Phát triển công trình, đô thị xanh, đô thị thông minh tại Việt Nam

NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI  
Kỹ thuật - Công nghệ  
PHÁT TRIỂN CÔNG TRÌNH, ĐÔ THỊ XANH,  
ĐÔ THỊ THÔNG MINH TẠI VIỆT NAM  
GS.TS. Nguyễn Hữu Dũng *  
Tóm tắt: Phát triển công trình xanh, đô thị xanh, đô thị thông minh là xu thế của  
thời đại, là yêu cầu tất yếu của Việt Nam. Đảng và Nhà nước đã ban hành các nghị  
quyết về vấn đề này. Đảng, chính quyền, các nhà quản lý các cấp, các ngành, các tổ  
chức xã hội, nghề nghiệp và toàn dân cần có nhận thức đúng về phát triển công trình  
xanh, kiến trúc xanh, đô thị xanh, đô thị thông minh bền vững và những lợi ích to lớn  
của chúng. Bài viết đã đi sâu làm rõ những giá trị kinh tế - xã hội, sử dụng tiết kiệm  
tài nguyên, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng sống của cư dân trong các đô thị  
xanh, đô thị thông minh bền vững.  
Từ khóa: Công trình xanh, đô thị xanh, đô thị thông minh, phát triển bền vững, ô  
nhiễm, biến đổi khí hậu, các nguồn tài nguyên.  
Abstract: Developing green buildings, green cities, smart cities is the trend of the  
era, an indispensable requirement of Vietnam. The Party and the State have issued  
resolutions on this issue. The Party, authorities, managers at all levels, sectors,  
professional- social organizations and the entire population need to have a proper  
awareness on green building development, green architecture, green cities, sustainable  
smart cities and their great benefits. The article has gone in depth to clarify the socio-  
economic values, economical use of resources, environmental protection, improve the  
quality of life of residents in green cities, sustainable smart cities.  
Keywords: Green buildings, green cities, smart cities, sustainable development,  
pollution, climate change, resources.  
Việt Nam đang trong quá trình đô thị phải cam kết giảm phát thải khí nhà kính  
hóa nhanh, phát triển kinh tế - xã hôi với để đối phó. Hiện nay yêu cầu tiêu thụ  
tốc đô tăng trưởng GDPcao, khoảng 6,8% năng lượng và các nguồn tài nguyên ngày  
năm. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại càng nhiều. Xây dựng là một trong những  
hóa đất nước đang diễn ra trong giai đoạn ngành tiêu thụ nhiều năng lượng, tài  
cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư nguyên và đồng thời cũng là ngành phát  
tác động ngày càng mạnh mẽ đến nhiều sinh ô nhiễm môi trường.  
quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Ảnh  
Việt Nam hiện có khoảng 830 đô thị.  
hưởng của biến đổi khí hậu cũng gây ra Xây dựng và phát triển đô thị trong cả  
những hậu quả nặng nề, buộc loài người nước đang tiêu thụ khoảng 60% vật liệu  
* Chủ nhiệm Khoa Kiến trúc, Trường ĐH KD&CN Hà Nội.  
Chủ tịch Hội Môi trường xây dựng Việt Nam.  
