Ảnh hưởng của hai hệ thống thủy canh lên chất lượng nước và phát triển của cá lóc và cả xanh trong mô hình aquaponic

Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
27  
Effects of two hydroponic components on water quality, snakehead fish growth and  
leaf mustard production in aquaponic system  
Tu P. C. Nguyen1∗, Ha N. Nguyen2,3, Thuy T. T. Thai3, Phong T. Tran3, & Tri N. Nguyen1  
1Faculty of Fisheries, Nong Lam University, Ho Chi Minh City, Vietnam  
2Research Institute for Biotechnology and Environment, Nong Lam University, Ho Chi Minh City, Vietnam  
3Faculty of Biological Sciences, Nong Lam University, Ho Chi Minh City, Vietnam  
ARTICLE INFO  
ABSTRACT  
Research Paper  
Aquaponic model is a farming system that integrates a recirculating aqua-  
culture system with hydroponics. There are three hydroponic methods  
commonly employed in the aquaponics systems: the media bed (MB), the  
Received: February 02, 2021  
Revised: April 05, 2021  
Accepted: April 15, 2021  
nutrient film technique (NFT) and the deep-water culture - floating rafts  
(DWC). This study was conducted to evaluate effects of two hydroponic  
systems (DWC and MB) on water quality parameters, growth rate of fish  
and development of vegetable in the aquaponic model of snakehead fish  
(Channa striata) and leaf mustard (Brassica juncea). Snakehead fish were  
Keywords  
stocked with a density of 40 fish/75 liters of water and were cultured for  
167 days. The results showed that daily temperature, pH and dissolved  
oxygen parameters in the two systems were almost the same and relatively  
stable while the electrical conductivity in the MB was much higher than  
that in the DWC. Similarly, the levels of the parameters weekly moni-  
Aquaponics  
Floating raft system  
Leaf mustard  
Media filled system  
tored (ammonia, nitrite, nitrate, total phosphorus, and alkalinity) in the  
MB were higher than those in the DWC. At the end of the experiment,  
Snakehead fish  
final weight, weight gain, specific growth rate and survival rate of fish in  
the MB treatment were higher than those in the DWC treatment, but the  
feed conversion rate of fish in the MB was lower than that in the DWC.  
∗Corresponding author  
On the contrary, vegetable yields in the DWC were significantly higher  
than those in the MB. In general, the DWC aquaponics work better than  
the MB system.  
Nguyen Phuc Cam Tu  
Cited as: Nguyen, T. P. C, Nguyen, H. N, Thai, T. T. T., Tran, P. T, & Nguyen, T. N. (2021).  
Effects of two hydroponic components on water quality, snakehead fish growth and leaf mustard  
production in aquaponic system. The Journal of Agriculture and Development 20(2), 27-35.  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)  
 
28  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
Ảnh hưởng của hai hệ thống thủy canh lên chất lượng nước và phát triển của cá lóc và  
cải xanh trong mô hình aquaponic  
Nguyễn Phúc Cẩm Tú1∗, Nguyễn Ngọc Hà2,3, Thái Thị Thanh Thủy3,  
Trần Triệu Phong3 & Nguyễn Như Trí1  
1Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM, TP. Hồ Chí Minh  
2Viện Nghiên Cứu Công Nghệ Sinh Học và Môi Trường, Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM, TP. Hồ Chí  
Minh  
3Khoa Khoa Học Sinh Học, Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM, TP. Hồ Chí Minh  
TÓM TẮT  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
Bài báo khoa học  
Mô hình aquaponic là sự kết hợp giữa nuôi thủy sản tuần hoàn và trồng  
rau thủy canh. Mô hình aquaponic có ba phương pháp thủy canh được  
dùng phổ biến: sử dụng lớp giá thể (GTS), màng dinh dưỡng (NFT) và  
canh tác nước sâu - bè nổi (bè nổi - BN). Nghiên cứu này được thực  
hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của hai hệ thống thủy canh BN và GTS  
lên các thông số chất lượng nước, tăng trưởng của cá và phát triển của  
cây trong mô hình aquaponic nuôi cá lóc đen (Channa striata) kết hợp  
với trồng cải xanh (Brassica juncea). Cá lóc được thả nuôi với mật độ  
40 con/75 lít nước và tiến hành nuôi trong 167 ngày. Kết quả cho thấy  
các chỉ tiêu theo dõi hằng ngày như nhiệt độ, pH và ôxy hòa tan ở hai hệ  
thống như nhau và tương đối ổn định; trong khi chỉ tiêu EC ở nghiệm  
thức GTS cao hơn so với hệ thống BN. Tương tự, hàm lượng của các  
thông số theo dõi hàng tuần (amôn, nitrít, nitrát, phốtpho tổng và độ  
kiềm) ở nghiệm thức GTS cao hơn so với nghiệm thức BN. Trọng lượng  
trung bình của cá lóc cuối thí nghiệm, tăng trưởng tuyệt đối và tương  
đối và tỷ lệ sống ở hệ thống GTS cao hơn, nhưng FCR thấp hơn so với  
hệ thống BN. Trái lại, năng suất rau thu hoạch ở hệ thống BN cao hơn  
rất đáng kể so với hệ thống GTS. Nhìn chung, mô hình aquaponic BN có  
hiệu quả cao hơn mô hình aquaponic GTS.  
