Hiện trạng khai thác cá lưỡi trâu (Cynoglossus arel) ở vùng ven biển tỉnh Kiên Giang

Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 7(116)/2020  
HIỆN TRẠNG KHAI THÁC CÁ LƯỠI TRÂU (Cynoglossus arel)  
Ở VÙNG VEN BIỂN TỈNH KIÊN GIANG  
Võ ành Toàn1, Lý Văn Khánh1  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu hiện trạng khai thác cá lưỡi trâu (Cynoglossus arel) ở vùng ven biển tỉnh Kiên Giang nhằm bổ sung  
thông tin khoa học và làm cơ sở cho quản lý và khai thác đối tượng này trong tương lai. Nghiên cứu được thực hiện  
bằng cách phỏng vấn trực tiếp 30 hộ dân khai thác cá lưỡi trâu dọc theo sông Cái ở huyện Gò Quao và U Minh  
ượng tỉnh Kiên Giang bằng biểu mẫu phỏng vấn đã được soạn sẵn. Kết quả điều tra cho thấy đa số người tham  
gia đánh bắt thủy sản là nam giới. Lưới đáy, lồng bẫy và xiệp là 3 loại ngư cụ được ngư dân sử dụng để khai thác cá  
lưỡi trâu là chủ yếu, chiếm tỷ lệ cao là lưới đáy chiếm 90% và thấp nhất là xiệp chiếm 3,3%. Mùa vụ khai thác của cá  
lưỡi trâu đạt hiệu quả cao nhất tập trung từ tháng 5 đến tháng 7. Sản lượng cá lưỡi trâu cao nhất thu từ ngư cụ là xiệp  
(19.400 kg/năm), tiếp theo là lưới đáy (5.242 kg/năm) và thấp nhất là lồng bẫy (3.841 kg/năm).  
Từ khóa: Cá lưỡi trâu, hiện trạng khai thác, ngư cụ  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Cá lưỡi trâu thuộc họ Cynoglossidae, bộ  
Pleuronectiformes (cá bơn) là loài cá sống đáy, sinh  
sống tự nhiên cả nước ngọt, lợ và mặn. Cá lưỡi trâu  
vảy to (Cynoglossus arel) là loài sống vùng ven biển,  
có kích thước khá lớn trong họ, cá có dạng hình lưỡi.  
eo Rahman (1989), cá lưỡi trâu vảy to có tập tính  
sống đáy bùn và cát vùng thềm lục địa có độ sâu từ  
9 - 125 m, ở vùng cửa sông và các con sông chịu tác  
động của thuỷ triều. Đây là loài có giá trị kinh tế và  
chúng mang lại một nguồn kinh tế nhất định cho  
các hộ dân sống bằng nghề đánh bắt hải sản. eo  
Nelson (2006), cá thuộc họ Cynoglossidae chủ yếu  
sống vùng biển, có một số đi vào sống vùng nước  
ngọt. Trên thế giới đã có những nghiên cứu về họ  
cá lưỡi trâu nói chung và loài cá lưỡi trâu vảy to nói  
riêng. Một số nghiên cứu về loài cá lưỡi trâu vảy to  
về thức ăn và tính ăn (Khalil and Ibrahim, 2016),  
về sinh sản (Ghaffari el al., 2015). Chính vì thế việc  
khảo sát hiện trạng khai thác cá lưỡi trâu vảy to  
(Cynoglossus arel) ở vùng ven biển tỉnh Kiên Giang  
để có thêm thông tin nhằm làm cơ sở cho việc quản  
lý và khai thác cũng như làm cơ sở cho các nghiên  
cứu về đặc điểm sinh học, sản xuất giống và nuôi cá  
lưỡi trâu vảy to.  
2.2.1. Phương pháp thu thập và tổng hợp số liệu  
Số liệu thứ cấp được thu thập bằng cách tổng hợp  
các báo cáo của cơ quan ban ngành địa phương, báo  
cáo khoa học, tạp chí chuyên ngành, luận văn cao học.  
Số liệu sơ cấp được thu thập bằng cách phỏng vấn  
trực tiếp 30 hộ dân khai thác cá lưỡi trâu vảy to dọc  
theo sông Cái ở huyện Gò Quao và U Minh ượng  
tỉnh Kiên Giang bằng biểu mẫu phỏng vấn đã được  
soạn sẵn. Nội dung biểu mẫu phỏng vấn gồm các  
thông tin chủ yếu sau: ông tin tuổi, giới tính, số  
người trong gia đình, số người tham gia khai thác,  
số năm kinh nghiệm, chi phí ban đầu, địa điểm khai  
thác, sản lượng, tiêu thụ sản phẩm. Nhận thức của  
người dân về hoạt động khai thác và nguồn lợi cá  
lưỡi trâu, ngư cụ khia thác, thuận lợi và khó khăn  
trong khai thác thủy sản.  
