Sự phiền toái của các loại quảng cáo video trên Youtube và hàm ý cho doanh nghiệp Việt Nam
ISSN 1859-3666
MỤC LỤC
KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ
1. Nguyễn Thị Minh Nhàn và Bùi Thị Ánh Tuyết - Nghiên cứu tác động đến quản lý nhà nước về
phát triển nguồn nhân lực y tế trình độ cao ở Sơn La. Mã số: 140.1HRMg.11
A Study on the Factors Affecting Government Management in the Development of High
Quality Medical Human Resources in Sơn La Province
2
2. Kiều Quốc Hoàn - Tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đến mô hình phân phối của các
doanh nghiệp Việt Nam. Mã số: 140.1IIEM.12
12
The Impacts of the Industrial Revolution 4.0 on the Distribution Models of Vietnamese
Enterprises
QUẢN TRỊ KINH DOANH
3. Nguyễn Văn Huân, Nguyễn Thị Hằng và Bùi Thị Thu - Đánh giá sự hài lòng của khách hàng đối
với website thương mại điện tử của doanh nghiệp - Một nghiên cứu tại Công ty Cổ phần Đầu tư và
Thương mại TNG Thái Nguyên. Mã số: 140.2BMkt.21
22
Assessing Customer Satisfaction with Enterprise’s E-commerce Website – Case Study at TNG
Thái Nguyên Investment and Trade JSC
4. Bùi Thị Quỳnh Trang - Nghiên cứu tác động của trải nghiệm khách hàng đến lòng trung thành tại
các khách sạn ở Việt Nam. Mã số: 140.2BMkt.21
33
44
54
A Study on the Effects of Customer Experience on Loyalty at Hotels in Vietnam
5. Lưu Thị Minh Ngọc và Hoàng Trọng Trường - Sự phiền toái của các loại quảng cáo video trên
YouTube và hàm ý cho doanh nghiệp Việt Nam. Mã số: 140.2TrEM.21
Trouble by Video Advertisements on YouTube and Implications for Vietnamese Enterprises
6. Nguyễn Thu Quỳnh - Quản trị quan hệ khách hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện
nay. Mã số: 140.2BMkt.22
Customer Relationship Management at Vietnamese Commercial Banks at Present
Ý KIẾN TRAO ĐỔI
7. Đào Thanh Bình - Hệ số CAR và Rủi ro của Ngân hàng - Nghiên cứu thực nghiệm tại ngân hàng
Việt Nam. Mã số: 140.3FiBa.32
65
CAR and Banking Risk – an Experimental Study at Vietnam Commercial Banks
khoa học
1
thương mại
Sè 140/2020
1
QUẢN TRỊ KINH DOANH
SỰ PHIỀN TOÁI CỦA CÁC LOẠI QUẢNG CÁO VIDEO TRÊN YOUTUBE
VÀ HÀM Ý CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Lưu Thị Minh Ngọc
Viện QTKD, Trường ĐH Kinh tế, ĐHQGHN
Email: [email protected]u.vn
Hoàng Trọng Trường
Viện QTKD, Trường ĐH Kinh tế, ĐHQGHN
Email: trongtruong@vnu.edu.vn
Ngày nhận: 04/01/2020
Ngày nhận lại: 13/02/2020
Ngày duyệt đăng: 16/02/2020
ghiên cứu này khảo sát mức độ phiền toái của hai dạng quảng cáo có thể bỏ qua và không
thể bỏ qua trên YouTube. Tác động của sự phiền toái gây ra bởi hai loại hình quảng cáo trên
N
đến tâm lý và hành vi khách hàng sẽ được so sánh và đánh giá, từ đó đưa ra các gợi ý về cách thức quảng
cáo hiệu quả cho doanh nghiệp. 100 người tham gia được chia làm 2 nhóm để xem một đoạn video trong
đó có chứa ngẫu nhiên một loại quảng cáo. Sau đó, phản ứng của những người này được khảo sát bằng
bảng hỏi. Kết quả cho thấy, quảng cáo không thể bỏ qua gây nhiều cảm giác phiền toái hơn, từ đó thái độ
của người xem tiêu cực hơn, niềm tin với thông điệp thấp hơn và có xu hướng né tránh quảng cáo hơn. Tuy
nhiên, quảng cáo không thể bỏ qua lại tỏ ra hiệu quả hơn trong việc tăng cường nhận thức về nhãn hàng
và sản phẩm xuất hiện trong quảng cáo.
Từ khóa: Sự phiền toái, quảng cáo video, Youtube.
1. Giới thiệu vấn đề
lượng người tham gia sử dụng Youtube và truy cập
Youtube trung bình 334.000.000 người/tháng, trung
bình thời gian cho mỗi lần truy cập là 30 phút 21
giây, cao nhất trong số các dịch vụ digital ở Việt
Nam1 (wearesocial).
Kể từ khi bắt đầu kinh doanh quảng cáo vào năm
2007, YouTube đã cung cấp nhiều hình thức quảng
cáo khác nhau, trong đó phổ biến nhất là các dạng
video quảng cáo được lồng vào nội dung chính.
Không thể phủ nhận rằng cách làm này giúp các
doanh nghiệp dễ dàng quảng bá sản phẩm đến với
Sự ra đời của Internet vào thế kỷ 20 đã mở ra con
đường phát triển mới cho ngành quảng cáo. Nếu như
trước đây các doanh nghiệp chỉ sử dụng các kênh
quảng cáo truyền thống như truyền hình, phát thanh,
báo chí thì giờ đây họ có thể sử dụng những phương
pháp quảng cáo trực tuyến (online) để tiếp cận được
số lượng lớn khách hàng trong thời gian rất ngắn.
Quảng cáo trực tuyến đã thể hiện được sức hút mạnh
mẽ và nhận được nhiều sự quan tâm của doanh
nghiệp. Hiện nay, quảng cáo trực tuyến đã trở thành
lựa chọn hàng đầu của nhiều doanh nghiệp, mức chi đông đảo người tiêu dùng. Tuy nhiên, một vấn đề
tiêu cho hoạt động này đã lên tới 333 tỉ đô-la trên toàn nảy sinh đó là cảm giác phiền toái của khách hàng
thế giới, lớn hơn ngân sách cho bất kỳ kênh nào khác. khi họ liên tục phải xem quảng cáo, làm gián đoạn
Trong các kênh quảng cáo trực tuyến, YouTube nội dung chính mà họ muốn xem. Cho tới nay đã có
đang hứa hẹn là một kênh đầy tiềm năng với cơ hội nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng sự phiền toái của quảng
tiếp cận 1,9 tỉ người dùng, chiếm 1/3 số lượng người cáo tỉ lệ nghịch với hiệu quả (Greyser, 1973; Aaker
dùng Internet trên thế giới. Tại Việt Nam, theo báo & Bruzzone, 1985; Loureiro, 2018). Do vậy việc lựa
cáo thống kê về digital của Việt Nam năm 2019, số chọn hình thức quảng cáo ít gây phiền toái cho khán
1. adtimes.vn/digital-report-in-vietnam-2019
khoa học
ꢀ
thương mại
44
Sè 140/2020
QUẢN TRỊ KINH DOANH
giả đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu nào trong quá trình xem, làm gián đoạn video chứa
quả quảng cáo.
nội dung chính. Người xem không thể bỏ qua
Nghiên cứu này sẽ khảo sát và so sánh mức độ quảng cáo, video chứa nội dung chính sẽ được phát
phiền toái của các loại hình quảng cáo video trên sau khi quảng cáo kết thúc. Thời lượng của loại
YouTube và tác động của chúng lên tâm lý, hành vi quảng cáo này kéo dài từ 20 - 30 giây. (iii) Quảng
khách hàng, từ đó đưa ra các gợi ý cho doanh nghiệp cáo đệm (Bumper ads): Là một loại quảng cáo
để chọn loại hình quảng cáo phù hợp nhằm cải thiện không thể bỏ qua nhưng có thời lượng ngắn hơn
hiệu quả quảng cáo.
bình thường (6 giây).
