Điều tra tình hình tiêu thụ cá ở huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 2 (2021)  
ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH TIÊU THỤ CÁ Ở HUYỆN PHÚ LỘC,  
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ  
1*  
2
1
Trần Thị Ái Mỹ , Phan Thị Thuý Hằng , Hoàng Thái Long  
1
Khoa Hoá, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế  
2
Khoa Sinh, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế  
*
Ngày nhận bài: 30/11/2020; ngày hoàn thành phản biện: 01/12/2020; ngày duyệt đăng: 15/4/2021  
TÓM TẮT  
Đây là nghiên cứu đầu tiên điều tra tình hình tiêu thụ cá của người dân trên địa  
bàn huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Kỹ thuật thu thập thông tin được thiết  
kế dựa trên sự kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính  
thông qua bảng câu hỏi. Các xã Vinh Hiền, Vinh Hưng, Lộc Bình và Lộc Điền được  
lựa chọn để điều tra. Kết quả cho thấy, 98% các hộ được phỏng vấn đều có tiêu thụ  
cá trong bữa ăn chính hàng ngày. Có nhiều loại cá khác nhau được tiêu thụ bao  
gồm cá nước lợ (đánh bắt và nuôi trồng ở đầm phá), cá biển và các loại cá nước  
ngọt khác (ao, hồ, sông, suối). Mức tiêu thụ cá bình quân của một người dân ở  
huyện Phú Lộc là 53,4 ± 32,7 kg/người/năm hay 149 ± 90 g/người/ngày. Trong đó,  
mức tiêu thụ cá bình quân của người dân ở xã Lộc Bình (xã có ít hộ làm nghề nuôi  
trồng thủy-hải sản nhất) là thấp nhất (36,0 ± 23,7 kg/người/năm hay 99 ± 65  
kg/người/ngày) so với các xã còn lại (p < 0,05).  
Từ khoá: tiêu thụ cá, huyện Phú Lộc.  
1. MỞ ĐẦU  
Huyện Phú Lộc, Thừa Thiên Huế với vị trí địa lý rất đặc biệt, tiếp giáp với biển  
2
Đông theo đường bờ biển dài 65 km cùng với đầm Cầu Hai chiếm diện tích 112 km ,  
thuộc hệ thống đầm phá Tam Giang - Cầu Hai là một trong những hệ đầm phá lớn  
nhất Đông Nam Á [1, 2]. Sản lượng thủy-hải sản trung bình giai đoạn 2013 – 2016 của  
huyện Phú Lộc đạt 10.000 tấn, chiếm gần ¼ tổng sản lượng thủy-hải sản của cả tỉnh  
Thừa Thiên Huế [3]. Các loại thủy-hải sản nuôi trồng chủ yếu là tôm sú xen ghép với  
các loại cua, cá dìa, cá kình, cá đối, cá rô phi, ... và nuôi cá lồng (cá mú, cá vẩu) là  
những loài cho giá trị kinh tế cao, đem lại nhiều thu nhập cho người dân. Lĩnh vực  
thủy-hải sản của huyện Phú Lộc nói riêng và tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung tỉnh đã  
37  
Điều tra tình hình tiêu thụ cá ở huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế  
có bước phát triển mạnh với sản lượng thủy-hải sản nuôi trồng hàng năm rất cao, đóng  
góp rất lớn sản lượng thủy-hải sản cho địa phương và quốc gia [3].  