Các số liệu sau khi phỏng vấn sẽ được tổng hợp,  
kiểm tra, phân nhóm thông tin, mã hóa rồi nhập vào  
máy tính bằng phần mềm Microsof Excel.  
2.2.2. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu  
Sử dụng phần mềm Microsof Excel để phân  
tích và xử lý số liệu đã kiểm tra và nhập vào máy  
tính thông qua các phương pháp như: phương pháp  
thống kê mô tả dùng để phân tích tần suất, phần  
trăm, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị lớn  
nhất, giá trị nhỏ nhất để xem xét số liệu từ đó đưa  
ra kết luận.  
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Đối tượng nghiên cứu  
2.3. ời gian và địa điểm nghiên cứu  
Các hộ dân khai thác và đánh bắt cá lưỡi trâu tại  
sông Cái ở huyện Gò Quao và U Minh ượng tỉnh  
Kiên Giang được phỏng vấn trực tiếp dựa theo biểu  
mẫu phỏng vấn đã được soạn và in sẵn.  
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 8 năm 2018  
đến tháng 12 năm 2018 tại vùng ven biển dọc theo  
dòng sông Cái ở huyện Gò Quao và U Minh ượng  
tỉnh Kiên Giang.  
1 Khoa ủy sản, Đại học Cần ơ  
174  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 7(116)/2020  
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
Các loại ngư cụ được người dân nơi đây sử dụng có  
sự chênh lệch nhất định. Trong đó ngư cụ lưới đáy  
được sử dụng chiếm tỉ lệ cao nhất (90%), lồng bẫy  
chiếm tỉ lệ 6,7% và đẩy xiệp chiếm tỉ lệ 3,3%. Do cá  
lưỡi trâu sống chủ yếu ở tầng đáy nên ngư cụ khai  
thác chủ yếu là những ngư cụ đáy.  
3.1. ông tin chung về các hộ khai thác thủy sản  
Kết quả khảo sát cho thấy lực lượng lao động có  
độ tuổi từ 31 - 40 là nguồn lao động chính. Các chủ  
hộ tham gia khai thác thủy sản có độ tuổi thấp nhất  
là 30 và cao nhất là 59 tuổi.  
Bảng 1. ông tin chung về nông hộ  
Trung  
bình  
Nhỏ  
nhất  
Lớn  
nhất  
Diễn giải  
Độ tuổi tham gia  
lao động (tuổi)  
Số năm kinh nghiệm  
(năm)  
Số người tham gia  
khai thác (người)  
43,3 8,1  
22,0 7,9  
1,50 0,6  
30  
10  
1
59  
40  
3
Qua bảng 1 cho thấy độ tuổi trung bình của các hộ  
tham gia khai thác thủy sản là 43,3 8,1 tuổi, trong  
đó độ tuổi từ 31 - 40 chiếm tỉ lệ cao nhất (44%), độ  
tuổi dưới 31 tuổi chiếm tỉ lệ thấp nhất (3%), độ tuổi  
từ 41 - 50 chiếm 33%, độ tuổi từ 51 - 60 tuổi chiếm tỉ  
lệ 20%. Trung bình số năm kinh nghiệm trong khai  
thác thủy sản của các hộ là 22,0 7,9 năm, trong đó  
số năm kinh nghiệm của nông hộ ít nhất là 10 năm  
và nhiều nhất là 40 năm. Độ tuổi lao động và số năm  
kinh nghiệm là một trong những yếu tố quan trọng  
trong quá trình khai thác thủy sản.  
Hình 2. Các loại ngư cụ phổ biến  
trong khai thác cá lưỡi trâu  
Kết quả khảo sát cho thấy cá lưỡi trâu chủ yếu  
được khai thác ngoài sông Cái bằng ngư cụ lưới đáy,  
từ đó ta thấy chúng sinh sống chủ yếu ở tầng đáy của  
sông Cái.  
3.3. Mùa vụ khai thác và kích cỡ khai thác cá  
lưỡi trâu  
Khai thác cá lưỡi trâu của các ngư dân phân bố  
quanh năm và thường tập trung khai thác vào đầu  
tháng 4 cho đến cuối tháng 10. Do đây là thời điểm  
kết thúc mùa vụ u Đông sau đó nước lũ từ thượng  
nguồn đổ về mang theo lượng phù xa và lượng cá  
phong phú cho vùng.  