Để đạt được mục đích trên, nghiên cứu này sẽ
Như vậy, chúng ta có thể chia quảng cáo video
lần lượt trình bày tổng quan lý thuyết, mô hình và trên YouTube thành 2 loại: quảng cáo có thể bỏ qua
các giả thuyết, phương pháp và kết quả nghiên cứu. (CTBQ) và không thể bỏ qua (KTBQ). Điểm khác
Trên cơ sở đó, nghiên cứu sẽ thảo luận và khuyến nhau căn bản giữa hai hình thức quảng cáo này đó là
nghị phương thức quảng cáo hiệu quả.
thời lượng phát và sự tự do lựa chọn của người xem.
2. Tổng quan lý thuyết và các giả thuyết Quảng cáo CTBQ cho người xem nhiều quyền kiểm
nghiên cứu
soát hơn và thời lượng cũng ngắn hơn so với quảng
cáo KTBQ.
2.1. YouTube
YouTube là một nền tảng mạng xã hội cho phép
người dùng lưu trữ và chia sẻ video được phát triển
2.3. Sự phiền toái
Trong một nghiên cứu gần đây, hơn 80% những
bởi Chad Hurley, Steve Chen và Jawed Karim vào người được hỏi cho rằng họ cảm thấy các video
năm 2005. Cho đến thời điểm hiện tại, YouTube là quảng cáo trên YouTube rất phiền toái (Pikas &
website có lượng truy cập đứng thứ 2 thế giới (chỉ Sorrentino, 2014). Sự “phiền toái” trong trường hợp
sau Google.com), thu hút 1,9 tỉ người dùng. Cũng này được định nghĩa là “cảm giác bị kích động,
theo thống kê của hiệp hội Marketing Việt Nam, phiền nhiễu và khó chịu nhất thời” khi xem quảng
trong báo cáo tại hội nghị cao cấp Việt Nam cáo (Aaker & Bruzzone, 1985).
Marketing Summit 2020, Youtube đang dần trở
Sự phiền toái của người xem bắt nguồn từ nhiều
thành một kênh Marketing hiệu quả cho các doanh yếu tố, cho tới nay, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra 5
nghiệp Việt Nam. Quảng cáo trên YouTube đang nguyên nhân chính dẫn đến cảm giác này. Thứ nhất,
dần thay thế quảng cáo trên các kênh truyền thống, trong nguyên cứu của mình, Aaker & Bruzzone
đặc biệt là truyền hình, nhờ vào những ưu điểm vượt (1985) đã chỉ ra rằng yếu tố về nội dung quảng cáo
trội như chi phí cạnh tranh, lựa chọn đối tượng khác có tác động lớn tới cảm giác của người xem, khán
hàng dựa trên thông tin nhân khẩu học và sở thích, giả sẽ thấy khó chịu khi họ phải xem các đoạn quảng
có khả năng đo lường và theo dõi thông tin chiến cáo có cốt truyện nhàm chán, diễn viên kém hấp dẫn
dịch quảng cáo một cách chính xác và nhanh chóng, và chứa các tình huống bị cường điệu hóa. Thứ hai,
giúp những người làm quảng cáo có những chỉnh nghiên cứu trên cũng phát hiện ra rằng một số danh
sửa cần thiết nhằm tối ưu hóa hiệu quả.
mục sản phẩm nhạy cảm xuất hiện trong quảng cáo
có thể gây ra sự khó chịu cho người xem. Thứ ba,
2.2. Quảng cáo trên YouTube
Theo YouTube Help Centre (2019), YouTube tần suất lặp lại quảng cáo là một yếu tố gây ra sự
đang cung cấp 3 dạng quảng cáo video bao gồm: (i) phiền toái cho người xem; khán giả thường cảm thấy
Quảng cáo video có thể bỏ qua (skippable ads): khó chịu khi họ liên tục phải xem quảng cáo
Những quảng cáo này có thể xuất hiện bất kì lúc (Sawyer, 1981). Thứ tư, người xem cảm thấy bị làm
nào, làm gián đoạn video chứa nội dung chính. phiền khi họ phải xem những quảng cáo không liên
Quảng cáo loại này cho phép người xem được lựa quan tới sở thích và nhu cầu của mình. Theo kết quả
chọn giữa việc bỏ qua quảng cáo sau 5 giây hoặc nghiên cứu của Mehta & Sivadas (1995), khán giả
tiếp tục xem nội dung quảng cáo. (ii) Quảng cáo thường cho rằng những thông tin phù hợp với sở
video không thể bỏ qua (non-skippable ads): thích của họ là những nội dung có giá trị, khi tập
Những quảng cáo này có thể xuất hiện bất kì lúc trung theo dõi những nội dung này, họ ít khi cảm
khoa học
ꢀ
thương mại
45
Sè 140/2020
QUẢN TRỊ KINH DOANH
thấy khó chịu. Cuối cùng, Edward, Li & Lee (2002)
Nhìn chung, sự phiền toái của quảng cáo có cả
chỉ ra rằng khán giả cảm thấy phiền vì cách thức ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến hiệu quả quảng
xuất hiện của quảng cáo. Thông thường, quảng cáo cáo. Sự phiền toái có thể làm gia tăng thái độ tiêu
xuất hiện rất bất ngờ khi người xem đang chú ý cao cực của khán giả, khiến họ mất niềm tin vào thông
độ vào nội dung. Sự gián đoạn bởi quảng cáo khiến điệp và hình thành những hành động né tránh quảng
người xem phải đánh giá lại mục đích hành động cáo. Ngược lại, cảm giác phiền toái này cũng có khả
của mình (tiếp tục xem hay bỏ qua) và điều này năng kích thích trí nhớ, tăng khả năng nhận diện
khiến họ cảm thấy phiền toái.
Đánh giá về ảnh hưởng của sự phiền toái đến
hiệu quả quảng cáo, phần lớn các nhà nghiên cứu
thương hiệu và sản phẩm.