Ngày nhận: 02/02/2021  
Ngày chỉnh sửa: 05/04/2021  
Ngày chấp nhận: 15/04/2021  
Từ khóa  
Aquaponic  
Cá lóc đen  
Cải bẹ xanh  
Hệ thống bè nổi  
Hệ thống giá thể sỏi  
∗Tác giả liên hệ  
Nguyễn Phúc Cẩm Tú  
1. Đặt Vấn Đề  
tự do trong nước, nơi xảy ra quá trình hấp thu  
chất dinh dưỡng. Hệ thống bè nổi có mực nước  
Aquaponic là sự kết hợp của nuôi thủy sản bên phía dưới bè sâu từ 25 đến 50 cm, nên lượng  
(aquaculture) và thủy canh (hydroponics, trồng nước sử dụng trong hệ thống này nhiều hơn gấp  
cây không cần đất). Trong hệ thống aquaponic, bốn lần so với các hệ thống khác (Rakocy & ctv.,  
nước thải giàu dinh dưỡng từ bể cá được sử dụng 2006; Rakocy, 2012). Trong hệ thống tưới ngập  
để trồng cây thủy canh, điều này là tốt cho cá xả cạn - giá thể sỏi, rễ của cây trồng và giá thể  
vì rễ cây và hệ vi sinh vật sẽ giúp loại bỏ chất trơ có tác dụng loại bỏ các chất thải rắn từ bể  
độc trong nước như NH3, NO−,... Cây và vi sinh cá, với hệ thống này không cần lắp đặt thêm bể  
vật có vai trò như một bộ lọc 2sinh học, làm giảm lắng và lọc sinh học. Bùn và chất thải rắn từ bể  
amôn, nitrít, nitrát, phốtpho; kết quả là nước sau cá bị giữ lại trong các giá thể trồng cây và được  
khi lọc sẽ được tái tuần hoàn trở lại bể cá (Mc- quần thể vi sinh vật phân giải. (Rakocy & ctv.,  
Murtry & ctv., 1997; Somerville & ctv., 2014).  
2006).  
Một mô hình aquaponic thường gồm có bể nuôi  
Cá lóc là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng  
cá, tách cặn, lọc sinh học, hệ thống thủy canh và cao, thơm ngon. Nghề nuôi cá lóc đã đem lại hiệu  
quả kinh tế cao cho các hộ nông dân ở các tỉnh  
đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, sự ô nhiễm  
bơm. Ở hệ thống canh tác nước sâu - bè nổi,  
cây được trồng trên bè xốp nổi. Rễ cây được thả  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
29  
môi trường ao nuôi/vùng nuôi, sự bùng phát dịch đa là 360 g/ngày. Hệ thống BN gồm có bể cá, bể  
bệnh do vi khuẩn, lạm dụng kháng sinh,... đã hạn lọc cặn, bể lọc sinh học và bể trồng rau. Bể cá là  
chế sự phát triển nghề nuôi cá lóc thâm canh thùng nhựa hình chữ nhật có thể tích 100 L (kích  
(Cao & ctv., 2014). Trong đó, vấn đề xử lý nước thước dài x rộng x chiều cao bể là 610 mm x 420  
thải/tuần hoàn tái sử dụng nước cho các mô hình mm x 390 mm), được đặt chìm dưới đất khoảng  
nuôi cá lóc là vấn đề nan giải cho người nuôi. Cá 20 cm. Thể tích nước trong bể được duy trì ở mức  
lóc cần nhu cầu protein rất cao cho tăng trưởng và 75 L. Bể lọc cặn và bể lọc sinh học là thùng nhựa  
trao đổi chất (Tran & ctv., 2005). Nhưng phần lớn hình trụ (đường kính 30 cm, cao 54 cm) có thể  
thức ăn không được sử dụng hoặc được bài tiết tích khoảng 35 L, được nối thông với nhau bằng  
dưới dạng các hợp chất nitơ độc (amôn, nitrít) ống nhựa Φ42. Bể lọc cặn được thiết kế kiểu tự  
gây phú dưỡng hệ sinh thái nước. Trong quá trình lắng. Bể lọc sinh học được thiết kế theo kiểu giá  
nuôi, để đảm bảo môi trường nước tốt cho cá tăng thể lơ lửng sử dụng 15 L hạt nhựa Kaldnes. Bể  
trưởng, người nuôi phải thay nước thường xuyên trồng rau làm bằng composite hình chữ nhật với  
(Lam & ctv., 2011).  
kích thước dài x rộng x cao tương ứng là 3 m x  
2 m x 0,3 m, thể tích 1800 L (chứa 1300 L nước)  
được đặt nằm trên mặt đất. Bè nổi là các tấm xốp  
XPS, mỗi tấm xốp có kích thước 0,6 x 1,2 m (dày  
5 cm) được khoét 24 lỗ/tấm (tổng cộng 6 tấm) và  
ở đầu mỗi bể, có thêm 3 tấm xốp kích thước 0,6  
m x 0,4 m được khoét 9 lỗ/tấm. Lỗ khoét tròn có  
đường kính 5 cm, khoảng cách giữa hai lỗ (tâm  
cách tâm) trên một hàng ngang là 20 cm và trên  
mỗi hàng dọc là 15 cm. Tổng cộng có 171 cây/hệ  
thống bè nổi (mật độ 30 cây/m2) (Hình 1). Trong  
bể cá, bể lọc sinh học và bể rau sử dụng hệ thống  
sục khí liên tục để tạo sự khuấy trộn nước, tăng  
lượng ôxy cho cá và vi khuẩn. Nước từ bể cá được  
bơm vào bể lọc cặn, tự chảy qua bể lọc sinh học  
đến bể trồng rau và tuần hoàn trở lại bể cá. Lưu  
lượng nước chảy trong toàn bộ hệ thống là 360  
L/giờ.  