Hình 1. Cơ cấu về độ tuổi của các hộ khai thác  
Qua kết quả khảo sát các hộ có tham gia khai thác  
cá lưỡi trâu cho thấy số người tham gia khai thác  
trong hộ trung bình là 1,50 0,6 người trong đó ít  
nhất là một người và nhiều nhất là ba người. Về giới  
tính thì số lượng nam giới chiếm tỉ lệ cao hơn nữ  
giới, trong đó cụ thể nam giới chiếm 73,3%, còn nữ  
giới chiếm 27,7%. Điều này cho thấy nam giới giữ  
vai trò quan trọng trong việc đánh bắt thủy sản.  
Hình 3. Tỷ lệ hộ khai thác được cá lưỡi trâu  
Qua hình 3 cho thấy tỷ lệ các hộ khai thác được  
cá lưỡi trâu tập trung nhiều từ tháng 5 đến tháng 8,  
cao nhất vào tháng 6 chiếm 90%, thấp nhất là tháng  
1 và tháng 11 không có hộ nào khai thác được cá  
lưỡi trâu.  
3.2. Các loại ngư cụ khai thác  
Kết quả khảo sát cho thấy các chủ hộ tham gia  
khai thác cá lưỡi trâu với các loại ngư cụ được sử  
dụng chủ yếu như lồng bẫy, đẩy xiệp và lưới đáy.  
175  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 7(116)/2020  
Hình 4. Tỷ lệ kích cỡ cá lưỡi trâu được khai thác  
eo kết quả khảo sát cho thấy cá lưỡi trâu có  
kích cỡ lớn (cá có chiều dài trên 25 cm) tập trung  
chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 7, cá có kích cỡ lớn  
cao nhất vào tháng 6 chiếm 76,7% và là tháng khai  
thác cá lưỡi trâu đạt sản lượng cao nhất trong năm.  
Bên cạnh đó, cá lưỡi trâu có kích cỡ nhỏ (cá có chiều  
dài dưới 15 cm) tập chung chủ yếu từ tháng 10 đến  
tháng 2 và là các tháng đạt sản lượng thấp đồng thời  
cũng có thể là các tháng cá sinh sản, tháng có cá kích  
cỡ nhỏ nhất là tháng 12 chiếm 73,3%.  
Ngoài cá lưỡi trâu khai thác được thì ngư dân còn  
khai thác được nhiều loại cá khác trong cùng thời  
điểm như cá bống, cá đối, cá phèn, cá nâu,…eo  
nhận định của các ngư dân thì cá lưỡi trâu vảy to là  
loài có già trị kinh tế cao nhưng phần lớn cá lưỡi trâu  
khai thác được tương đối nhỏ, cá có chiều dài dao  
động khoảng từ 2,5-15 cm nên giá bán chưa được  
cao so với cá lưỡi trâu khai thác được từ các ghe cào  
ngoài biển khơi. Giá bán cá lưỡi trâu thấp nhất là  
10 ngàn đồng/kg, cao nhất là 25 ngàn đồng//kg,  
trung bình là 15,6 3,4 ngàn đồng/kg.  
3.4. Sản lượng cá lưỡi trâu  
3.4. Nhận định của các ngư dân khai thác thủy sản  
Qua hình 5 cho thấy loại ngư cụ khai thác được  
cá lưỡi trâu có sản lượng trung bình cao nhất là xiệp  
(19.400 kg/năm), tiếp theo là lưới đáy (5.242 kg/năm)  
và cuối cùng là lồng bẫy (3.841 kg/năm). eo Booth  
và Walmsley-Hart (2000), loài C. zanzibarensis  
trưởng thành khai thác chủ yếu bằng lưới kéo đáy  
chiếm ưu thế là con cái.  
Kết quả điều tra cho thấy sản lượng khai thác thủy  
sản nói chung và cá lưỡi trâu nói riêng đang có xu  
hướng giảm. Nguyên nhân là do ngư dân khai thác  
quá mức, sử dụng những ngư cụ mang tính hủy diệt  
hoặc sử dụng những ngư cụ, hóa chất cấm. Ngoài  
ra điều đáng nói hơn là sự ô nhiễm nguồn nước,  
nguyên nhân chủ yếu là do lượng nước thải từ các  
công ty thủy sản, từ các nhà máy đường, nước thải  
từ rừng tràm, từ cảng cá, các vuông tôm, ruộng lúa  
của các hộ dân thải ra ngoài sông mà chưa qua xử lý.  
