nội, 1978, tr.340.  
5.  
6.  
7.  
8.  
9.  
Mai Đình Yên, Đa dạng sinh học cá ở suối xã Ký Phú - xã vùng đệm Vườn  
Quốc Gia Tam Đảo, 1999, tr.4.  
Mai Đình Yên, Định loại cá nước ngọt Nam bộ, Nxb. Khoa học và kỹ thuật,  
Hà Nội, 1992, tr.351.  
Bộ KH-CN-MT, Sách đỏ Việt Nam (Phần động vật), Nxb. Khoa học và kỹ thuật,  
Hà Nội, 2007.  
Pravdin I. F., Hướng dẫn nghiên cứu cá, Nxb. Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội,  
1973 (bản dịch của Nguyễn Thị Minh Giang).  
Maurice Kottelat, Freshwater fishes of Northern Vietnam, Environment and  
Social Development Unit, East Asia and Pacific region, The World Bank, 2001.  
SUMMARY  
SPECIES COMPOSITION OF FISH IN THE KEM STREAM  
TAM DAO NATIONAL PARK  
The fish species composition in the Kem stream Tam Dao National Park is  
quite abundant with 48 fish species recorded. They belong to 36 genera, 13 families  
and 4 orders, of which the Cypriniformes order are the most abundant with 26  
species, accounting for 54,1%, the Perciformes order has 13 species, 27,0%, the  
Silurifomes order has 7 species, 14,5% and the Synbranchiformes order has 2  
species, 4,2% respectively. The research results showed that, the Cyprinidae family  
was the most abundant with 17 species, accounting for 35,4% of the total species  
number, the Balitoridae family with 7 species, 14,4% and the Gobiidae family with  
4 species, 8,2% respectively.  
Từ khóa: Cá, thành phần loài, Vườn Quốc gia Tam Đảo, suối Kẽm.  
Nhận bài ngày 07 tháng 9 năm 2015  
Hoàn thiện ngày 27 tháng 9 năm 2015  
(1) Viện Sinh thái nhiệt đới, Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga  
(2) Viện Sinh thái và tiến hóa Liên bang Nga  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 09, 12 - 2015  
27  
pdf 9 trang yennguyen 13460 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thành phần loài cá suối kẽm thuộc Vườn quốc gia Tam Đảo", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthanh_phan_loai_ca_suoi_kem_thuoc_vuon_quoc_gia_tam_dao.pdf