Do đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm  
đánh giá ảnh hưởng của hai hệ thủy canh (bè nổi  
và giá thể sỏi) lên các thông số chất lượng nước,  
tăng trưởng của cá và phát triển của rau trong  
mô hình aquaponic nuôi cá lóc kết hợp trồng cải  
xanh qui mô hộ gia đình.  
2. Vật Liệu và Phương Pháp Nghiên Cứu  
2.1. Vật liệu  
Nghiên cứu này được tiến hành ở khu thí  
nghiệm của Viện Nghiên cứu Công nghệ Sinh học  
và Môi trường (RIBE), Trường Đại học Nông  
Lâm TP.HCM. Cá lóc giống được mua ở Trại  
cá giống Mười Thanh, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng  
Nai. Cá được nuôi trong bể composite 1 m3 để  
thích nghi với điều kiện thí nghiệm trong một  
tuần và được cho ăn thức ăn viên thương mại  
hai lần/ngày (7 giờ và 17 giờ), với lượng ăn thỏa  
mãn nhu cầu. Khi cá đạt trọng lượng khoảng 9,5  
- 10,5 g/con thì tiến hành bố trí thí nghiệm. Cá  
có trọng lượng trung bình 10,1 0,4 g/con được  
thả vào bể với mật độ 40 con/75 L nước nuôi dựa  
trên kết quả nghiên cứu của Cao & ctv. (2014)  
và Phan & Cao (2014).  
Hình 1. Hệ thống canh tác nước sâu - bè nổi.  
2.2. Hệ thống thí nghiệm và vận hành  
Hệ thống GTS được thiết kế theo hướng dẫn  
của Timmons & Ebeling (2010): chọn tỷ lệ 1 thể  
tích cá nuôi/2 thể tích giá thể sỏi. Hệ thống GTS  
gồm có bể cá, bể rau và bể hồi nước. Bể cá và bể  
hồi là bể nhựa hình chữ nhật với thể tích 100 L  
(kích thước dài x rộng x chiều cao bể là 610 mm  
x 420 mm x 390 mm). Bể cá được đặt trên kệ  
cách mặt đất 60 cm được sục khí liên tục, trong  
khi đó bể hồi được đặt trên mặt đất. Bể rau được  
làm bằng composite có kích thước dài x rộng x  
cao tương ứng là 1,2 m x 1 m x 0,2 m (thể tích  
Thí nghiệm được bố trí với hai nghiệm thức là  
hai hệ thống thủy canh: hệ thống canh tác nước  
sâu – bè nổi (BN) và hệ thống tưới ngập xả cạn -  
giá thể sỏi (GTS), mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần.  
Toàn bộ hệ thống thí nghiệm được đặt trong nhà  
lưới.  
Hệ thống BN được thiết kế dựa theo tỷ lệ lượng  
thức ăn/diện tích trồng cây là 60 g/m2 (Rakocy  
& ctv., 2006). Sinh khối cá dự kiến đạt 12 kg/bể  
với tỷ lệ cho ăn 3% trọng lượng thân, lượng ăn tối  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)  
 
30  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
240 L) được đặt trên kệ cao cách mặt đất khoảng bể rau. Tất cả các chỉ tiêu được phân tích theo  
40 cm (Hình 2). Trong bể rau cho các hạt sét các phương pháp chuẩn của Baird & ctv. (2017).  
nung cao lên khoảng 15 cm (khoảng 180 L hạt Tổng nitơ amôn (TAN), nitrít, nitrát, phốtpho  
sét nung) và có lắp một bell-siphon để tự động tổng số (TP) và độ kiềm được xác định tương  
rút nước ở đáy và chảy về bể hồi. Máy bơm sẽ ứng bằng phương pháp phenate (4500-NH3 F),  
bơm nước ngược từ bể hồi lên bể cá và chảy sang phương pháp trắc quang (4500-NO−2 B), phương  
pháp khử cadimi (4500-NO−3 E), phương pháp  
axít ascorbic (4500-P E) và phương pháp chuẩn  
độ (2320 B).  
bể rau. Ở hệ thống này, một chu kỳ bơm và xả  
cạn là 16 phút. Mỗi hệ thống GTS có tổng cộng  
50 rọ trồng cây (mật độ khoảng 42 cây/m2).  
2.4. Đánh giá tăng trưởng của cá và sinh  
trưởng của rau  
Các công thức tính toán như sau:  
Tăng trưởng tuyệt đối:  
WG (g/con) = Wt - Wo  
Tăng trưởng tương đối:  
lnWt − lnWo  
SGR (%/ngày) =  
× 100%  
t
Hình 2. Hệ thống tưới ngập xả cạn – giá thể sỏi.  
Trong đó:  
Wo: Khối lượng cá trước, g/con;  
Wt: Khối lượng cá sau, g/con;  
Thời gian thí nghiệm kéo dài 167 ngày (từ ngày  
7/8/2020 đến 21/1/2021). Thức ăn thí nghiệm là  
thức ăn dành cho cá lóc của Công ty TNHH Khoa  
Kỹ Sinh vật Thăng Long (cỡ viên 2 - 6 mm, độ  
đạm 42 - 44%). Cá lóc được cho ăn hai lần trong  
ngày (7 giờ và 17 giờ), với lượng ăn thỏa mãn  
nhu cầu, mỗi lần cho ăn kéo dài khoảng 1 giờ.  