Bảng 2. Nhận định của ngư dân  
về sản lượng và thành phần loài thủy sản  
Tỉ lệ (%)  
ông tin  
Sản lượng  
ành phần loài  
Giảm nhiều  
Giảm ít  
Không đổi  
Tăng nhiều  
Tăng ít  
50  
43,3  
6,7  
0
33,3  
50  
0
6,7  
10  
Hình 5. Sản lượng cá lưỡi trâu khai thác  
theo loại ngư cụ  
0
Cá lưỡi trâu sau khi khai thác được chủ yếu là để  
bán cho các thương lái hoặc trực tiếp đem ra chợ bán  
(100%) và sau đó là để ăn (46,7%), ngoài ra chúng  
còn được đem làm mắm (30%) và một số it được  
dùng làm thức ăn trong nuôi trồng thủy sản (23,3%).  
Kết quả điều tra cho thấy thành phần loài thủy sản  
ở vùng khảo sát đang có xu hướng giảm. Qua bảng 2  
cho thấy nhận đinh của ngư dân về thành phần loài  
giảm nhiều với 15 hộ chiếm 50%, giảm ít với 13 hộ  
176  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 7(116)/2020  
chiếm 43,3% và không đổi có 2 hộ với 6,7%, còn tỉ  
IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ  
lệ tăng chiếm tỉ lệ thấp nhất là 0%. Số hộ khai thác  
thủy sản hiện nay của vùng đang có xu hướng giảm,  
nguyên nhân chính là do sản lượng cá khai thác  
được ngày càng ít so với nhũng năm về trước nên  
một số hộ đã chuyển đổi nghề từ khai thác thủy sản  
sang làm vườn, làm thuê, buôn bán,… Tuy nhiên,  
bên cạnh đó vẫn còn các hộ khai thác theo hình thức  
cha truyền con nối từ đời này sang đời khác.  
4.1. Kết luận  
Lồng bẫy, lưới đáy và đẩy xiệp là những ngư cụ  
chủ yếu khai thác được cá lưỡi trâu ở vùng khảo sát  
(lồng bẫy chiếm 6,7%, lưới đáy chiếm 90% và đẩy  
xiệp chiếm 3,3%).  
Cá lưỡi trâu được khai thác tập trung từ tháng 5  
đến tháng 8. Cá lưỡi trâu có kích cỡ lớn tập trung  
vào tháng 5 đến tháng 7, kích cỡ nhỏ từ cuối tháng  
10 đến tháng 3 năm sau.  
Sản lượng các loài thủy sản cũng như là cá lưỡi  
trâu. Sản lượng cá lưỡi trâu cao nhất thu từ ngư cụ là  
xiệp (19.400 kg/năm), tiếp theo là lưới đáy (5.242 kg/  
năm) và thấp nhất là lồng bẫy (3.841 kg/năm).  
3.5. Những thuân lợi và khó khăn của ngư dân  
khai thác thủy sản  
Bảng 3 cho thấy một số ý kiến thuận lợi trong  
khai thác thủy sản được người dân nhận định như  
số hộ khai thác giảm, cá lưỡi trâu dễ bắt được từ các  
ngư cụ đáy, nguồn tiêu thụ cá lưỡi trâu ổn định…  
Cá lưỡi trâu khai thác được có thị trường tiêu thụ  
ổn định chiếm 23,3%, khai thác ở sông Cái có lượng  
nước lớn và dòng chảy mạnh chiếm 50%, do một số  
hộ dân sống dọc theo sông gần hàng đáy của mình  
nên ít tốn nhiên liệu chiếm 63,3% và cá lưỡi trâu dễ  
bắt được từ ngư cụ đáy chiếm 56,7%. Ngoài ra việc  
giảm số hộ khai thác và có nhiều loại ngư cụ cho  
khai thác cũng là những thuận lợi cho các ngư dân.  
4.2. Đề nghị  
Tăng cường các chương trình bảo vệ nguồn lợi  
thủy sản trên phương tiện thông tin đại chúng, nâng  
cao trình độ hiểu biết của ngư dân trong việc khai  
thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản thông qua các lớp  
tập huấn.  
Bảng 3. Những yếu tố thuận lợi của các hộ khai thác  
LỜI CẢM ƠN  
Nội dung  
Số hộ Tỉ lệ (%)  
Đề tài này được tài trợ bởi Dự án Nâng cấp  
Trường Đại học Cần ơ VN14-P6 bằng nguồn vốn  
vay ODA từ chính phủ Nhật Bản.  