Có nhiều nghiên cứu về các chất gây độc (kim loại vết và tổng As, các hợp chất  
hữu cơ bền vững, vi nhựa, …) có trong các loài cá và trong môi trường nước có nguy  
cơ rủi ro ảnh hưởng sức khoẻ con người [1, 4, 5]. Việc tiêu thụ cá cũng như các loài  
thủy-hải sản khác là nhu cầu thiết yếu của chế độ ăn uống lành mạnh và cân bằng của  
con người. Tuy nhiên, một số loài cá có thể bị nhiễm các chất độc môi trường và có thể  
gây nguy hiểm cho sức khoẻ người tiêu dùng. Do đó, thông tin về tỷ lệ tiêu thụ cá là  
quan trọng và cần thiết, nhằm cung cấp số liệu bước đầu để các nhà khoa học ước  
lượng được nguy cơ rủi ro phơi nhiễm với các hoá chất độc hại do tiêu thụ cá bị ô  
nhiễm [1, 4, 7-9] . Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hành vi và mức độ tiêu thụ cá. Một  
số nghiên cứu cho thấy việc tiêu thụ cá thay đổi theo khu vực địa lý, dân tộc, độ tuổi  
và kiến thức về rủi ro và lợi ích [6, 7]. Do đó, tỷ lệ tiêu thụ cá thu được từ các cuộc điều  
tra quốc gia có thể không đại diện cho người dân địa phương [8]. Vì vậy, để đánh giá  
mức độ tiếp xúc với các chất gây ô nhiễm môi trường địa phương hoặc để đánh giá sự  
tuân thủ với các lời khuyên về tiêu dùng cá của chính quyền địa phương, cần phải tiến  
hành khảo sát các quần thể địa phương [9]. Nghiên cứu này nhằm cung cấp mức tiêu  
thụ cá trung bình của người dân trên địa bàn huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế,  
phục vụ cho đánh giá mức độ phơi nhiễm các các chất ô nhiễm môi trường (nếu có)  
đến người tiêu dùng cá địa phương.  
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Phương pháp thiết kê bảng hỏi  
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp điều tra, phỏng vấn trực tiếp người tiêu  
dùng bằng bảng câu hỏi (questionaires) để điều tra tình hình tiêu thụ cá ở địa bàn  
nghiên cứu.  
Bảng câu hỏi được thiết kế và hoàn thiện dựa trên các cuộc điều tra người tiêu  
dùng trước đây được thực hiện ở tỉnh Thừa Thiên Huế [1, 4] và tham khảo từ các  
nghiên cứu về điều tra mức tiêu thụ cá ở các quốc gia khác trên thế giới [8, 9]. Bảng câu  
hỏi đã được kiểm tra kỹ để đảm bảo các câu hỏi đều rõ ràng, bao gồm cả câu hỏi mở và  
câu hỏi đóng (có các đáp án để lựa chọn). Các câu hỏi mở cho phép người trả lời tự do  
thể hiện bản thân trong khi câu hỏi đóng bao gồm các câu hỏi theo tỷ lệ Likert để đánh  
giá thái độ, nhận thức của người trả lời. Bảng câu hỏi được chia thành bốn phần chính  
như trong Bảng 1.  
38  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Bảng 1. Các phần chính của bảng câu hỏi đối với người tiêu dùng cá  
Tập 18, Số 2 (2021)  
Phần A: Tiêu thụ cá  
- Thói quen tiêu dùng: tần suất, sở thích đối với cá và sản  
phẩm làm từ cá  
Phần B: Kiến thức về cá  
- Kiến thức của người tiêu dùng về lợi ích của cá đối với sự  
phát triển trí não của trẻ  
Phần C: Nhận thức, thái độ về - Phần này bao gồm các câu hỏi mở và đóng, ý kiến của  
cá và sản phẩm làm từ cá  
người trả lời phân chia theo thang đo Likert từ “Hoàn toàn  
đồng ý” cho đến “Hoàn toàn không đồng ý”  
Phần D: Thông tin về người - Câu hỏi chung về tên tuổi, giới tính, nơi ở, …  
tiêu dùng  
2.1. Phương pháp thu thập thông tin  
Trong nghiên cứu này, 140 mẫu (hộ gia đình) ở xã Vinh Hiền, Vinh Hưng, Lộc  
Điền và Lộc Bình được lựa chọn để khảo sát. Các mẫu được chọn ngẫu nhiên ở các địa  
điểm như siêu thị, chợ địa phương, chợ đầu mối/bãi tập kết cá và ở khu vực nuôi  
trồng. Kết hợp với phương pháp chọn mẫu thuận tiện (convenicence sampling), trong  
đó việc chọn mẫu dựa trên sự thuận lợi hoặc/và dựa trên tính dễ tiếp cận của người  
được phỏng vấn ở những hộ gia đình mà nhân viên điều tra có khả năng tiếp cận dễ  
dàng.  