Tạp chí  
50  
Kinh doanh và Công nghệ  
Số 07/2020  
NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI  
Kỹ thuật - Công nghệ  
tự nhiên, khoảng 30-35% tổng tiêu thụ thị xanh, thành phố thông minh cũng  
nguồn năng lượng quốc gia, 30% nguồn đang còn nhiều bất cập. Xu hướng phát  
nước sạch, tương đồng với việc phát sinh triển công trình xanh, đô thị xanh, đô thị  
khoảng 30% khí thải CO và CO2, gây hiệu sinh thái, đô thị thông minh bắt đầu được  
ứng nhà kính, tạo nên tác động biến đổi thực hiện từ những thập niên đầu của thế  
khí hậu và nước biển dâng. Vì thế, phát kỷ XXI, nhưng đến nay vẫn chưa thật  
triển xanh, phát triển bền vững đang là xu sự được coi trọng. Nhiều nhà quản lý,  
hướng, là yêu cầu tất yếu của Việt Nam, chủ đầu tư, doanh nghiệp và chủ sở hữu  
cũng như nhiều quốc gia. Công tác hướng công trinh vẫn coi trọng yếu tố kinh tế,  
dẫn, thúc đẩy hoạt động quy hoạch, thiết lợi nhuận hơn yếu tố bảo vệ môi trường  
kế, xây dựng, vận hành công trình xanh, và sinh thái. Theo đánh giá tổng quan  
đô thị xanh, thành phố thông minh đang của Hệ thống mạng lưới Công trình xanh  
là định hướng hoạt động cấp bách để sử Châu Á - Thái Bình Dương, số lượng  
dụng tiết kiệm, hiệu quả năng lượng và công trình xây dựng của Việt Nam đạt  
các nguồn tài nguyên, hạn chế ô nhiễm tiêu chí xanh và được cấp chứng nhận  
môi trường, phát triển bền vững đô thị và Công trình xanh hiện đang ở mức khá  
nông thôn.  
khiêm tốn so với các nước trong khu  
Tuy nhiên, trên bình diện này, Việt vực và trên thế giới. Hiện có khoảng  
Nam vẫn đang đứng trước những thách 100 công trình được một số tổ chức có  
thức nghiêm trọng: không khí ngày càng hệ thống đánh giá quốc tế và trong nước  
ô nhiễm, rác thải ngày càng nhiều, nước cấp chứng chỉ Công trình xanh đều phần  
thải, úng ngập và tắc nghẽn giao thông lớn là những dự án, công trình cao ốc  
xuất hiện thường xuyên hơn, đặc biệt văn phòng, công trình công cộng, nhà ở  
tại một số đô thị lớn, đô thị loại 1 và căn hộ thương mại được thiết kế và vận  
loại đặc biệt. Công tác hướng dẫn, thúc hành hành theo tiêu chuẩn cao tại các đô  
đẩy hoạt động quy hoạch, thiết kế xây thị lớn, như LEED, Greenmark, Lotus,  
dựng và vận hành công trình xanh, đô EDGE (IFC).  
Số công trình đăng ký đánh giá và được cấp chứng chỉ Công trình xanh  
TT Tên tổ chức  
Đăng ký và đang đánh giá Đã được cấp chứng chỉ  
1 LEED (Mỹ)  
69  
24  
24  
67  
61  
21  
8
14  
2 Green Mark (Singapore)  
3 LOTUS (VGBC)  
4 Kiến trúc xanh (HKTSVN)  
5 EDGE (IFC)  
26 (Giải thưởng KTX)  
58  
Hiện tại Việt Nam, cũng như nhiều triển đô thị thông minh bền vững. Một số  
quốc gia khác, đang đứng trước sự mất quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia  
cân đối nghiêm trọng giữa cung và cầu về cũng đã được ban hành nhằm quy định tuân  
năng lượng, trước tốc độ phát triển kinh tế thủ bắt buộc cũng như hướng dẫn, đánh giá  
- xã hội và đô thị hóa đang diễn ra nhanh các công trình xây dựng phục vụ mục tiêu  
chóng. Bộ Xây dựng đã ban hành kế hoạch sử dụng tiết kiệm, hiệu quả năng lượng và  
hành động về tăng trưởng xanh, Đề án phát phát triển xanh, bảo vệ môi trường.  