Sau khi cá ngừng ăn, tiến hành thu và ghi nhận  
lượng thức ăn thừa để tính lượng ăn. Thức ăn cho  
ăn được bổ sung thêm vitamin C (với liều 0,5%)  
bằng cách hòa tan vitamin C vào nước và phun  
lên viên thức ăn.  
t: Thời gian giữa hai lần thu mẫu, ngày.  
Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR):  
F
FCR =  
Mt − Mo + Mc  
Trong đó:  
F: lượng thức ăn đã cung cấp cho cá ăn giữa  
hai lần thu mẫu, g;  
Mo: Tổng khối lượng cá trước, g;  
Mt: Tổng khối lượng cá sau, g;  
Mc: Tổng khối lượng cá chết, g.  
Hạt giống rau được ngâm và đem ủ trong khăn  
ẩm từ 10 - 12 giờ. Sau đó, hạt giống được gieo  
vào xốp ươm (94 lỗ/tấm). Sau khi hạt nảy mầm  
được 10 - 12 ngày, cây có 1 - 2 lá thật, bắt đầu  
chuyển cây vào hệ thống, sau 30 ngày tiến hành  
thu hoạch rau. Trong thời gian thí nghiệm, có  
tổng cộng ba đợt trồng và thu hoạch rau.  
Tỉ lệ sống:  
số lượng cá ở thời điểm t  
Tỷ lệ sống (%) =  
× 100%  
số lượng cá ở thời điểm o  
Đánh giá sự sinh trưởng của rau:  
Năng suất cá thể (g/cây): Khối lượng trung  
bình của các cây theo dõi khi thu hoạch (20  
cây/bể trồng rau).  
2.3. Lấy và phân tích mẫu nước  
Năng suất lý thuyết (g/hệ): Khối lượng trung  
bình của cây theo dõi x số cây/hệ.  
Nhiệt độ, pH, ôxy hòa tan (DO) và độ dẫn  
điện (EC) được đo hằng ngày vào hai thời điểm  
(7 giờ và 14 giờ) lần lượt bằng máy đo Digital  
thermometer WT - 1, Denver pH meter UP- 10,  
Milwwaukee MW 600 Dissolved Oxygen và Con-  
ductivity Meter B - 173. Tổng nitơ amôn (TAN),  
nitrít, nitrát, phốtpho tổng số (TP) và độ kiềm  
được đo một tuần một lần (ngày thứ hai hàng  
tuần) tại hai vị trí/hệ thống: bể cá và đầu ra của  
Năng suất thực thu (g/hệ): Cân khối lượng  
thực tế của tất cả các cây trong ô thí nghiệm  
khi thu hoạch.  
2.5. Phân tích thống kê  
Các phân tích thống kê thực hiện theo hướng  
dẫn của Gomez và Gomez (1984) và Bhujel  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)  
 
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
31  
Bảng 1. Giá trị của các chỉ tiêu đo hàng ngày trong các bể nuôi cá lóc ở hai nghiệm thức  
Giá thể sỏi  
Bè nổi  
Giá trị  
xác suất  
> 0,05  
Chỉ tiêu  
Sáng  
Chiều  
Sáng  
Chiều  
Nhiệt độ (oC)  
pH  
26,9 1,2  
29,4 1,1  
27,8 1,2  
29,3 1,0  
6,81 0,33  
7,49 0,32 7,46 0,37  
6,80 0,37  
< 0,001  
Ôxy hòa tan (mg/L)  
6,57 0,39 6,54 0,36  
6,70 0,43  
6,69 0,46  
< 0,001  
< 0,001  
Độ dẫn điện (mS/cm) 1,37 0,27 1,37 0,28 0,532 0,165 0,534 0,171  
Giá trị thể hiện trong bảng là trung bình  
độ lệch chuẩn. Giá trị xác suất là kết quả phân tích của kiểm định T hai mẫu  
độc lập dùng để so sánh các giá trị trung bình giữa hai nghiệm thức.  
(2008). Sự khác biệt về giá trị trung bình của các thống BN nhiều gấp 10 lần hệ thống GTS. Nhiệt  
chỉ tiêu đo hàng ngày (nhiệt độ, pH, DO và EC) độ không chỉ ảnh hưởng đến loài cá nuôi, mà còn  
giữa hai nghiệm thức được phân tích bằng kiểm ảnh hưởng đến sự phát triển của thực vật và hiệu  
định T hai mẫu độc lập. Với các chỉ tiêu chất quả của hệ thống lọc sinh học. Theo Ngo (2003),  
lượng nước đo theo tuần, để đánh giá sự biến nhiệt độ thích hợp nuôi cá lóc là 20 - 30oC. Trong  
động giữa hai nghiệm thức theo thời gian thu khi cải xanh có thể thích nghi với khoảng nhiệt  
mẫu, phân tích thống kê bằng phương sai một độ rộng từ 10 - 27oC và hệ lọc sinh học hoạt  
yếu tố với đo lường lặp lại (repeated measures động tốt nhất ở nhiệt độ trong khoảng 25 - 30oC  
ANOVA) với các nghiệm thức (bể thủy canh) là (Somerville & ctv., 2014; Sallenave, 2016).  
yếu tố thí nghiệm và đợt thu mẫu là yếu tố đo  
lường lặp lại. Kiểm định Bonferroni được dùng để  
so sánh sự khác biệt giữa các đợt thu mẫu. Trong  
cùng một nghiệm thức, để so sánh sự khác biệt  
của các chỉ tiêu chất lượng nước giữa bể cá và bể  
rau sử dụng kiểm định T hai mẫu liên hệ. So sánh  
sự khác biệt giữa hai nghiệm thức về giá trị trung  
bình của các chỉ tiêu tăng trưởng (khối lượng ban  
đầu/cuối, WG, SGR), tỷ lệ sống và FCR của cá  
và chiều dài rễ và các chỉ tiêu năng suất (cá thể,  
lý thuyết và thực thu) của rau sử dụng kiểm định  
T hai mẫu độc lập.  