2.2. Phương pháp xử lý số liệu thực nghiệm  
Kết quả thực nghiệm được xử lí bằng phần mềm Excel 2019, (version 16.43  
(20110804), Volume License 2019). Tất cả các bảng câu hỏi đều được mã hoá để che  
giấu danh tính của người trả lời nhằm đảm bảo tính riêng tư của người được hỏi.  
Từ các dữ liệu điều tra có được, tính toán mức tiêu thụ cá bình quân đầu người  
theo bảng 2.  
Bảng 2. Công thức tính toán mức tiêu thụ cá bình quân của một người  
Giá trị/Công thức  
Các thông số  
Đơn vị  
tính  
Lượng cá tiêu thụ của một hộ gia đình trong một bữa ăn  
Số người trong hộ gia đình  
a
b
c
kg/bữa ăn  
người  
lần  
Tần suất tiêu thụ cá của hộ gia đình trong 1 tuần  
Mức tiêu thụ bình quân đầu người hàng tuần  
Mức tiêu thụ bình quân đầu người hàng năm  
Mức tiêu thụ bình quân đầu người hàng ngày  
kg/người/tuần  
kg/người/năm  
kg/người/ngày  
39  
Điều tra tình hình tiêu thụ cá ở huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Tiêu thụ cá của người dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế  
Hình 1 chỉ ra 98% của số người được hỏi (n = 140) là có tiêu thụ cá hoặc sản phẩm  
làm từ cá. Có rất ít (chỉ 2%) các người được hỏi là không tiêu thụ cá, chủ yếu là vì lý do  
ăn chay trường (tín ngưỡng tôn giáo hoặc đơn giản chỉ là không ăn đạm động vật). Các  
hộ này tập trung ở xã Lộc Điền (67%, n = 2) và xã Lộc Bình (33%, n = 1).  
Hình 1. Tiêu thụ cá của người dân Thừa Thiên Huế  
Trong số 137 người được phỏng vấn có tiêu thụ cá, độ tuổi rơi vào khoảng từ 18  
cho đến trên 55 tuổi (Hình 2). Kiểm tra CHITEST (chi square test) cho thấy độ tuổi của  
người tiêu thụ cá không ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đối với sự tiêu thụ cá (p > 0,05)  
Hình 2. Tiêu thụ cá theo nhóm tuổi  
40  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 2 (2021)  
Hình 3 chỉ ra tần suất tiêu thụ cá (n = 137). Đa số các hộ gia đình được phỏng vấn  
đều tiêu thụ cá nhiều hơn 2 lần trong tuần, chỉ có rất ít hộ (7,3%) được hỏi là tiêu thụ cá  
1-2 lần/tuần, các hộ này chủ yếu tập trung ở xã Lộc Bình, và là các hộ không làm nghề  
đánh bắt, nuôi trồng thuỷ-hải sản. Có đến 16,1% các hộ tiêu thu cá 6 lần/tuần rải rác đều  
cả 4 xã điều tra, tập trung chủ yếu vào các hộ gia đình có làm nghề đánh bắt và nuôi  
trồng thuỷ-hải sản hoặc/và những tư thương kinh doanh thuỷ-hải sản. Có 2,2% các hộ  
tiêu thụ cá nhiều hơn 7 lần/tuần chủ yếu ở xã Vinh Hưng và các hộ này đều là các hộ làm  
nghề nuôi trồng thủy-hải sản ở khu vực đầm phá Tam Giang – Cầu Hai, huyện Phú Lộc,  
tỉnh Thừa Thiên Huế.  