Tạp chí  
Kinh doanh và Công nghệ  
51  
Số 07/2020  
NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI  
Kỹ thuật - Công nghệ  
1. Nhận thức đúng về công trình  
xanh, đô thị xanh, đô thị thông minh  
1.1. Công trình xanh được thiết kế,  
xây dựng và vận hành theo các tiêu chí,  
như địa điểm bền vững, sử dụng hiệu  
quả tài nguyên, tạo không gian cây xanh  
trong giải pháp thiết kế, tiết kiệm năng  
lượng, sử dụng vật liệu thân thiện môi  
trường, chú trọng giải pháp giảm trừ ô  
nhiễm môi trường,... Theo kinh nghiệm  
một số nước trên thế giới, xây dựng các  
công trình xanh trung bình sẽ đòi hỏi  
tăng vốn đầu tư khoảng 5-12 % so với  
đầu tư thông thường. Nhưng các công  
trình xanh sẽ tiết kiệm 15-30% năng  
lượng sử dụng, giảm khoảng 30-35%  
lượng khí thải CO và CO2, tiết kiệm 30-  
50% lượng nước sử dụng và 50-70% chi  
phí xử lý chất thải. Các công trình xanh  
góp phần bảo tồn các nguồn tài nguyên,  
đảm bảo sức khỏe người sử dụng, tuổi  
thọ công trình cao.  
Kiến trúc xanh cơ bản tạo ra một  
công trình vận hành với chi phí sử dụng  
năng lượng ở mức tiết kiệm, tối ưu, ít gây  
tác động đến môi trường, đảm bảo các  
tiện nghi tối đa cho hoạt động của công  
trình. Cần phân biệt kiến trúc xanh với  
hình ảnh của các khu nghỉ sang trọng rợp  
bóng cây hay các toà nhà hi-tech hiện đại.  
Khái niệm “kiến trúc xanh” cũng đòi hỏi  
các công trình được xây dựng vận hành  
hài hòa với môi trường tự nhiên và xã hội  
xung quanh. Mặt khác, cũng không nên  
quan niệm “xanh” chỉ là tăng mật độ cây  
xanh, hoàn toàn không dùng đến các thiết  
bị, như máy lạnh, lò sưởi,... mà nên hiểu  
là trong phương án thiết kế có sử dụng các  
giải pháp cách nhiệt tốt, che chắn nắng  
tốt,…, để hệ thống thông gió điều hòa  
thông khí,..., hoạt động tối ưu, hiệu quả  
cao trong điều kiện tiết kiệm năng lượng  
và làm sạch không khí trong nhà.  
Mục tiêu chính của kiến trúc xanh  
vẫn là xoay quanh vấn đề giảm các xung  
đột chính giữa môi trường xây dựng nhân  
tạo với sức khỏe con người và môi trường  
thiên nhiên, bằng các cách:  
- Sử dụng có hiệu quả năng lượng,  
nước và các tài nguyên thiên nhiên khác;  
- Bảo vệ sức khỏe của người sử dụng  
công trình và tăng sức sản xuất của nhân  
lực thông qua việc nâng cao chất lượng  
môi trường bên trong công trình;  
- Giảm thiểu chất thải, tác động gây  
ô nhiễm và suy thoái môi trường xung  
quanh công trình.  
1.2. Đô thị xanh, Đô thị sinh thái là  
xu hướng phát triển đô thị bền vững, thân  
thiện môi trường. Chính quyền các đô thị  
có vai trò rất lớn trong việc lãnh đạo, điều  
hành, đảm bảo tốt sự phát triển hài hoà,  
giữa tăng trưởng kinh tế, an sinh xã hội  
và bảo vệ môi trường sinh thái.  
Hiện nay chưa có tiêu chuẩn quốc gia  
cũng như hệ thống tiêu chí đánh giá đô thị  
xanh, đô thị sinh thái tại Việt Nam. Các  
hệ thống đánh giá công trình xanh hiện  
tại, như LEED, Green Mark, Lotus đã có  
tiêu chí đánh giá cấp chứng chỉ Xanh cho  
một khu đô thị. Quan niệm về đô thị xanh,  
khu đô thị xanh như là đô thị có nhiều  
cây xanh, mật độ không gian xanh cao là  
chưa đủ. Theo tuyên ngôn của UNEP về  
thành phố xanh, cũng như tham khảo kinh  
nghiệm quốc tế và trong nước, thì bộ tiêu  
chí cơ bản của đô thị xanh phục vụ công  
tác quy hoạch và quản lý phát triển đô thị  
gồm có:  
Tiêu chí 1: Quy hoạch sử dụng đất đô  
thị hợp lý và bảo đảm không gian xanh  
cần thiết.  