Giá trị pH của hệ thống GTS luôn cao hơn so  
với hệ thống BN (Bảng 1). Nguyên nhân có thể  
là do hệ thống GTS dùng các hạt đất sét nung  
có khả năng đệm giúp giữ giá trị pH luôn cao  
hơn. Giá trị pH là một trong những thông số chất  
lượng nước quan trọng trong hệ thống aquaponic,  
có ảnh hưởng rất lớn đến tất cả các thành phần,  
đặc biệt là thực vật và vi khuẩn. Giá trị pH có  
ảnh hưởng đến chất dinh dưỡng sẵn có cho cây: ở  
khoảng pH 6,0 - 6,5 tất cả các chất dinh dưỡng đa  
- vi lượng đều ở dạng sẵn có cho cây, ngoài khoảng  
pH này cây rất khó hấp thu chất dinh dưỡng, đặc  
Số liệu được biểu diễn dưới dạng giá trị trung biệt là Fe, Ca và Mg. Trái lại, vi khuẩn nitrát hóa  
bình  
độ lệch chuẩn. Mức xác suất P < 0,05 hoạt động tối ưu ở pH > 7,5 và khi pH < 6,0 vi  
được chấp nhận như tiêu chuẩn đánh giá sự khác khuẩn ngưng hoạt động. Do đó, để duy trì hoạt  
biệt có ý nghĩa thống kê. Tất cả các phân tích động tối ưu của cả ba thành phần cá - rau - vi  
thống kê được thực hiện bằng phần mềm IBM khuẩn, giá trị pH nên nằm trong khoảng 6,8 - 7,0  
SPSS Statistics for Windows, Version 19.0 (Ar- (Somerville & ctv., 2014; Sallenave, 2016). Trong  
monk, NY: IBM Corp).  
hai hệ thống, giá trị pH của hệ thống BN thích  
hợp cho mô hình aquaponic hơn.  
3. Kết Quả và Thảo Luận  
Hàm lượng DO ở cả hai hệ thống BN và GTS  
luôn được duy trì tương đối ổn định ở mức (>  
5 mg/L) đảm bảo cho cá và hệ vi khuẩn ni-  
trát hóa hoạt động bình thường (Bảng 1). Trong  
hệ thống aquaponic, hàm lượng DO tối ưu nằm  
trong khoảng 4 – 8 mg/L (Somerville & ctv.,  
2014; Sallenave, 2016).  
3.1. Chất lượng nước  
3.1.1. Các chỉ tiêu đo hàng ngày  
Nhìn chung, có sự chênh lệch về nhiệt độ giữa  
buổi sáng và buổi chiều: ở mỗi hệ thống nhiệt độ  
vào buổi chiều thường cao hơn buổi sáng (Bảng  
1). Nhiệt độ ở hệ thống BN ổn định hơn so với hệ  
thống GTS. Điều này có thể là do sự khác nhau  
trong thiết kế hệ thống: (i) ở hệ thống BN bể cá  
được đặt âm dưới đất, và (ii) thể tích nước ở hệ  
Theo Bảng 1, EC buổi sáng và buổi chiều trong  
cùng hệ thống ở cả hai nghiệm thức gần như  
tương đồng với nhau. Độ dẫn điện trong hệ thống  
aquaponic nằm trong khoảng 0,3 - 1,1 mS/cm là  
phù hợp cho cá và rau (Wortman, 2015). Do đó,  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)  
 
32  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
EC trong nghiên cứu này tương tự với các nghiên  
cứu khác.  
3.1.2. Các chỉ tiêu đo theo tuần  
Hàm lượng TAN ở đầu ra của bể rau ở hai hệ  
thống đều thấp hơn so với bể cá và có khác biệt  
có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,05). Điều này  
có lẽ là nhờ hoạt động của các vi khuẩn nitrát  
giúp chuyển hóa amôn (Bảng 2). Ngoài ra, hàm  
lượng TAN trong nước ở hai nghiệm thức có sự  
khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê ở cả bể  
cá và đầu ra của bể rau: hàm lượng TAN ở hệ  
thống GTS cao hơn BN (P < 0,05). Hàm lượng  
TAN trung bình ở bể cá và ở đầu ra bể rau của  
GTS cao hơn tương ứng là 5,5 và 8,6 lần so với  
bể cá và đầu ra bể rau của BN (Bảng 2). Ở giai  
đoạn đầu của thí nghiệm, hàm lượng TAN ở bể  
cá của nghiệm thức GTS tương đối thấp và có xu  
hướng tăng dần và đạt giá trị cao ở tháng cuối  
của thí nghiệm. Nguyên nhân là do lượng thức  
ăn và sinh khối của cá tăng, dẫn đến việc tăng  
bài tiết TAN và hệ vi sinh trong hệ thủy canh  
GTS không có khả năng chuyển hóa hết lượng  
TAN này thành nitrít và nitrát. Ngược lại, hàm  
lượng TAN ở nghiệm thức BN luôn duy trì ở mức  
< 1 mg/L, đặc biệt là ở bể trồng rau. Trong hệ  
thống aquaponic, hàm lượng TAN nên duy trì  
< 1 mg/L (Somerville và ctv., 2014; Sallenave,  
2016). Các nghiên cứu nuôi cá lóc trong hệ thống  
tuần hoàn và bể bạt cho thấy cá lóc có thể sống  
trong môi trường có hàm lượng TAN khoảng 5  
mg/L (Lam & ctv., 2011; Cao & ctv., 2014; Phan  
& Cao, 2014).  