2.4. Lý thuyết Phản ứng (Reactance Theory)
Lý thuyết phản ứng của Brehn (1966) cho rằng
đều cho rằng cảm giác này sẽ có tác động tiêu cực khi con người nhận thấy bất kì nỗ lực nào nhằm
đến hiệu quả quảng cáo, quan điểm này được gọi là thay đổi hành vi của mình như một mối đe dọa tới
“sự ưu việt của cảm giác dễ chịu” - the superiority quyền tự do lựa chọn thì họ sẽ hình thành phản ứng
of the pleasant - (Aaker & Bruzzone, 1985). Những tiêu cực, thể hiện ở thái độ và hành vi trả đũa theo
nhà nghiên cứu ủng hộ quan điểm này cho rằng xu hướng ngược lại để khẳng định sự tự do. Sự xâm
phản ứng của khán giả đối với một đoạn quảng cáo phạm đến quyền tự do càng lớn, phản ứng của con
sẽ “dẫn truyền” đến sản phẩm hoặc nhãn hàng xuất người càng gay gắt. Clee & Wicklund (1980) gọi xu
hiện trong đoạn quảng cáo đó thông qua quá trình hướng hành động này là “khẳng định chủ quyền”.
phản xạ có điều kiện (Gorn, 1982; Mackenzie & Dillard & Shen (2005) đã ghi nhận trong nghiên
Lutz, 1982). Ngoài ra, quảng cáo sẽ ảnh hưởng tới cứu của mình rằng những người tham gia thí
tâm trạng người xem, tác động tới nhận thức của họ nghiệm không tỏ ra hứng thú với những hành động
về sản phẩm hoặc nhãn hàng. Điều này có nghĩa, mà họ bị ép phải làm, đồng thời có xu hướng yêu
nếu khán giả cảm thấy khó chịu bởi quảng cáo, họ thích những hành động mà họ bị cấm đoán. Khi áp
sẽ hình thành thái độ tiêu cực với sản phẩm, nhãn dụng vào quảng cáo, lý thuyết phản ứng có thể
hàng hoặc doanh nghiệp xuất hiện trong đó. Ngoài được sử dụng để giải thích thái độ hoặc hành vi tiêu
ra, khi bị làm phiền, khán giả sẽ hình thành các phản cực của khách hàng đối với quảng cáo. Quảng cáo
ứng tiêu cực như mất lòng tin vào thông điệp quảng thường được coi là một kỹ thuật thuyết phục cố
cáo hoặc né tránh quảng cáo (Krugman, 1983; gắng thay đổi hành vi của khách hàng (Friestad &
Krugman & Johnson, 1991).
Wright, 1994). Do đó, khách hàng có thể nhận thấy
Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng mối đe dọa đối với tự do và hình thành phản ứng
cảm giác phiền toái đôi khi cũng có lợi ích nhất tiêu cực.
định. Trong hai nghiên cứu của Silk & Vavra
(1974) và Moore & Hutchinson (1983), các tác giả
2.5. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu
Quảng cáo là một nỗ lực thuyết phục nhằm thay
đã biểu diễn mỗi quan hệ giữa cảm giác phiền toái đổi nhận thức hoặc hành vi của công chúng. Do đó,
và hiệu quả quảng cáo dưới dạng đồ thị hình chữ J. khán giả coi quảng cáo như một sự xâm phạm tới
Cụ thể, một quảng cáo làm phiền khán giả sẽ kém quyền tự do của họ. Theo lý thuyết phản ứng, họ sẽ
hiệu quả hơn so với một quảng cáo được khán giả cảm thấy bị làm phiền, dẫn tới sự phản kháng trong
ưa thích. Tuy nhiên, loại hình kém hiệu quả nhất lại thái độ và hành vi.
là quảng cáo “trung tính” - quảng cáo không gây
Các hình thức phản kháng của người xem được
được cảm xúc gì cho người xem. Giải thích về vấn ghi nhận trong nhiều nghiên cứu, bao gồm: thái độ
đề này, James & Kover (1992) cho rằng những tiêu cực với quảng cáo (Yang, Huang & Shih, 2014;
đoạn quảng cáo gây khó chịu cho người xem sẽ để Loureiro, 2018), mất niềm tin vào thông điệp quảng
lại được ấn tượng và củng cố hình ảnh sản phẩm, cáo (Loureiro, 2018) và hành động né tránh quảng
nhãn hàng hoặc doanh nghiệp trong trí nhớ của cáo (Edward, Li & Lee, 2002; Loureiro, 2018).
người xem.
Nghiên cứu của Loureiro (2018) còn chỉ ra mối liên
hệ tích cực giữa cảm giác phiền toái và ba phản ứng
khoa học
thương mại
ꢀ
46
Sè 140/2020
QUẢN TRỊ KINH DOANH
gián đoạn chúng gây ra khiến mọi người
khó chịu. Trong khi đó, thư trực tiếp có
7KiLꢀÿӝ tiêu cӵc
vӟi quҧng cáo
liên quan và nhiều thông tin hơn, do đó
chúng gợi ra ít phiền toái hơn. Loureiro
(2018) đã nghiên cứu sự phiền toái của
Sӵ phiӅn toái
Mҩt niӅm tin
khách hàng trên quảng cáo trên TV và
YouTube và kết luận rằng trên cả hai
Né tránh
quҧng cáo
kênh, sự phiền toái gây ra thái độ tiêu
cực đối với quảng cáo, không tin vào
tuyên bố quảng cáo và tránh quảng cáo.
Tuy nhiên, quảng cáo truyền hình được
Hình 1.1: Khung nghiên cứu
cho rằng tạo ra thái độ tiêu cực và tránh
trên, cụ thể, khi mức độ cảm nhận phiền toái cao,
mức độ phản ứng của khán giả càng mạnh mẽ.
Trong phạm vi nghiên cứu này, nhóm tác giả sử
dụng lý thuyết phản ứng của Brehn (1966) và mô
hình ảnh hưởng của sự phiền toái của Loureiro (2018)
làm cơ sở nền tảng nghiên cứu, các thang đo được kế
thừa từ nghiên cứu của Loureiro và điều chỉnh cho
phù hợp với bối cảnh nghiên cứu của Việt Nam.
Sự phiền toái
quảng cáo tiêu cực cao hơn so với quảng cáo trên
YouTube.
Bên cạnh đó, nguyên nhân gây ra sự khó chịu,
phiền toái của khách hàng trong bối cảnh trực tuyến
cũng là một chủ đề thú vị được nhiều học giả nghiên
cứu. Trong nghiên cứu Mehta và Sivadas (1995), họ
đã so sánh mức độ kích thích giữa quảng cáo được
nhắm mục tiêu trực tuyến và không nhắm mục tiêu.
Kết quả cho thấy khách hàng khó chịu hơn với các
quảng cáo không được nhắm mục tiêu không phù
hợp với sở thích của họ. Theo kết luận này, mức độ
liên quan của nội dung quảng cáo có thể xác định
mức độ gây phiền toái. Edwards, Li và Lee (2002)
đã nghiên cứu các quảng cáo pop-up trực tuyến và
tuyên bố rằng sự xâm nhập được định nghĩa là “mức
độ mà một người cho là trình bày thông tin trái với
mục tiêu của mình” có thể gây ra sự khó chịu. Các
tác giả giải thích rằng khi khách hàng tập trung (với
nỗ lực nhận thức cao), sự gián đoạn của quảng cáo
xâm nhập có thể gây ra cảm giác khó chịu. Các nhà
nghiên cứu cũng đề xuất rằng sự kích thích có thể
được giảm bằng cách giảm sự xâm nhập nhận thức.