Hình 3. Tần suất tiêu thụ cá (bao gồm các sản phẩm làm từ cá)  
Hình 4 chỉ ra lượng cá được tiêu thụ trung bình trong một bữa ăn của một người  
trong hộ gia đình. Hàm lượng cá tiêu thụ trung bình thấp nhất là < 0,1 kg/người/bữa ăn  
(3,6%, n = 137) tập trung ở 2 xã Lộc Bình và Lộc Điền, và cao nhất là lên đến 0,3 – 0,4  
kg/người/bữa ăn (24,8%, n = 137) rải rác đều cả 4 xã. Phần lớn mức tiêu thụ cá trung bình  
của một người trong một bữa ăn là từ 0,1 – 0,2 kg (32,1%, n = 137) và 0,2 – 0,3  
kg/người/bữa ăn (39,4%, n = 137). Mức tiêu thụ cá trung bình của một người trong hộ gia  
đình là 0,2 kg/người/bữa ăn.  
41  
Điều tra tình hình tiêu thụ cá ở huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế  
Hình 4. Mức tiêu thụ cá bình quân của một người trong một bữa ăn (kg/người/bữa ăn)  
3.2. So sánh mức tiêu thụ cá của người dân ở các khu vực khác nhau  
Từ các dữ liệu điều tra khảo sát, tính toán mức tiêu thụ cá bình quân đầu người  
của người dân ở huyện Phú Lộc là 54,3 ± 32,7 kg/người/năm (hay 149 ± 90 g/người/ngày).  
Mức tiêu thụ cá bình quân năm của người dân ở các xã Vinh Hiền, Vinh Hưng, Lộc Điền,  
Lộc Bình được biểu diễn ở Bảng 3 và Hình 5.  
Bảng 3. Mức tiêu thụ cá bình quân của người dân ở huyện Phú Lộc  
Mức tiêu thụ cá bình quân năm  
(kg/người/năm)  
Mức tiêu thụ cá bình quân ngày  
(g/người/ngày)  
Xã  
Vinh Hiền  
Vinh Hưng  
Lộc Điền  
67,5 ± 32,2 (n = 36)  
63,3 ± 41,5 (n = 28)  
54,9 ± 24,1 (n =. 2)  
185 ± 88(n = 36)  
173 ± 114 (n = 28)  
150 ± 66 (n =. 2)  
Lộc Bình  
36,0 ± 23,7 (n = 41)  
99 ± 65 (n = 41)  
42  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 2 (2021)  
Hình 5. Mức tiêu thụ cá bình quân đầu người (kg/người/năm) ở các khu vực khác nhau ở huyện  
Phú Lộc.  
Áp dụng phương pháp phân tích phương sai 1 yếu tố (ANOVA single factor)  
với mức ý nghĩa p = 0,05 để đánh giá ảnh hưởng của các khu vực khảo sát khác nhau  
đến mức tiêu thụ cá bình quân (kg/người/năm) cho thấy:  
- Người dân ở các khu vực khảo sát khác nhau cho kết quả mức tiêu thụ cá  
trung bình khác nhau (Ftính = 8,014 > Flý thuyết (p = 0,05; f1 = 3, f2 = 133) = 2,672) với p < 0,05, trong đó  
mức tiêu thụ cá bình quân đầu người ở thị xã Lộc Bình là thấp nhất (trung bình là 36,0  
kg/người/năm).  
Tuy nhiên khi so sánh mức tiêu thụ cá bình quân năm tại 3 xã còn lại bằng phân  
tích phương sai 1 yếu tố (ANOVA single factor) lại cho thấy không có sự khác biệt có ý  
nghĩa thống kê về mức tiêu thụ cá bình quân đầu người ở 3 xã Vinh Hiền, Vinh Hưng,  
Lộc Điền (Ftính = 1,304 < Flý thuyết (p = 0,05; f1 = 2, f2 = 90) = 3,097) với p > 0,05.  