Hàm lượng nitrit trung bình ở bể cá của mỗi  
hệ thống cao hơn có ý nghĩa thống kê so với mẫu  
ở đầu ra bể rau (P < 0,05), do có sự chuyển hóa  
nitrít thành nitrát để cây có thể hấp thụ và phát  
triển. Ngoài ra, sự khác biệt về hàm lượng nitrít  
trung bình giữa hai nghiệm thức có ý nghĩa về  
mặt thống kê (P < 0,05). Hàm lượng nitrít trung  
bình ở bể cá và bể rau của GTS cao hơn so với  
BN (Bảng 2). Hàm lượng nitrít ở hệ thống BN  
biến động tương đối ổn định hơn so với GTS.  
Hàm lượng nitrít trong hai hệ thống luôn nằm  
trong giới hạn phù hợp cho hoạt động hệ thống  
aquaponic (< 1 mg/L) (Somerville & ctv., 2014;  
Sallenave, 2016).  
Hàm lượng nitrát trung bình ở bể cá và đầu ra  
của bể rau trong cùng hệ thống không có khác  
biệt, gần như là bằng nhau. Hàm lượng nitrát  
trung bình ở hệ thống GTS cao hơn BN (Bảng 2).  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)  
 
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
33  
Hàm lượng nitrát ở hệ thống GTS cao hơn so với của cá lóc trong hệ thống aquaponic thấp hơn  
hệ thống BN ở giai đoạn đầu thí nghiệm, sau đó kết quả của các tác giả khác. Theo Cao & ctv.  
có xu hướng giảm dần và thấp hơn hệ thống BN (2014) và Phan & Cao (2014), cá lóc có thể tăng  
ở giai đoạn cuối thí nghiệm. Theo Somerville & trưởng từ cá giống 6,6 – 6,8 g/con đến trọng lượng  
ctv. (2014) và Sallenave (2016), hàm lượng nitrát khoảng 345 - 380 g/con trong 110 - 120 ngày.  
trong hệ thống aquaponic nằm trong khoảng 5 Nguyên nhân có lẽ do nước trong hệ thống quá  
- 150 mg/L, chứng tỏ hệ thống hoạt động tốt trong, khi cho cá ăn, cá nhát ăn; đặc biệt ở hệ  
(Somerville & ctv., 2014).  
thống BN, do bể cá được đặt dưới đất, nên khi đi  
lại cho ăn, cá không ăn nhiều. Trong các nghiên  
cứu tiếp theo, cần che tối bể cá, nhất là khi cho  
cá ăn.  
Phốtpho (P) là một trong những chất dinh  
dưỡng cần thiết cho sự phát triển của cây rau.  
Hàm lượng P tổng trung bình ở bể cá và đầu ra  
của bể rau ở mỗi hệ thống có sự khác biệt (Bảng  
2). Hàm lượng P tổng trung bình ở hệ thống GTS  
khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa bể cá  
và đầu ra của bể rau. Nhưng ở hệ thống BN,  
hàm lượng P trung bình ở bể cá cao hơn có ý  
nghĩa thống kê so với đầu ra bể rau (P < 0,05).  
Khi so sánh giữa hai nghiệm thức, hàm lượng P  
tổng ở hệ thống BN cao hơn so với hệ thống GTS  
(P < 0,05); có lẽ là do lượng thức ăn thừa và  
phân cá được lưu giữ trong các GTS sỏi. Kết quả  
của nghiên cứu này cũng tương tự các nghiên cứu  
khác: hàm lượng P trong hệ thống aquaponic dao  
động trong khoảng 1 - 17 mg/L (Goddek & ctv.,  
2015).  
Sự khác biệt về tỷ lệ sống của cá lóc giữa  
nghiệm thức GTS và nghiệm thức BN không có  
ý nghĩa thống kê (P > 0,05) (Bảng 3). So với  
kết quả của các tác giả khác, tỷ lệ sống trung  
bình của cá lóc trong nghiên cứu này thấp hơn  
của các tác giả khác (Cao & ctv., 2014; Phan &  
Cao, 2014). Nghiệm thức GTS có FCR thấp hơn  
so với nghiệm thức BN (P < 0,05) (Bảng 3). So  
với kết quả của các tác giả khác, FCR thu được  
trong nghiên cứu này rất cao so với của các tác  
giả khác (Cao & ctv., 2014; Phan & Cao, 2014):  
dao động từ 1,05 - 1,13.  
3.3. Sinh trưởng của rau  
Độ kiềm trung bình ở hệ thống GTS cao hơn có  
ý nghĩa so với hệ thống BN (P < 0,05). Khi bắt  
đầu thí nghiệm, độ kiềm ở hai hệ thống là như  
nhau và có xu hướng tăng dần theo thời gian nuôi,  
tăng nhanh ở giai đoạn cuối do việc bổ sung vôi  
CaCO3. Độ kiềm ở hệ thống BN luôn ở mức thấp  
hơn ngưỡng phù hợp trong mô hình aquaponic  
(≥ 100 mg CaCO3/L), trong khi đó độ kiềm ở  
hệ thống GTS luôn cao hơn ngưỡng này. Nguyên  
nhân có thể là do trong hệ thống BN quá trình  
nitrát hóa diễn ra mạnh mẻ, H+ phóng thích ra từ  
quá trình này làm tiêu hao độ kiềm. Ngược lại, ở  
hệ thống GTS, quá trình nitrát diễn ra chậm hơn  
và đặc biệt phản ứng phản nitrát xảy ra trong  
GTS sỏi làm tăng độ kiềm (Somerville & ctv.,  
2014; Sallenave, 2016).  