Các nhà quảng cáo có thể làm điều này bằng cách
“(1) nhắm mục tiêu người xem khi nỗ lực nhận thức
của họ thấp, (2) tăng mức độ liên quan của quảng
cáo và (3) cung cấp giá trị cho người xem”
(Edwards, Li & Lee, 2002). Đề xuất thứ hai về mức
độ phù hợp của quảng cáo phù hợp với phát hiện của
Mehta và Sivadas (1995). Gao, Koufaris và Ducoffe
(2004) đã phát hiện ra rằng các kỹ thuật và tổ chức
quảng cáo trên trang web có liên quan đến sự kích
thích. Đặc biệt việc sử dụng hoạt hình liên tục và
quảng cáo bật lên có liên quan với mức độ kích thích
cao vì chúng bất ngờ và gián đoạn. Tất cả những
Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu kiểm tra sự
phiền toái của các quảng cáo, tuy nhiên họ chủ yếu
tập trung vào các kênh truyền thống (ngoại tuyến)
như TV, đài phát thanh và báo chí. Với sự phát triển
của Internet, quảng cáo trực tuyến đã trở nên phổ
biến và đóng một vai trò quan trọng trong ngành
quảng cáo. Các nhà quảng cáo hiện có rất nhiều tùy
chọn để tiếp cận khách hàng mục tiêu thông qua
email, quảng cáo trên mạng xã hội, quảng cáo bật
lên... Với một sự thay đổi đáng kể trong bối cảnh,
cần phải mở rộng nghiên cứu kích thích khách hàng
vào môi trường trực tuyến. Một số nhà nghiên cứu
đã kiểm tra mức độ kích thích của khách hàng trên
các kênh trực tuyến và so sánh nó với các kênh
truyền thống (ngoại tuyến). Tuy nhiên, không thể
khái quát rằng kênh nào gây ra sự phiền toái cao hơn
vì kết quả của mỗi nghiên cứu là khác nhau.
Morimoto & Chang (2006) đã nghiên cứu quảng cáo
email trực tiếp và thư rác và thấy rằng email spam
gây khó chịu hơn thư trực tiếp. Theo giải thích của
họ, mọi người đăng nhập vào email của họ để thực
hiện một nhiệm vụ dự định như viết thư cho bạn bè
hoặc kiểm tra xác nhận trực tuyến và email spam
ngăn khách hàng thực hiện mục đích của họ. Nỗ lực
thêm của việc lọc các email spam vô nghĩa và sự
khoa học
ꢀ
thương mại
47
Sè 140/2020
QUẢN TRỊ KINH DOANH
phát hiện nói trên đều phù hợp với kết quả nghiên
cứu của Rodriguez (2018) khi nghiên cứu nhận thức
Phản ứng về quảng cáo
Liên quan đến quảng cáo trên YouTube, người ta
về hàng nghìn năm về quảng cáo trên mạng xã hội. cho rằng cả quảng cáo CTBQ và KTBQ là một hình
Rodriguez (2018) cho rằng lý do tại sao quảng cáo thức xem bắt buộc và sự gián đoạn gây ra bởi sự xâm
trên mạng xã hội gây khó chịu cho khán giả là sự phạm của chúng hạn chế quyền tự do xem của người
gián đoạn, trì hoãn nhiệm vụ và không liên quan.
xem. Do đó, người xem sẽ cảm thấy khó chịu và
Từ những phát hiện ở trên, chúng tôi có thể khái chống lại để đòi lại sự tự do hoặc sự kiểm soát của
quát hai nguyên nhân gây ra sự khó chịu của khách họ dưới tác dụng của phản ứng. Mặc dù cả hai hình
hàng trên các kênh trực tuyến là không liên quan và thức quảng cáo đều gây khó chịu, nhưng chúng
xâm nhập. Mặc dù không liên quan đến nội dung không có tác dụng như nhau. Người xem quảng cáo
quảng cáo, nhưng sự xâm nhập ngụ ý kỹ thuật hiển CTBQ có toàn quyền kiểm soát bỏ qua sau 5 giây
thị quảng cáo. Quảng cáo có liên quan được coi là trong khi người xem quảng cáo KTBQ không có
thông tin và có giá trị cho khách hàng, do đó chúng quyền kiểm soát bỏ qua cho đến khi họ hoàn thành
có thể làm giảm cảm giác khó chịu; trong khi đó quảng cáo dài. Do đó, người ta lập luận rằng quảng
quảng cáo không liên quan có tác dụng ngược lại cáo CTBQ có thể làm giảm hiệu quả của phản ứng
(Mehta & Sivadas, 1995; Edwards, Li & Lee, bằng cách cung cấp tùy chọn bỏ qua sau 5 giây xem.
2002). Ngoài ra, sự xâm nhập là nguyên nhân Trong khi đó, quảng cáo KTBQ có nhiều khả năng
chính gây ra sự khó chịu vì quảng cáo tìm kiếm sự xâm chiếm quyền tự do và kiểm soát của khách hàng
chú ý của khách hàng bằng cách tạo ra sự gián bằng cách buộc họ xem quảng cáo cho đến khi kết
đoạn và trì hoãn nhiệm vụ của họ. Quảng cáo thúc, do đó người xem sẽ thể hiện phản ứng dữ dội
thường xuất hiện khi khách hàng đang tập trung hơn. Phản ứng của khách hàng khi họ cảm thấy phiền
xem nội dung, do đó khách hàng phải đánh giá lại toái bởi quảng cáo có thể khác nhau nhưng một số
mục tiêu của mình xem có nên tiếp tục xem nội hiện tượng đã được ghi lại trong các tài liệu nghiên
dung chính hay không. Những nỗ lực thêm và bất cứu gần đây như phát triển thái độ tiêu cực đối với
ngờ khiến khách hàng khó chịu. Đối với dự án quảng cáo (Yang et al, 2014, Loureiro, 2018), hoài
nghiên cứu này, sự không liên quan sẽ không được nghi quảng cáo (Loureiro, 2018 ) và né tránh quảng
xem xét bởi vì chúng tôi muốn kiểm tra mức độ cáo (Edward, Li & Lee, 2002; Loureiro, 2018). Thứ
kích thích của khách hàng giữa các quảng cáo có nhất, phiền toái hình thành thái độ tiêu cực đối với
thể bỏ qua và không thể bỏ qua có cùng nội dung. quảng cáo được xác định là đánh giá bất lợi nội bộ
Do đó, chỉ tính đến sự xâm nhập của quảng cáo. Có của cá nhân đối với quảng cáo (Loureiro, 2018). Khi
ý kiến cho rằng quảng cáo có thể bỏ qua được coi khách hàng hình thành khuynh hướng tiêu cực, họ sẽ
là ít xâm phạm hơn quảng cáo không thể bỏ qua do phản ứng không thuận lợi không chỉ với quảng cáo
hai lý do. Trước hết, thời gian chờ của quảng cáo mà còn với các sản phẩm và nhãn hiệu được quảng
có thể bỏ qua là 5 giây, ít hơn 20 giây so với quảng cáo (Loureiro, 2018). Tác động thứ hai của sự phiền
cáo không thể bỏ qua. Thứ hai, quảng cáo có thể bỏ toái là sự hoài nghi quảng cáo cũng được coi là xu
qua cung cấp sự lựa chọn cho người xem bằng cách hướng không tin vào tuyên bố quảng cáo (Loureiro,
cho phép họ bỏ qua quảng cáo trong khi quảng cáo 2018). Amyx & Lumpkin (2016) đã báo cáo rằng
không thể bỏ qua buộc người xem phải xem cho những khách hàng nghi ngờ về quảng cáo cho thấy ít
đến khi kết thúc, do đó sự gián đoạn nhận thức là ý định mua hàng hơn và nhận thấy sự lừa dối nhiều
lớn hơn. Do đó, dự kiến mức độ kích thích tổng thể hơn. Cuối cùng, sự phiền toái dẫn đến việc tránh
của quảng cáo có thể bỏ qua thấp hơn quảng cáo quảng cáo bao gồm tất cả các hành động được thực
không thể bỏ qua. Do vậy, giả thuyết H1 được đề hiện bởi người xem để giảm tiếp xúc với quảng cáo
xuất như sau:
(Loureiro, 2018). Các cơ chế để tránh quảng cáo bao
H1: Quảng cáo CTBQ gây ra ít sự phiền toái gồm từ nhận thức (bỏ qua quảng cáo) đến hành vi
hơn quảng cáo KTBQ
thực tế (chuyển kênh hoặc rời khỏi phòng) (Loureiro,
2018). Vì thế, nghiên cứu này đề xuất giả thuyết sau:
khoa học
ꢀ
thương mại
48
Sè 140/2020
QUẢN TRỊ KINH DOANH
Vì quảng cáo CTBQ được cho là gây ra phản
ứng ít dữ dội hơn, nên dự đoán rằng:
Trước khi tiến hành thí nghiệm, một video được
lựa chọn với tiêu chí đó là không quá dài để người
H2: Thái độ của khán giả đối với quảng cáo xem có thể theo dõi từ đầu đến cuối. Tỉ lệ tương tác
KTBQ tiêu cực hơn quảng cáo CTBQ với một video trên YouTube cao nhất trong 1 - 2
H3: Niềm tin của khán giả với quảng cáo KTBQ phút đầu tiên (Fishman, 2016), chính vì thế video
thấp hơn so với quảng cáo CTBQ được lựa chọn sẽ có độ dài trong khoảng 1 - 2 phút.