Thực tế điều tra phỏng vấn cho thấy, các xã Vinh Hiền, Vinh Hưng, Lộc Điền có  
nhiều hộ làm nghề đánh bắt/nuôi trồng thủy-hải sản so với xã Lộc Bình. Các hộ ở xã  
Lộc Bình có điều kiện kinh tế khó khăn hơn so với các xã còn lại. Khi so sánh mức tiêu  
thụ cá giữa các hộ có và không làm nghề đánh bắt/nuôi trồng thủy-hải sản cũng cho  
thấy các hộ có làm nghề đánh bắt/nuôi trồng thủy-hải sản thì mức tiêu thụ cá cao hơn  
những hộ không làm nghề đánh bắt/nuôi trồng thủy-hải sản (p < 0,05). Điều này được  
giải thích một phần là do thu nhập của các hộ nông dân không nuôi trồng thủy-hải sản  
là không quá cao, do đó chi phí dành cho bữa ăn là không nhiều để thường xuyên mua  
cá. Tuy nhiên, vì nhận thức tầm quan trọng của việc tiêu thụ cá cũng như sự cần thiết  
phải đa dạng nguồn thức ăn trong các bữa ăn nên những hộ này vẫn tiêu thụ cá từ 1 –  
4 bữa ăn trong tuần. Các loài cá được lựa chọn là bất cứ loại nào với chi phí không quá  
43  
Điều tra tình hình tiêu thụ cá ở huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế  
cao. Ngược lại, đối với các hộ đánh bắt và nuôi trồng thủy-hải sản thì hầu như ngày  
nào cũng có cá trong bữa ăn, với tâm lý chung là “có gì ăn đó”. Do đó, lượng tiêu thụ  
cá tại các xã có nhiều hộ nuôi trồng thủy-hải sản cao hơn so với xã có ít các hộ làm  
nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy-hải sản.  
3.3. Hiểu biết của người tiêu dùng về cá  
Khi người tiêu dùng được hỏi về omega 3 thì chỉ có 20,7% (n = 140) người được  
hỏi xác định Omega 3 là chất thiết yếu cần thiết cho sự phát triển, trong khi những  
người còn lại không biết gì về Omega 3. Kết quả phỏng vấn cho thấy người dân nói  
chung còn thiếu nhận thức về lợi ích của Omega 3 & 6 cũng như các vitamin và khoáng  
chất khác thường có trong cá. Trong số 20,7% người được hỏi nhận thức được lợi ích  
sức khỏe của Omega 3, ví dụ: để ngăn ngừa bệnh tim mạch, thì 44,8% trong số họ  
nhầm lẫn Omega 3 với protein. Kết quả điều tra này khuyến cáo chính quyền nên có  
các chương trình tuyên truyền nâng cao nhận thức nhằm giáo dục cộng đồng về lợi ích  
của Omega 3 & 6 hay lợi ích dinh dưỡng của cá nhằm nâng cao sự hiểu biết cơ bản của  
cộng đồng.  
Tuy nhiên, 95% người được hỏi (n = 140) hoàn toàn đồng ý rằng cá có lợi cho  
sức khỏe mặc dù rất nhiều người trong số những người được hỏi không nhận thức  
được lý cá tốt cho sức khoẻ con người như thế nào. Nguồn cá tiêu thụ của người dân ở  
các khu vực phỏng vấn là từ đầm phá, biển và ao, hồ, sông suối. Hầu hết người dân ở  
huyện Phú Lộc đều tiêu thụ cá tươi được mua tận nơi nuôi trồng, chợ đầu mối (các  
điểm tập kết thuỷ-hải sản trước khi phân phát ra các chợ khác) và chợ địa phương.  
91,2% (n = 137) người trả lời đều không mua cá đông ở siêu thị (bao gồm các loại cá  
trong nước và cá nhập khẩu), tuy nhiên có 8,8% có mua cá đóng hộp ở siêu thị để sử  
dụng. Hình 6 biểu diễn tỉ lệ phần trăm người dân huyện Phú Lộc chọn mua cá ở các  
địa điểm khác nhau.  
Hình 6. Những địa điểm được người dân ở huyện Phú Lộc chọn để mua cá.  
Đa số mọi người (86,4%, n = 140) đều đồng ý rằng việc bảo quản lạnh sẽ giữ  
được cá lâu hơn, tuy nhiên đến 90,1% trong số họ không thích tiêu thụ cá đã bảo quản  
44  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 2 (2021)  
lạnh. Họ ưu tiên lựa chọn cá tươi cho bữa ăn của gia đình. Điều này hoàn toàn dễ hiểu  
và hoàn toàn phù hợp với thực tế tại huyện Phú Lộc, khi hàng ngày có rất nhiều cá  
tươi mua bán tại địa phương và thậm chí lượng cá đánh bắt/thu hoạch nhiều đến mức  
đưa sang các địa phương khác để tiêu thụ, do đó người dân thường lựa chọn mua cá  
hàng ngày (khi cần) để được thực phẩm tươi và giữ được các chất dinh dưỡng.  