Năng suất cá thể ở nghiệm thức BN cao hơn  
so với nghiệm thức GTS (Bảng 4). Do đó, năng  
suất rau cải ở nghiệm thức BN cao hơn nghiệm  
thức GTS (P < 0,05). Ở đợt trồng rau 1, năng  
suất rau thực thu ở nghiệm thức BN (4.205  
2.224 g/hệ) cao gấp hơn 5,5 lần ở nghiệm thức  
GTS (758 250 g/hệ). Ở đợt trồng rau 2, năng  
suất rau ở mỗi nghiệm thức tương đối thấp, GTS  
là 129 13 g/hệ, ở BN là 769 324 g/hệ. Ở đợt  
trồng rau 3, năng suất rau thu được ở nghiệm  
thức GTS là 605 71 g/hệ, ở nghiệm thức BN là  
7,117 1,325 g/hệ. Năng suất rau thu hoạch thấp  
ở hệ thống GTS cũng có thể là do hệ thủy canh  
GTS có tổng cộng 50 cây/hệ (mật độ khoảng 42  
cây/m2) thấp hơn so với hệ thống BN có tổng  
cộng 171 lỗ (mật độ 30 cây/m2).  
3.2. Tăng trưởng, tỷ lệ sống và hệ số chuyển  
đổi thức ăn của cá  
Trong 3 đợt trồng rau, đợt rau 3 cho năng suất  
cao nhất cả hai nghiệm thức. Ở đợt trồng rau 2,  
cây phát triển không tốt do thời tiết ẩm, mưa liên  
tục nhiều ngày dẫn đến cây rau bị nhiễm nấm,  
xuất hiện sâu ăn lá, sâu đục thân. Ngoài ra, rệp  
xanh tấn công làm cho cây chậm phát triển, teo  
lá làm năng suất cây rau ở đợt 2 khi thu hoạch  
thấp. Thêm vào đó, ở nghiệm thức GTS, khi sinh  
khối cá tăng dẫn đến các vật chất hữu cơ tăng,  
các chất cặn tương đối nhiều làm quá trình phát  
Trọng lượng trung bình cá ban đầu ở hai  
nghiệm thức không có sự khác biệt (P > 0,05).  
Trọng lượng trung bình của cá lóc cuối thí nghiệm  
và WG ở nghiệm thức GTS cao hơn có ý nghĩa  
thống kê so với nghiệm thức BN (P < 0,05),  
nhưng sự khác biệt về SGR giữa hai nghiệm thức  
không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05) (Bảng 3).  
Kết quả của nghiên cứu này cho thấy tăng trưởng  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)  
34  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
Bảng 3. Ảnh hưởng của hai hệ thống thủy canh lên tăng trưởng, tỷ lệ sống và sử dụng  
thức ăn của cá lóc ở hai nghiệm thức  
Chỉ tiêu  
Giá thể sỏi  
Bể nổi  
10,1 0,2a  
171 7b  
161 7b  
a
Trọng lượng trung bình cá ban đầu (g/con)  
Trọng lượng trung bình cá cuối thí nghiệm (g/con)  
Tăng trưởng tuyệt đối (g/con)  
Tăng trưởng tương đối (%/ngày)  
Tỷ lệ sống (%)  
10,2 0,6  
208 13a  
198 13a  
1,81 0,07a 1,69 0,03a  
90,8 1,4a  
87,5 6,6a  
Hệ số chuyển đổi thức ăn  
1,54 0,12a 1,90 0,06b  
Trung bình  
độ lệch chuẩn. Các giá trị trung bình trong cùng một hàng có cùng ký tự chỉ sự khác biệt  
không có ý nghĩa (P > 0,05) (kiểm định T hai mẫu độc lập).  
Bảng 4. Ảnh hưởng của hai hệ thống thủy canh lên chiều dài rễ và năng suất rau ở các đợt thu hoạch  
Đợt thu  
hoạch  
Năng suất cá thể  
(g/cây)  
Năng suất lý thuyết  
(kg/m2)  
Năng suất thực thu  
(kg/m2)  
Nghiệm thức1  
GTS  
BN  
GTS  
BN  
GTS  
BN  
13,3 4,6a  
27,4 17,0b  
3,3 0,3a  
666 232a  
758 250a  
1
2
3
4.678 2.900b  
165 16a  
4.205 2.224b  
129 13a  
6,9 2,5b  
1.181 434b  
660 81a  
769 324b  
13,2 1,6a  
44,5 6,6b  
605 71a  
7.610 1.137b  
7.117 1.325b  
Ở cùng đợt thu hoạch, các giá trị trung bình trong cùng một cột có cùng ký tự chỉ sự khác biệt không có ý nghĩa (P >  
0,05) (kiểm định t hai mẫu độc lập).  
1BN: Hệ thống canh tác nước sâu – bè nổi (BN); GST: hệ thống tưới ngập xả cạn - giá thể sỏi.  
triển của rễ cây giảm, cây không hấp thụ được Lời Cảm Ơn  
các chất dinh dưỡng do đó không phát triển, xuất  
hiện hiện tượng vàng lá và chết dần.  