H4: Xu hướng né tránh của khán giả khi xem Hơn nữa video này cũng cần hấp dẫn để thu hút sự
quảng cáo CTBQ thấp hơn so với quảng KTBQ chú ý của người xem. Khán giả được kỳ vọng sẽ bộc
Mặt khác trong nghiên cứu của Zajonc (1980), lộ cảm giác phiền toái một cách chân thực nhất nếu
cho rằng quảng cáo KTBQ được cho là gây ra phản họ bị ngắt quãng bởi quảng cáo trong lúc xem nội
ứng và kích thích cao hơn, nó tạo ra trạng thái cảm dung mà họ thích. Để tìm ra nội dung được yêu thích
giác cực đoan hơn có thể củng cố hình ảnh thương nhất, 3 video có độ dài phù hợp đã được chọn lựa
hiệu trong trí nhớ của người xem (Zajonc, 1980; ngẫu nhiên để khảo sát trong một nhóm nhỏ khoảng
Moore & Hutchinson, 1983). Do đó, quảng cáo 10 người. Những người trong nhóm được yêu cầu
KTBQ được đưa ra giả thuyết để tạo mức hồi tưởng đánh giá mức độ hấp dẫn về nội dung của 3 video
cao hơn. Giả thuyết tiếp theo như sau:
trên thang điểm từ 1 đến 7. Kết quả cho thấy, video
H5: Khả năng hồi tưởng của khán giả sau khi có nội dung biểu diễn ảo thuật nhận được phản hồi
xem quảng cáo KTBQ sẽ tốt hơn quảng cáo CTBQ
3. Phương pháp nghiên cứu
tích cực nhất.
Sau đó, một mẫu quảng cáo ngắn dài khoảng 25
giây được chèn vào video trên và được mô phỏng
3.1. Mẫu nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp chọn mẫu thành 2 phiên bản. Mẫu quảng cáo trong video đầu
phi xác suất, cụ thể là chọn mẫu dựa trên tính dễ tiếp tiên cho phép người xem bỏ qua nội dung sau 5 giây
cận của đối tượng khảo sát. Nghiên cứu này có tổng còn mẫu quảng cáo trong video thứ hai buộc người
cộng 18 biến quan sát, vì vậy kích thước mẫu tối xem phải theo dõi đến khi kết thúc. Hai video trình
thiểu là n = 14 x 5 = 70 (mẫu). Để tiến hành nghiên chiếu cho người xem có nội dung như nhau, điểm
cứu, nhóm tác giả dựa trên mối quan hệ của nhóm khác biệt duy nhất là hình thức quảng cáo xuất hiện
tác giả với sự hỗ trợ của người thân và đồng nghiệp trong đó.
để tiến hành gửi lời mời tham gia vào nghiên cứu.
Tiếp theo, 100 người tham gia được ngẫu nhiên
Sau 30 ngày thực hiện, nhóm đã được 116 người đã chia làm 2 nhóm và xem video có chứa quảng cáo
chấp nhận lời mời và tham gia vào nghiên cứu này (CTBQ hoặc KTBQ). Sau đó, họ được yêu cầu hoàn
một cách tự nguyện. Độ tuối được khảo sát nằm thành một bảng hỏi khảo sát mức độ cảm nhận phiền
trong khoảng 18-49 tuổi bởi lẽ đây là nhóm khán giả toái và phản ứng sau khi xem xong quảng cáo. Khả
chính của các nội dung trên YouTube. Theo Google năng hồi tưởng về nhãn hàng xuất hiện trong quảng
Customer Insight (Hart & Blumestein, 2016), 8 cáo cũng sẽ được kiểm tra trong bảng hỏi. Số liệu
trong 10 khán giả theo dõi các video trên YouTube của hai nhóm sẽ được ghi nhận, phân tích và so sánh
nằm trong độ tuổi này. Những người tham gia bằng phần mềm xử lý số liệu SPSS.
nghiên cứu này được sàng lọc bởi 2 câu hỏi nhằm
đảm bảo rằng họ có sử dụng YouTube và đã từng bị
3.3. Các biến quan sát và thang đo lường
Các biến quan sát bao gồm “cảm giác phiền
làm phiền bởi quảng cáo trong quá trình theo dõi nội toái” gồm 5 biến quan sát được kế thừa từ nghiên
dung chính. Sau khi sàng lọc, số lượng người đủ cứu của Edwards, Li & Lee (2002), “thái độ đối với
điều kiện tham gia nghiên cứu là 100.
quảng cáo” gồm 3 biến quan sát kế thừa từ nghiên
cứu của Loureiro (2018), “niềm tin với thông điệp
3.2. Quá trình nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm khảo sát mức độ phiền quảng cáo” gồm 4 biến quan sát và “sự né tránh
toái mà khán giả thể hiện ra khi họ bị gián đoạn bởi quảng cáo” gồm 2 biến quan sát được kế thừa từ
quảng cáo trong lúc đang theo dõi nội dung trên nghiên cứu của Loureiro và cộng sự (2018) và được
YouTube.