Tiêu chí 2: Các công trình xây dựng xanh.  
Tiêu chí 3: Giao thông đô thị xanh.  
Tiêu chí 4: Công nghiệp xanh.  
Tiêu chí 5: Hoàn thiện hệ thống thu  
Tạp chí  
Kinh doanh và Công nghệ  
52  
Số 07/2020  
NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI  
Kỹ thuật - Công nghệ  
gom, xử lý và tái chế, tái sử dụng chất thải  
4) Tích hợp (Integrate) giáo dục, giới  
(nước thải, chất thải rắn, khí thải), không tính, sức khỏe, an toàn.  
gây ô nhiễm môi trường.  
5) Tham gia (Participate) liên kết  
Tiêu chí 6: Bảo tồn các di sản kiến công dân, doanh nghiệp của mình với các  
trúc, di sản đô thị và truyền thống văn hóa dự án.  
địa phương.  
6) Đơn giản hóa (Simplify) đa số các  
1.3. Đô thị thông minh (Smart city) thành phố xây dựng theo quy định lỗi thời  
đang được một số đô thị trên thế giới phát trước đây.  
triển theo. Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà  
Theo quan điểm của Vương quốc  
Nẵng và một số thành phố khác đang Anh, một thành phố thông minh gồm có  
hoạch định chiến lược và thực hiện đề án 10 yếu tố cần thiết: sức khỏe, dịch vụ,  
phát triển đô thị thông minh. Hiện nay năng lượng, giáo dục, nước, công trình  
số đô thị trên thế giới được công nhận là xanh, rác thải, an toàn giao thông, di  
thành phố thông minh không nhiều. Mỗi chuyển và hạ tầng, trong đó, hệ thống giao  
quốc gia đều có quan điểm riêng về thành thông phải đồng bộ; tất cả các lĩnh vực  
phố thông minh. Mặc dù chưa thống nhất kết cấu hạ tầng, an toàn công cộng, công  
về mặt lý luận, nhưng đều thống nhất về trình xanh, giáo dục, dịch vụ công dân,  
định nghĩa cơ bản: “Đô thị thông minh là chăm sóc sức khỏe, năng lượng, cấp nước  
mô hình đô thị hay khu đô thị, khu nghỉ và xử lý chất thải sẽ được hưởng lợi từ  
dưỡng, khu công nghiệp ứng dụng công việc áp dụng các công nghệ thông minh.  
nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo để quản Các đô thị thông minh đều hướng tới phát  
lý vận hành nâng cao chất lượng đô thị, triển bền vững và con người vẫn là trung  
phương thức quản lý vận hành, nâng cao tâm của sự phát triển. Đô thị thông minh  
hiệu quả quản lý và phục vụ của cơ quan cần môi trường sống thông minh và công  
quản lý địa phương, ban quản lý khu đô thị đồng dân cư thông minh.  
nhằm phát triển đô thị hay khu đô thi, khu  
công nghiệp bền vững (thực hiện 3 mục xanh, đô thị xanh tại Việt Nam  
tiêu về kinh tế - xã hội và môi trường), Ngày 3/10/2019 Bộ Chính trị đã chính  
2. Yêu cầu phát triển công trình  
sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thức ban hành Nghị quyết 52-NQ/TW về  
thiên nhiên (năng lượng, quỹ đất, nguồn một số chủ trương, chính sách chủ động  
nước, vật tư, vật liệu xây dựng,...), bảo vệ tham gia cuộc cách mạng công nghiệp  
môi trường sinh thái và chất lượng sống 4.0. Ngày 13/ 3/2019, Thủ tướng Chính  
của cộng đồng”.  