Tập thể tác giả xin chân thành cảm ơn Trường  
Đại Học Nông Lâm TP.HCM đã tài trợ kinh phí  
thực hiện (Mã số: CS-CB19-TS-01).  
4. Kết Luận  
Các chỉ tiêu chất lượng nước đo hằng ngày: Tài Liệu Tham Khảo (References)  
nhiệt độ, pH, độ dẫn điện, ôxy hòa tan, TDS ở  
hệ thống thủy canh BN ổn định hơn so với hệ  
Baird, R. B., Eaton, A. D., & Rice, E. W. (2017).  
Standard methods for the examination of water and  
thống thủy canh GTS. Về các chỉ tiêu chất lượng  
nước đo hàng tuần: TAN, nitrít, nitrát, nitơ tổng,  
phốtpho tổng và phốtpho hòa tan ở hệ thống thủy  
canh BN đều thấp hơn so với hệ thống thủy canh  
GTS. So với các nghiên cứu khác, tăng trưởng của  
cá lóc nuôi trong hệ thống aquaponic ở nghiên  
cứu này còn thấp, nhưng FCR lại cao hơn. Mô  
hình aquaponic BN có năng suất rau đạt hiệu  
quả cao hơn so với mô hình GTS ở ba đợt trồng  
rau. Do đó, mô hình aquaponic BN hiệu quả cao  
hơn mô hình aquaponic GTS.  
wastewater (23rd ed.). Washington DC, USA: Water  
Environment Federation, American Public Health As-  
sociation, American Water Works Association.  
Bhujel, R. C. (2008). Statistics for aquacultureed. New  
Jersey, USA: Wiley-Blackwell.  
Cao, V. T., Pham, T. L., & Truong, Q. P. (2014). Effects  
of stocking density on water quality, growth and sur-  
vival of snakehead fish (Channa striata) cultured in  
recirculating system. Can Tho University Journal of  
Science 2, 79-85.  
Goddek, S., Delaide, B., Mankasingh, U., Ragnarsdot-  
tir, K. V., Jijakli, H., & Thorarinsdottir, R. (2015).  
Challenges of sustainable and commercial aquaponics.  
Sustainability 7(4), 4199-4224.  
Lời Cam Đoan  
Gomez, K. A., & Gomez, A. A. (1984). Statistical pro-  
cedures for agricultural research (2nd ed.). New York,  
USA: John Wiley & Sons.  
Các tác giả tuyên bố không có bất kỳ mâu  
thuẫn nào liên quan đến việc xuất bản bài báo  
này.  
Lam, M. L., Nguyen, T. H., & Duong, N. L. (2011). Trials  
of snakehead (Channa sp.) culture in lined tanks in  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)  
     
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
35  
Hau Giang province. Proceedings of the 4th Conference  
on Aquaculture and Fisheries. Can Tho City, Vietnam:  
Can Tho University.  
Sallenave, R. (2016). Important water quality parameters  
in aquaponics systems. New Mexico, USA: College of  
Agricultural, Consumer and Environmental Sciences,  
New Mexico State University.  
McMurtry, M. R., Sanders, D. C., Cure, J. D., Hodson,  
R. G., Haning, B. C., & Amand, E. C. S. (1997). Ef-  
ficiency of water use of an integrated fish/vegetable  
co-culture system. Journal of the World Aquaculture  
Society 28(4), 420-428.  
Somerville, C., Cohen, M., Pantanella, E., Stankus,  
A.,  
& Lovatelli, A. (2014). Small-scale aquaponic  
food production: integrated fish and plant farm-  
ing. FAO Fisheries and Aquaculture Technical Pa-  
per 589, 262. Retrieved December 25, 2014, from  
Ngo, T. L. (2003). Culture technique of eel, frog, softshell  
turtles and snakehead fish (9th ed.). Ho Chi Minh City,  
Vietnam: Agricultural Publishing House.  
Timmons, M. B., & Ebeling, J. M. (2010). Recirculating  
aquaculture (2nd ed.). New York, USA: Cayuga Aqua  
Ventures.  
Phan, T. T. V., & Cao, V. T. (2014). An effect of feeding  
frequency on the growth of snakehead (Channa stri-  
ata) reared in recirculation systems. An Giang Uni-  
versity Journal of Science 4(3), 79-84.  
Tran, T. T. H., Nguyen, T. N. L., Duong, T. Y., &  
Nguyen, A. T. (2005). Protein requirements of giant  
snakehead (Channa micropeltes, Cuvier, 1831) finger-  
lings. Can Tho University Journal of Science 3, 58-65.  
Rakocy, J. E. (2012). Aquaponics - integrating fish and  
plant culture. In Tidwell, J. H. (Ed.). Aquaculture pro-  
duction systems. New York, USA: John Wiley & Sons.  
Wortman, S. E. (2015). Crop physiological response to  
nutrient solution electrical conductivity and pH in an  
ebb-and-flow hydroponic system. Scientia Horticul-  
turae 194, 34-42.  
Rakocy, J. E., Masser, M. P.,  
& Losordo, T. M.  
(2006). Recirculating aquaculture tank produc-  
tion systems: Aquaponics integrating fish and  
plant culture. Retrieved November 1, 2006, from  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)  
pdf 9 trang yennguyen 12320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ảnh hưởng của hai hệ thống thủy canh lên chất lượng nước và phát triển của cá lóc và cả xanh trong mô hình aquaponic", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfanh_huong_cua_hai_he_thong_thuy_canh_len_chat_luong_nuoc_va.pdf