KẾT LUẬN  
Nghiên cứu này là một trong số ít những nghiên cứu về mức tiêu thụ cá của  
tỉnh Thừa Thiên Huế. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hầu hết người dân huyện Phú Lộc  
(98%) đều có tiêu thụ cá. Kết quả điều tra cũng chỉ ra rằng, khu vực địa lý và ngành  
nghề của người dân có ảnh hưởng đến mức tiêu thụ cá bình quân đầu người. Những  
xã có nhiều hộ làm nghề đánh bắt/nuôi trồng thủy-hải sản có mức tiêu thụ cá bình  
quân trong một năm lớn hơn xã có ít hộ làm nghề nuôi trồng/đánh bắt thủy-hải sản.  
Mức tiêu thụ cá bình quân của người dân huyện Phú Lộc là 54,3 ± 32,7 kg/người/năm  
hay 149 ± 90 g/người/ngày. Nghiên cứu cũng cho thấy sự thiếu hiểu biết của người dân  
về cá, do đó chính quyền nên có những chương trình, dự án cộng đồng để nâng cao  
nhận thức, hiểu biết của người dân. Bên cạnh đó, cần mở rộng đối tượng điều tra để có  
cái nhìn bao quát hơn về tiêu thụ cá ở Tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng cũng như các  
tỉnh miền Trung nói chung, những nơi có các hệ thống đầm phá và đường bờ biển dài  
của Việt Nam.  
LỜI CẢM ƠN  
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Đề tài Cấp Đại học Huế (DHH2020-01-171).  
45  
Điều tra tình hình tiêu thụ cá ở huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Tran, T.A.M., Govindan, M., Hoang, T.L., Nguyen, V.H., Covaci, A., Elskens, M. (2019).  
Occurrence of organochlorine pesticides and polychlorinated biphenyls in sediment and  
fish in Cau Hai lagoon of Central Vietnam: Human health risk assessment. Marine  
Pollution Bulletin 141, 521 – 528.  
[2]. Giuliani, S., Romano, S., Turetta, C., Cu, N.H., Bellucci, L.G., Capodaglio, G., Mugnai, C.,  
Nhon, D.H., Frignani, M. (2011). Soils and sediments of the Thua Thien-Hue Province  
(central Vietnam): recognizing trace element sources and the likely influence of natural  
events. J. Environ. Monit. 13, 1383-1392.  
[3]. Cục thống kê Tỉnh Thừa Thiên Huế (2017). Niên giám thống kê Tỉnh Thừa Thiên Huế. Nhà  
xuất bản Thống kê.  
[4]. Tran, T.A.M., Leermakers, M., Hoang, T.L., Nguyen, V.H., Elskens, M. (2018). Metals and  
arsenic in sediment and fish from Cau Hai lagoon in Vietnam: Ecological and human  
health risks. Chemosphere 210, 175–182.  
[5]. Andrady, A.L. (2017). The plastic in microplastics: a review. Mar. Pollut. Bull. 119 (1), 12–  
22.  
[6]. Moya, J., Itkin, C., Selevan, S. G., Rogers, J. W., & Clickner, R. P. (2008). Estimates of fish  
consumption rates for consumers of bought and self-caught fish in Connecticut, Florida,  
Minnesota, and North Dakota. Science of the total environment, 403(1-3), 89-98.  
[7]. Burger J, Gochfield M. (2006). A framework and information needs for the management of  
risk from consumption of self-caught fish. Environ Res;101(2):275–85.  
[8]. U.S. EPA (2002). Estimated per capita fish consumption in the United States. Office of  
Water. EPA/821/C-02/003.  