Nước lớn  
Dễ bắt được cá từ ngư cụ đáy  
Ít tốn nhiên liệu  
15  
17  
19  
7
50,0  
56,7  
63,3  
23,3  
Nguồn tiêu thụ ổn định  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Booth and Walmsley-Hart, 2000. Biology of the  
redspotted tonguesole Cynoglossus zanzibarensis  
(Pleuronectiformes: Cynoglossidae) on the Agulhas  
Bank South Africa. South African Journal of Marine  
Science, 22 (1): 185-197.  
Ghaffari, H. H. Sahafi, G.H. Engelhard, M. M. Babaei,  
2015. Reproductive biology of largescale tonguesole  
Cynoglossus arel in coastal waters of Bandar Abbas,  
Persian Gulf, Iran. Animal Reproduction Science,  
154: 142-157.  
Khalil and F. Ibrahim, 2016. Food and feeding habits  
of Cynoglossu arel (Family: Cynoglossidae) from  
Karachi Coast, Pakistan. International Journal of  
Fauna and Biological Studies, 3 (1): 91-96.  
Nelson, J.S., 2006. Fishes of the World. 4th Edition,  
Published by John Wiley & Sons Inc., Hoboken, New  
Jersey. 601 p.  
Trong quá trình khai thác thủy sản bên cạnh  
những thuận lợi thì các ngư dân cũng gặp không ít  
khó khăn. Vấn đề khó khăn lớn nhất của các hộ khai  
thác cá lưỡi trâu là mùa vụ khai thác bị thay đổi chiếm  
90%, theo nhận định của các ngư dân thì cá lưỡi trâu  
hiện nay xuất hiện không theo mùa vụ như trước  
mà nó còn phụ thuộc vào lượng nước thải cũng như  
hóa chất từ nhiều nguồn đổ ra khi đó chúng sẽ di  
chuyển và bị mắt vào các đáy, lồng bẫy…, khó khăn  
thứ 2 là môi trường nước bị ô nhiễm chiếm 83,3%,  
giao thông gây trở ngại chiếm 73,3%, thời tiết chiếm  
66,7%, và vấn đề tiêu thụ chiếm 3,3%.  
Bảng 4. Những yếu tố khó khăn của các hộ khai thác  
Nội dung  
Mùa vụ khai thác  
ời tiết  
Số hộ  
27  
20  
Tỉ lệ (%)  
90,0  
66,7  
Tiêu thụ  
1
3,30  
Rahman, A.K.A., 1989. Freshwater fishes of Bangladesh.  
Zoological Society of Bangladesh. Department of  
Zoology, University of Dhaka. 364 p.  
Môi trường nước  
Giao thông  
25  
22  
83,3  
73,3  
177  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 7(116)/2020  
Exploitation status of tongue fish (cynoglossus arel)  
in coastal province Kien Giang  
Vo anh Toan, Ly Van Khanh  
Abstract  
Study on the exploitation status of tongue fish (Cynoglossus arel) in coastal province Kien Giang aimed to supplement  
scientific information and basis for management and exploitation in the future. e study was conducted by directly  
interviewing 30 fishing farmers exploiting tongue fish along the Cai river in Go Quao district and U Minh uong  
district, Kien Giang province using prepared interview questionnaires. e survey result showed that the majority  
of people involved in fishing were men. Bottom nets, trap cages and xiep were the three types of fishing gears that  
fishermen used mainly to exploit buffalo tongue fish accounting for a high proportion; of which the bottom nets  
accounted for 90% and the xiep net was lowest with 3.3%. e most effective harvesting season of tongue fish was  
concentrated from May to July. e highest production of tongue fish collected from fishing gears was trawl-net  
(19,400 kg/year), followed by the bottom-nets (5,242 kg/year) and the lowest was from trap-cages (3,841 kg/year).  
Keywords: Tongue fish, exploitation status, fishing gear  
Ngày nhận bài: 02/7/2020  
Ngày phản biện: 11/7/2020  
Người phản biện: PGS. TS. Châu Tài Tảo  
Ngày duyệt đăng: 23/7/2020  
178  
pdf 5 trang yennguyen 18240 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hiện trạng khai thác cá lưỡi trâu (Cynoglossus arel) ở vùng ven biển tỉnh Kiên Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhien_trang_khai_thac_ca_luoi_trau_cynoglossus_arel_o_vung_ve.pdf