đo bằng thang Likert 7 mức độ: (1) là hoàn toàn
khoa học
ꢀ
thương mại
49
Sè 140/2020
QUẢN TRỊ KINH DOANH
không đồng tình đến (7) là hoàn toàn đồng tình. dụng phân tích tiếp theo. Mặt khác kết quả kiểm
Trước khi tiến hành kiểm tra giả thuyết, độ tin cậy định các nhân tố cũng xác định 4 nhóm gồm cảm
thang đo đã được kiểm định độ tin cậy và phân tích giác phiền toái (5 biến), thái độ với quảng cáo (3
nhân tố khám phá (EFA).
biến), niềm tin với thông điệp quảng cáo (4 biến), sự
Biến quan sát “khả năng hồi tưởng” được mô né tránh quảng cáo (2 biến). Kết quả kiểm định độ
phỏng theo nghiên cứu của Yu, Chan, Zhao & Gao tin cậy (bảng 1) của thang đo cho thấy, hệ số
(2012), khả năng này được kiểm tra thông qua khơi Cronbach's alpha của các biến đều vượt qua mức 0.8
gợi có hỗ trợ (aided recall) và khơi gợi không hỗ trợ > 0.6, điều này có nghĩa rằng thang đo trên đạt độ
(unaided recall). Trong trường hợp khơi gợi không tin cậy cao.
hỗ trợ, người tham gia được yêu cầu viết tên của
nhãn hàng xuất hiện trong quảng cáo. Trong trường
4.3. Kiểm định giả thuyết nghiên cứu
Kết quả kiểm định t- test độc lập cho thấy mức
hợp khơi gợi có hỗ trợ, người tham gia được yêu độc phiền toái gây ra bởi quảng cáo CTBQ (M =
cầu chọn ra tên nhãn hàng xuất hiện trong quảng 3.672) thấp hơn đáng kể so với quảng cáo KTBQ (M
cáo trong số 10 nhãn hàng cùng ngành. Số lượng = 4.400) và p = 0.019 <0.05. Có thể kết luận quảng
câu trả lời đúng và sai sẽ
Bảng 1: Độ tin cậy của thang đo
được ghi lại để so sánh
giữa 2 nhóm.
%LӃQꢀVӕ
6ӕꢀELӃQꢀTXDQꢀViW Cronbach's Alpha
4. Kết quả nghiên cứu
4.1. Thống kê mẫu
nghiên cứu
&ҧPꢀJLiFꢀSKLӅQꢀWRiL
5
3
4
2
0.923
0.884
0.884
0.824
7KiLꢀÿӝꢀÿӕLꢀYӟLꢀTXҧQJꢀFiR
1LӅPꢀWLQꢀYӟLꢀWK{QJꢀÿLӋSꢀTXҧQJꢀFiR
6ӵꢀQpꢀWUiQKꢀTXҧQJꢀFiR
Kết quả thống kê mẫu
nghiên cứu cho thấy, tỉ lệ
người tham gia nghiên là
nữ chiếm ưu thế (57%)
Nguồn: Điều tra của tác giả
hơn nam (43%). Độ tuổi của những người này phần cáo CTBQ gây ra ít sự phiền toái hơn quảng cáo
lớn nằm trong khoảng từ 18 đến 29 (80%) với trình KTBQ. Giả thuyết H1 được chấp nhận.
độ học vấn cao (từ đại học trở lên) đạt 89%, trong đó
Mặt khác, kết quả kiểm định t- test độc lập cho
nghề nghiệp chủ yếu của họ là sinh viên và nhân viên thấy thái độ đối với quảng cáo KTBQ (M = 2.907)
(82%). Ngoài ra, kết quả khảo sát cho thấy điểm tiêu cực hơn so với quảng cáo KTBQ (M = 3.573)
trung bình của nhân tố “né tránh quảng cáo” ở mức với giá trị p = 0.018 <0.05. Do vậy có thể kết luận
cao nhất xoay quanh mức 5.2, tiếp đến là “cảm nhận thái độ của khán giả đối với quảng cáo KTBQ tiêu
phiền toái” ở mức khá quay quanh mức 4.0, “niềm cực hơn quảng cáo CTBQ. Giả thuyết H2 được chấp
tin với thông điệp quảng cáo” có điểm trung bình nhận.
xoay quanh mức 3.5, và thấp nhất là “thái độ với
Giả thuyết H3 được chấp nhận với kết quả kiểm
quảng cáo” với mức điểm trung bình thấp quay định t-test độc lập cho thấy niềm tin với thông điệp
quanh mức 3.2. Kết quả này cho thấy, đa số người quảng cáo KTBQ (M = 2.985) thấp hơn so với
được phỏng vấn đều cho rằng quảng cáo gây ra phiền quảng cáo KTBQ (M = 3.575) với p = 0.049 <0.05.
toái cho họ và có xu hướng né tránh quảng cáo, đồng
Kiểm định t-test độc lập cho thấy quảng cáo
thời họ cho rằng các thông điệp quảng cáo tạo dựng KTBQ gây ra mức độ né tránh (M = 5.500) cao hơn
cho họ sự tin tưởng ở mức độ trung bình. Đây là so với quảng cáo CTBQ (M = 4.860). Giả thuyết H4
điểm doanh nghiệp cần lưu ý để có thể cải thiện, được chấp nhận với giá trị p = 0.042 <0.05 (Bảng 2).
nâng cao hiệu quả của các thông điệp quảng cáo.
4.2. Kiểm tra độ tin cậy thang đo và phân tích định Chi-Square đã được tiến hành để kiểm tra mối
liên hệ giữa hình thức quảng cáo và khả năng hồi
Kết quả nghiên cứu ở bảng 3 cho thấy, Kiểm
nhân tố khám phá (EFA)
Kết quả nghiên cứu nhân tố khám phá với KMO tưởng của khán giả. Trong cả hai trường hợp khơi
là 0.844 > 0.5 đáp ứng được yêu cầu để đưa vào sử gợi không hỗ trợ và có hỗ trợ, khán giả xem quảng
khoa học
ꢀ
thương mại
50
Sè 140/2020
QUẢN TRỊ KINH DOANH
Bảng 2: Kết quả kiểm định giả thuyết
KTBQ. Điều này là
dễ hiểu khi thời
BiӃn sӕ
Quҧng cáo Quҧng cáo t-value
p-value
lượng của quảng
cáo CTBQ ngắn
hơn rất nhiều so với
quảng cáo KTBQ.
Quảng cáo CTBQ
cũng cho phép
người xem có nhiều
quyền tự do lựa
chọn hơn bằng cách
cho phép họ
KTBQ
Giá trӏ TB
4.400
CTBQ
Giá trӏ TB
3.672
Cҧm giác phiӅn toái
-2.377
2.399
1.991
0.019
0.018
0.049
7KiLꢀÿӝ ÿӕi vӟi quҧng cáo
2.907
3.573
3.575
NiӅm tin vӟLꢀ WK{QJꢀ ÿLӋp 2.985
quҧng cáo
Sӵ né tránh quҧng cáo
5.500
4.860
-2.062
0.042
Nguồn: Điều tra của tác giả
Bảng 3: Kết quả kiểm định Pearson Chi-Square
bỏ qua sau 5
giây thay vì
.KҧꢀQăQJꢀ
KӗLꢀWѭӣQJ
+uQKꢀWKӭFꢀ 6ӕꢀFkXꢀ 6ӕꢀFkXꢀ Pearson
TXҧQJꢀFiR WUҧꢀOӡLꢀÿ~QJ WUҧꢀOӡLꢀVDL Chi-Square
p - value
phải xem
toàn
bộ
.KѫLꢀJӧi NK{QJꢀKӛꢀWUӧ CTBQ
22
33
29
40
28
17
21
10
4.889
0.027
0.017
đoạn quảng
cáo. Theo
Lý thuyết
Phản ứng,
khán giả sẽ
ít cảm thấy
KTBQ
.KѫLꢀJӧL FyꢀKӛꢀWUӧ
CTBQ
KTBQ
5.657
Nguồn: Điều tra của tác giả
cáo KTBQ có số lượng câu trả lời đúng nhiều hơn
đáng kể so với quảng cáo CTBQ với giá trị p =
0.027 và 0.017 đều nhỏ hơn 0.05 do vậy giả thuyết
H5 được chấp nhận.