phủ đã ký Quyết định số 280//TTg phê  
Theo kinh nghiệm của thành phố duyệt Chương trình quốc gia về sử dụng  
Bruxcell (Bỉ), có 6 nguyên tắc phát triển tiết kiệm và hiệu quả năng lượng giai  
đô thị thông minh:  
đoạn 2019-2030. Trước đó, Thủ tướng  
1) Hợp tác (Collaborate), trao đổi dữ cũng đã ký Quyết định số 950/TTg phê  
liệu, chia sẻ đồ án giữa các ngành trong duyệt Đề án Phát triển đô thị thông minh  
môi trường mở.  
bền vững Việt Nam giai đoạn 2018-2025,  
2) Tiết kiệm (Save) năng lượng, nước, định hướng đến năm 2030.  
nguyên liệu thô, thực phẩm và tài chính.  
a) Để thúc đẩy phát triển công trình  
3) Đổi mới (Innovate) cách thức tổ xanh, đô thị xanh tại Việt Nam, rất cần  
chức, chia sẻ, giao tiếp, sản xuất mới.  
sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhóm đối  
Tạp chí  
Kinh doanh và Công nghệ  
53  
Số 07/2020  
NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI  
Kỹ thuật - Công nghệ  
tác, gồm: các cơ quan quản lý nhà nước; trong công tác xây dựng chính phủ điện  
các nhà thiết kế, tư vấn; các nhà thầu xây tử cấp trung ương và địa phương, trong  
dựng; các nhà cung cấp trang thiết bị; các công tác điều hành sản xuất, dịch vụ  
nhà đầu tư phát triển, các chủ đầu tư, chủ ngân hàng, thương mại, giao thông. Cần  
sở hữu; các hội nghề nghiệp; các trường từng bước quan tâm đầu tư công tác ứng  
đại học, các viện nghiên cứu; các cơ quan dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo để  
truyền thông,...  
cải tạo chỉnh trang đô thị, hoàn thiện hệ  
Trên thực tế, sự phối hợp giữa các thống hạ tầng kỹ thuật đô thị nhằm tạo  
bên chưa thật chặt chẽ và hiệu quả. Nhiều dụng được hệ sinh thái bền vững của đô  
nhà đầu tư phát triển, nhiều chủ đầu tư và thị xanh, đô thị thông minh.  
chủ sở hữu công trình còn quan ngại việc  
c) Nhà nước và chính quyền đô thị  
đầu tư công trình xanh sẽ làm tăng tổng cần sớm ban hành chính sách về pháp lý  
chi phí đầu tư xây dựng, hoặc gắn đầu tư để buộc các chủ đầu tư, chủ sở hữu cần  
xanh với việc gia tăng lợi nhuận (đầu tư tuân thủ đầu tư phát triển công trình xanh,  
xanh thực ra chỉ tăng thêm khoảng 5-12% đô thị xanh, nhưng đồng thời cũng cần  
so với đầu tư thông thường, nhưng sẽ tăng ban hành chính sách hỗ trợ, ưu đãi nhằm  
giá trị bất động sản).  
vận động xã hội hóa phát triển xanh.  
d) Phát triển công trình xanh và đô  
b) Hiện nay nhận thức của các nhà  
quản lý chính quyền các cấp về phát thị xanh đòi hỏi phải quan tâm đầu tư xây  
triển đô thị thông minh bền vững chưa dựng hệ thống dữ liệu đô thị và chuyển  
rõ ràng. Việc đầu tư ứng dụng công nghệ hóa công nghệ số trong công tác quy  
thông tin và trí tuệ nhân tạo trong điều hoạch và thiết kế, xây dựng công trình và  
hành quản lý sản xuất, hành chính các hệ đô thị.  