[9]. Fishermen Investment Trust. (2013). Fish Consumption Survey, Mauritius Report/Rapport:  
SF-FAO/2013/30. FAO-SmartFish Programme of the Indian Ocean Commission, Ebene,  
Mauritius.  
46  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 2 (2021)  
FISH CONSUMPTION SURVEY IN PHU LOC DISTRICT,  
THUA THIEN HUE PROVINCE  
1*  
1
Tran Thi Ai My , Phan Thi Thuy Hang, Hoang Thai Long  
1
Department of Chemistry, University of Sciences, Hue University  
2
Department of Biology, University of Sciences, Hue University  
*
ABSTRACT  
This is the first study investigating the fish consumption situation of people in Phu  
Loc district, Thua Thien Hue province where a social practice approach was  
employed. Data collection through questionnaires was designed based on a  
combination of quantitative and qualitative methods. Four communes including  
Vinh Hien, Vinh Hung, Loc Binh and Loc Dien were selected for this study. The  
results showed that 98% of respondents consumed fish in the main daily meals.  
Lots of different kinds of fish were consumed including brackish fish (caught and  
cultured in the lagoon), marine fish and other freshwater fish (in ponds, lakes,  
rivers, streams). Analysis of the results indicated a per capita consumption of fish  
of 53.4 ± 32.7 kg/year or (149 ± 90 g/day) in Phu Loc district. In which, a per capita  
consumption of fish (36.0 ± 23.7 kg/year or 99 ± 65 g/day) in Loc Binh commune  
(with the fewest households engaged in aquaculture) was the lowest compared to  
the rest surveyed areas (p <0.05).  
Keywords: fish consumption, Phu Loc district.  
47  
Điều tra tình hình tiêu thụ cá ở huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế  
Trần Thị Ái Mỹ sinh ngày 16/02/1982 tại Thừa Thiên Huế. Năm 2004, bà  
tốt nghiệp Cử nhân Hóa học tại Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế.  
Năm 2007, bà tốt nghiệp Thạc sĩ Hóa học tại Trường Đại học Khoa học,  
Đại học Huế. Năm 2018, bà nhận học vị Tiến sĩ Hoá học tại Trường Đại  
học Vrije Universiteit Brussel, Bỉ. Hiện nay, bà công tác tại Trường Đại  
học Khoa học, Đại học Huế.  
Lĩnh vực nghiên cứu: Phân tích các chất độc trong môi trường, đánh giá  
nguy cơ rủi ro đối với hệ sinh thái và con người.  
Phan Thị Thuý Hằng sinh ngày 22/6/1981 tại Quảng Trị. Năm 2003, bà tốt  
nghiệp Cử nhân Sinh học tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế.  
Năm 2007, bà tốt nghiệp Thạc sĩ Sinh Thái học tại Trường Đại học Khoa  
học, Đại học Huế. Năm 2018, bà nhận học vị Tiến sĩ Sinh học tại Trường  
Đại học Vrije Universiteit Brussel, Bỉ. Hiện nay, bà công tác tại Trường  
Đại học Khoa học, Đại học Huế.  
Lĩnh vực nghiên cứu: đa dạng sinh học ven biển, sinh thái thực vật, đa dạng  
di truyền quần thể  
Hoàng Thái Long sinh ngày 08/11/1960 tại thành phố Huế. Ông tốt  
nghiệp Cử nhân Hóa học tại trường Đại học Tổng hợp Huế năm 1983.  
Năm 1997, ông tốt nghiệp Thạc sĩ Hóa học và Kỹ thuật Môi trường tại  
Viện Công nghệ Tokyo, Nhật Bản. Năm 2011, ông nhận học vị Tiến sĩ  
ngành Hóa học tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia  
Hà Nội. Hiện nay, ông công tác tại Trường Đại học Khoa học, Đại học  
Huế.  
Lĩnh vực nghiên cứu: Phân tích điện hóa, Phân tích môi trường.  
48  
pdf 12 trang yennguyen 18320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Điều tra tình hình tiêu thụ cá ở huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdieu_tra_tinh_hinh_tieu_thu_ca_o_huyen_phu_loc_tinh_thua_thi.pdf