5. Thảo luận và gợi ý cho hoạt động quảng cáo
trên YouTube
phiền với quảng cáo CTBQ và phản ứng của họ
cũng ít tiêu cực hơn quảng cáo KTBQ. Điều này thể
hiện ở chỗ khán giả biểu lộ thái độ ôn hòa hơn, ít
hoài nghi và né tránh quảng cáo. Xét về khía cạnh
này, hiệu quả của quảng cáo KTBQ là thấp hơn so
với quảng cáo CTBQ. Kết quả nghiên cứu này nhất
quán với các công trình trước đây và thể hiện sự ủng
hộ đối với quan điểm “sự ưu việt của cảm giác dễ
chịu”, trong đó cho rằng các nhà quảng cáo cần
tránh làm khán giả khó chịu để đạt được hiệu quả
quảng cáo cao nhất. Tuy nhiên, chúng ta cũng không
thể phủ nhận tác dụng của quảng cáo KTBQ trong
việc củng cố hình ảnh sản phẩm, thương hiệu trong
tâm trí khách hàng.
Kết quả trên đây không chỉ có ý nghĩa về mặt lý
thuyết mà còn gợi ý cách cải thiện hoạt động quảng
cáo trên YouTube cho các doanh nghiệp. Cho đến
hiện tại, khi quảng cáo cùng một nội dung trên
YouTube, các doanh nghiệp nên ưu tiên sử dụng
quảng cáo CTBQ để tránh gây phiền toái cho khán
giả. Sẽ là không hợp lý nếu doanh nghiệp tập trung
vào hình thức quảng cáo KTBQ để rồi nhận lại thái
độ tiêu cực, mất niềm tin và sự né tránh nơi khách
hàng. Các doanh nghiệp có thể tận dụng quảng cáo
Kết quả nghiên cứu trên đã cung cấp những
thông tin quý giá giúp doanh nghiệp hiểu hơn về
cảm giác phiền toái của khách hàng khi họ tiếp xúc
với quảng cáo. Trước hết, kết quả khảo sát mức độ
phiền toái của cả 2 dạng quảng cáo đều ở trên mức
trung bình, điều này cho thấy phần lớn khán giả đều
cảm thấy bị làm phiền bởi quảng cáo. Theo Lý
thuyết Phản ứng (Brehm, 1966), đây là hệ quả của
việc xâm phạm sự tự do của khách hàng. Cụ thể,
các đoạn quảng cáo thường xuất hiện bất ngờ, làm
gián đoạn quá trình theo dõi của khán giả để truyền
tải những thông điệp nhằm thuyết phục hoặc gây
ảnh hưởng đến tâm lý và hành vi của họ. Do vậy,
khán giả sẽ cảm thấy phiền toái và phản ứng theo
hướng mà những người làm quảng cáo không hề
mong muốn.
Kết quả trên cũng chỉ ra rằng, đối với cùng một
nội dung trên YouTube, quảng cáo CTBQ gây ra ít
cảm giác phiền toái cho người xem hơn quảng cáo
khoa học
ꢀ
thương mại
51
Sè 140/2020
QUẢN TRỊ KINH DOANH
KTBQ khi họ muốn gia tăng mức độ nhận diện, hoặc đặt quảng cáo vào những quãng nghỉ tránh gây
nhận thức hình ảnh của sản phẩm hoặc thương hiệu khó chịu cho khán giả.ꢀ
trong thời gian ngắn bởi cảm giác phiền toái có thể
là tác nhân kích thích khiến người xem có ấn tượng
hơn với sản phẩm và thương hiệu. Tuy nhiên, cần
chú ý rằng, trong thời gian dài, cách làm này có thể
Tài liệu tham khảo:
1. Aaker, D. A., & Bruzzone, D. E. (1985),
phản tác dụng bởi lẽ cảm giác khó chịu đối với Causes of irritation in advertising, Journal of
quảng cáo sẽ “dẫn truyền” sang sản phẩm hoặc Marketing, 49 (2), 47-57. DOI: 10.2307/1251564.
thương hiệu do quá trình phản xạ có điều kiện.
2. Amyx, D.A., & Lumpkin, J.R. (2016),
Khách hàng sẽ có ấn tượng với doanh nghiệp, nhưng Interaction effect of ad puffery an ad skepticism on
đó lại là ấn tượng xấu. Ngoài ra, doanh nghiệp có consumer persuasion, Journal of Promotion
thể cân nhắc sử dụng quảng cáo đệm (bumper ad) Management,
trong hoạt động quảng bá. Quảng cáo đệm là một 10.1080/10496491.2016.1154920.
loại quảng cáo KTBQ với thời lượng rất ngắn (chỉ 6 3. Brehm, J. W. (1966), A theory of psychologi-
giây), nhờ đó sẽ rút ngắn đáng kể thời gian gián cal reactance, Oxford, England: Academic Press.
22
(3),
403-242.
DOI:
đoạn, làm giảm sự phiền toái cho khán giả. Tuy
4. Clee, M.A. & Wicklund R.A. (1980),
nhiên, việc truyền tải thông điệp quảng cáo trong 6 Consumer behavior and psychological reactance,
giây sẽ là một thách thức, đòi hỏi sự sáng tạo của bộ Journal of Consumer Research, 6 (4), 389 - 405.
phận chuyên môn.
Để gia tăng hơn nữa hiệu quả quảng cáo, bên ezproxy.sussex.ac.uk/login.aspx?direct=true&db=b
cạnh việc chọn loại hình quảng cáo phù hợp, các uh&AN=4662209&site=ehost-live.
doanh nghiệp có thể tập trung khắc phục những
5. Dillard, J. & Shen, L. (2005), On the nature of
nguyên nhân khác gây ra cảm giác phiền toái, bao reactance and its role in persuasive health communi-
gồm: nội dung, sản phẩm, tần suất lặp lại, sự liên cation, Communication Monographs, 72 (2), 144-
quan và cách thức xuất hiện của quảng cáo. Thứ 168, DOI: 10.1080/03637750500111815
nhất, nội dung quảng cáo cần hấp dẫn khán giả, chứa
6. Edwards, S., Li, H., & Lee, J. (2002), Forced
đựng những thông tin hữu ích được cô đọng, tránh exposure and psychological reactance: Antecedents
thuyết phục một cách quá lộ liễu khiến người xem and consequences of the perceived intrusiveness of
có những phản ứng tiêu cực. Thứ hai, quảng cáo cần pop-up ads, Journal of Advertising, 31(3), 83-95.
tránh đề cập trực tiếp hoặc phải có cách thể hiện Retrieved from http://www.jstor.org/stable/4189228
sáng tạo đối với những sản phẩm nhạy cảm. Thứ ba,
7. Fishman, E. (2016), How long should your
video be?, Available at
các đoạn quảng cáo cần tránh lặp lại quá nhiều lần next
đối với cùng một đối tượng. Bằng cách sử dụng tính https://wistia.com/learn/marketing/optimal-video-
năng “hạn mức tần suất” trên YouTube, các nhà length. Retrieved on 10/1/2020
quảng cáo có thể điều chỉnh số lần xuất hiện của
8. Gorn, G. J. (1982), The effect of music in
quảng cáo một cách hợp lý. Thứ tư, quảng cáo cần advertising on choice behavior: A classical condi-
phù hợp với nhu cầu và sở thích của đối tượng mục tioning approach, Journal of Marketing, 46 (1), 94 -
YouTube rất dễ dàng nhờ vào các công cụ hỗ trợ trên 002224298204600109
nền tảng này, các doanh nghiệp hoàn toàn có thể lựa
chọn những người sẽ xem quảng cáo dựa vào các Journal of Advertising Research, 13 (Feb), 3-10.