thống tiện ích đô thị là cần thiết, nhưng  
e) Bộ Xây dựng hiện đang chỉ đạo  
cần thực hiện các giải pháp từ trên xuống điều hành phát triển công trình xanh, đô  
và từ dưới lên để cải tạo, chỉnh trang và thị xanh tại Việt Nam. Bộ cũng đang chỉ  
hoàn thiện từng bước hệ thống hạ tầng đạo đề án xây dựng thành phố thông minh  
và sinh thái đô thị một cách bền vững. bền vững. Một số tổ chức quốc tế và các  
Không thể có một hệ thống điều hành hội nghề nghiệp, như UNDP, IFC, Hội  
giao thông thông minh, khi mà hệ thống Kiến trúc sư Việt Nam, Hội Môi trường  
đường xá, bến bãi trong đô thị còn thiếu xây dựng Việt Nam, Hiệp hội Bất động  
vàyếukém.Khôngthểđểtrongmộtthành sản Việt Nam,…, đang hoạt động thúc đẩy  
phố chỉ có một vài khu đô thị thông minh phát triển công trình xanh, đô thị xanh.  
dành cho những người có thu nhập cao, Các cơ sở đào tạo Kiến trúc - Xây dựng  
giàu có, khi vẫn tồn tại những khu nhà ở đã và đang cung cấp những kiến thức và  
cũ, xuống cấp nghiêm trọng của những kỹ năng cơ bản cho các kiến trúc sư, kỹ  
người thu nhập thấp. Phát triển đô thị sư, cán bộ quản lý đô thị và xây dựng, các  
xanh phải là bước đầu tiên để tiến tới xây nhà thầu và chủ đầu tư xây dựng tương lai.  
dựng thành phố thông minh, bền vững. Các hoạt động này cần được sự chỉ đạo và  
Hiện nay chúng ta đang tập trung đầu tư kết nối trong mạng lưới phát triển công  
công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo trình xanh, đô thị xanh của đất nước./.  
Tạp chí  
Kinh doanh và Công nghệ  
54  
Số 07/2020  
NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI  
Kỹ thuật - Công nghệ  
Tài liệu tham khảo  
1. Nguyễn Hữu Dũng (2011). Tiết kiệm năng lượng và tài nguyên – tiêu chí quan  
trọng của phát triển đô thị và kiến trúc bền vững. Tạp chí Xây dựng, Số 3.  
2. Nguyễn Hữu Dũng (2015). Quản lý môi trường đô thị - Tài liệu đào tạo ,  
Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội.  
3. Nguyễn Hữu Dũng (2016). Xây dựng tiêu chí cho mô hình “Làng đô thị xanh”.  
Tạp chí Kiến trúc Việt Nam, Số 198.  
4. Phạm Ngọc Dăng, Nguyễn Việt Anh, Phạm Thị Hải Hà, Nguyễn Văn Muôn  
(2014). Các giải pháp thiết kế công trình xanh. NXB Xây dựng.  
5. Ngô Viết Hùng, Nguyễn Hữu Dũng (2011). Xây dựng hướng dẫn thiết kế công  
trình xanh (đối với tòa nhà văn phòng) tại Việt Nam. Đề tài cấp bộ, TK 09-09.  
6. Ken Yeang (1995). Design with Nature – the Ecological Basic for Architectural  
Design. McGraw - Hill.  
7. Kupasswamy Lyengar (2015). Sustainable Architectural Design. Taylor & Francis.  
8. TSKH. Nguyễn Văn Bình. Việt Nam chủ động tham gia cuộc cách mạng công  
nghiệp lần thứ tư. Ban Kinh tế Trung ương.  
Ngày nhận bài: 26/02/2020  
Tạp chí  
Kinh doanh và Công nghệ  
55  
Số 07/2020  
pdf 6 trang yennguyen 15920 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phát triển công trình, đô thị xanh, đô thị thông minh tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphat_trien_cong_trinh_do_thi_xanh_do_thi_thong_minh_tai_viet.pdf