thông tin về nhân khẩu và sở thích cá nhân mà 10. Hart, C. O. & Blumestein, H. (2016), The lat-
9. Greyser, S.A. (1973), Irritation in advertising.
YouTube cung cấp. Thứ năm, quảng cáo không nên est video trends: where your audience is watching,
trào trong video, thay vào đó, YouTube nên có cơ sumer-insights/video-trends-where-audience-
chế thông báo trước về sự xuất hiện của quảng cáo watching/. Retrieved on 29/6/2019.
khoa học
ꢀ
thương mại
52
Sè 140/2020
QUẢN TRỊ KINH DOANH
11. James, W.L., & A.J. Kover (1992),
20. Silk, A.J. & Vavra, T.G. (1974), The influ-
Observations: do overall attitudes toward advertis- ence of advertising's affective qualities on consumer
ing affect involvement with specific advertisements? response, In: Hughes, G.D. and M.L. Ray (eds.):
Journal of Advertising Research, 32(5), 78-83.
12. Krugman, D.M. & Johnson, K.F (1991), Hill: University of North Carolina Press.
Differences in the consumption of traditional broad-
21. Yang, K. C, Yang, C, Huang, C. H, Shih, P.
cast and VCR movie rental, Journal of Broadcasting H, & Yang, S. Y. (2014), Consumer attitudes toward
& Electronic Media, 35(2), 213-232.
online video advertising: An empirical study on
Buyer/consumer information processing. Chapel
13. Krugman, H.E (1983), Television program YouTube as platform, 2014 IEEE International
interest and commercial interruption: Are commer- Conference on Industrial Engineering and
cials on interesting programs less effective? Journal Engineering Management, 2015, 1131-1135.
of Advertising Research, 23 (1), 21-23.
14. Loureiro, S. (2018), Tell what you want but org.ezproxy.sussex.ac.uk/document/7058815
do not irritate me: A senior perspective about adver-
22. YouTube Help Centre (2019), YouTube
Available
at:
com.ezproxy.sussex.ac.uk/doi/abs/10.1080/104964
91.2017.1360825
Retrieved on 30/4/2019
23. Yu, R., Chan, A.H.S., Zhao, P. & Gao, Y.
15. Mackenzie, S. B. & Lutz, R.J. (1982), (2012), Enhancing memorability, International
Monitoring advertising effectiveness: A structural Journal of Advertising, 31(4), 861-876.
equation analysis of the mediating role of attitude
toward the ad, Working Paper No. 117, Center for
Marketing Studies, UCLA.
Summary
16. Mehta, R. & Sivadas, E. (1995), Direct mar-
The study assesses the level of customer irrita-
keting on the internet: An empirical assessment of tion among video ad forms namely skippable and
consumer attitudes, Journal of Direct Marketing, 9 non-skippable ad on YouTube. 100 people took part
in an experiment in which they were asked to watch
17. Moore, D.L. & Hutchinson, J.W. (1983), The a video containing a random type of video advertise-
effect of ad affect on advertising effectiveness, ment. Then they were requested to fill in a survey
Advance in Consumer Research, 17, 440-452.
which assessed their irritation and its impact on their
18. Pikas, B. & Sorrentino, G. (2014), The behaviors. The research results suggested some
effectiveness of online advertising: Consumer's applications in practice for companies to reduce cus-
perceptions of ads on Facebook, Twitter and tomer irritation and increase advertising effective-
YouTube, The Journal of Applied Business ness.
Economics, 16(4), 70-81.
19. Sawyer, A.G. (1981), Repetition, cognitive
responses and persuasion, In: Petty, R. et al. (eds):
Cognitive responses in persuasions. Hillsdale, NJ:
Lawrence Erlbaum Associates.
khoa học
thương mại
53
Sè 140/2020
QUẢN TRỊ KINH DOANH
QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG
TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
Nguyễn Thu Quỳnh
Trường Đại học Thương mại
Email: [email protected]du.vn
Ngày nhận: 04/01/2020
Ngày nhận lại: 13/02/2020
Ngày duyệt đăng: 16/02/2020
rong bối cảnh nền kinh tế mang tính hội nhập và cạnh tranh cao như hiện nay, “khách hàng” là
chìa khóa để các doanh nghiệp nói chung cũng như ngân hàng thương mại nói riêng tồn tại và
T
phát triển. Do đó, vấn đề xây dựng và phát triển mối quan hệ tốt đẹp với khách hàng, đặc biệt là khách hàng
mục tiêu, là yếu tố quan trọng hàng đầu trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Trong những năm
qua, các ngân hàng thương mại Việt Nam đều nhận thức rõ tầm quan trọng và đã triển khai quản trị quan
hệ khách hàng một cách có hệ thống. Trên cơ sở hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về quản trị quan hệ
khách hàng của doanh nghiệp và phân tích, đánh giá thực trạng quản trị quan hệ khách hàng của các ngân
hàng thương mại Việt Nam thời gian qua, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển quản trị quan
hệ khách hàng của các ngân hàng thương mại, coi đây là một giải pháp quan trọng giúp ngân hàng đạt
được mục tiêu kinh doanh của mình.
Trong bài viết này, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính nhằm đánh giá thực trạng
quản trị quan hệ khách hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay. Ngoài ra, tác giả cũng tiến
hành phỏng vấn một số lãnh đạo của ngân hàng thương mại (05 người bao gồm Phó Giám đốc phụ trách
kinh doanh, Trưởng/Phó Trưởng phòng Kinh doanh, phụ trách bộ phận chăm sóc khách hàng của Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Đầu tư và phát triển, Ngân hàng Công thương) để
có được những đánh giá, nhận định về hoạt động quản trị quan hệ khách hàng tại ngân hàng cũng như
những giải pháp cần chú trọng để hoàn thiện quản trị quan hệ khách hàng trong thời gian tới.
Từ khóa: quan hệ khách hàng, quản trị quan hệ khách hàng, ngân hàng thương mại.
1. Một số vấn đề lý luận về quản trị quan hệ
khách hàng tại ngân hàng thương mại
bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc
dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó
cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín
dụng và tài chính”. Tại Việt Nam, theo Luật các tổ
chức tín dụng (Luật số 47/2010/QH12 ngày
16/6/2010 và được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số
17/2017/QH14 ngày 20/11/2017), “Ngân hàng là
loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất
cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật
này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại
hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại,
ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã” và
“Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được
1.1. Khái quát về ngân hàng thương mại và
quản trị quan hệ khách hàng
1.1.1. Ngân hàng thương mại
Hiện nay, trên thế giới có nhiều khái niệm về
ngân hàng thương mại (NHTM), trong đó có thể kể
đến: Ở Mỹ, “Ngân hàng thương mại là công ty kinh
doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và
hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài
chính”; Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) định
nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp
hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền
khoa học
ꢀ
thương mại
54
Sè 140/2020
Bạn đang xem tài liệu "Sự phiền toái của các loại quảng cáo video trên Youtube và hàm ý cho doanh nghiệp Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
su_phien_toai_cua_cac_loai_quang_cao_video_tren_youtube_va_h.pdf

