Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam trong xu hướng toàn cầu của ngành kiểm toán
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP KIỂM
TOÁN VIỆT NAM TRONG XU HƯỚNG TOÀN CẦU CỦA NGÀNH KIỂM TOÁN
Đào Minh Hằng
Khoa Kế toán -Tài chính
Email: [email protected]
Ngày nhận bài: 22/10/2020
Ngày PB đánh giá: 13/11/2020
Ngày duyệt đăng: 19/11/2020
TÓM TẮT: Theo thống kê đến 9/2020, Việt Nam có 194 doanh nghiệp kiểm toán (DNKT) đang hoạt động,
với hơn 60% thị phần toàn ngành thuộc về nhóm DNKT lớn (Big Four) và các DNKT có vốn đầu tư nước
ngoài. Xu hướng toàn cầu hóa về kế toán, kiểm toán ngày càng mạnh mẽ, mở ra nhiều cơ hội và thách thức
cho kiểm toán độc lập tại Việt Nam, các DNKT trong nước đang đối mặt với sự cạnh tranh rất quyết liệt. Tác
giả thực hiện nghiên cứu này nhằm khảo sát và đánh giá về thực trạng cạnh tranh của các DNKT nội với các
DNKT nước ngoài (gồm DNKT 100% vốn nước ngoài và DNKT có vốn đầu tư nước ngoài) hoạt động tại
Việt Nam. Kết quả nghiên cứu này là cơ sở khoa học để nhà quản lý DNKT Việt Nam có biện pháp nâng cao
năng lực cạnh tranh của DNKT trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày một sâu rộng.
Từ khóa: năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp kiểm toán, kiểm toán viên, toàn cầu hóa.
IMPROVING THE COMPETITIVENESS OF VIETNAMESE AUDIT FIRMS IN THE
GLOBAL TRENDS OF AUDITING
ABSTRACT: According to statistics in September 2020,Vietnam has 194 audit firms operating in
Vietnam, in which the Big four and foreign invested audit firms account for more than 60% of total
market shares in audit industry. Global trends of accounting and auditing spreading out have opened up
many opportunities and challenges for independent audit in Vietnam, domestic audit firms are facing
drastic competitions. This research aims to survey and estimate the compatitiveness of domestic audit
firms and foreign invested audit ones (including 100% foreign-owned companies and joint venture
companies) in Vietnam. The results of this study are hereby the scientific basis for managers in
Vietnamese auditing firms to make the right decisions to enhance their competitiveness in the context
of international economic integration.
Keywords: competitiveness, audit firms, auditors, globalization
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
“ngôn ngữ” kinh doanh, “ngôn ngữ” quản
lý kinh tế mới. Vai trò này không chỉ phát
triển trong phạm vi quốc gia mà còn trong
xu thế toàn cầu. Do đó, ngành kế toán,
kiểm toán Việt Nam tất yếu phải hội nhập.
Bên cạnh việc Việt Nam phải ban hành và
thực hiện quy định, chuẩn mực kế toán,
kiểm toán theo chuẩn quốc tế phù hợp với
Hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực
mạnh mẽ đang mở ra xu hướng toàn cầu
hóa đối với ngành kế toán, kiểm toán Việt
Nam. Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế
(Bộ Tài chính), ông Phạm Tuấn Anh đã
nhận định hội nhập càng sâu rộng, kế toán,
kiểm toán càng có vai trò mới, trở thành
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 44, tháng 01 năm 2021
5
bối cảnh trong nước, bản thân các DNKT,
đặc biệt là DNKT nội cần có các phương
hướng, biện pháp nâng cao năng lực cạnh
tranh với các DNKT nước ngoài, thông
qua nâng cao chất lượng dịch vụ, nguồn
nhân lực,…
quan tâm của các nhà khoa học trên thế
giới. Tuy nhiên trong lĩnh vực kiểm toán,
chỉ có một số ít nghiên cứu về NLCT của
DNKT như Maijoor & Witteloostuijn
(1996) đã tiếp cận và phát triển Lý thuyết
Nguồn lực doanh nghiệp (RBV) của
Barney vào lĩnh vực này với nghiên cứu
điển hình tại Hà Lan. Các tác giả cho rằng
NLCT của DNKT cũng chịu tác động
bởi chất lượng kiểm toán bởi có sự thâm
nhập cao từ các DNKT nước ngoài vào thị
trường kiểm toán ở các nước có hạn chế
về khả năng và chất lượng dịch vụ kiểm
toán [5]. Kế thừa điều này, Lian Kee &
cộng sự (2011) đưa ra lý thuyết cạnh tranh
DNKT trong kỷ nguyên áp dụng Chuẩn
mực thiết lập báo cáo tài chính quốc tế
(IFRS). Cụ thể, DNKT muốn cạnh tranh
cần đáp ứng yêu cầu, thách thức trong việc
áp dụng IFRS, và 5 nguồn lực chính có thể
tạo nên NLCT của DNKT là: (1) tài chính,
(2) nhân lực, (3) trí tuệ, (4) tổ chức và (5)
vật chất [4]. Ở Việt Nam, cũng có một số
nghiên cứu về NLCT, tiêu biểu là nghiên
cứu “Nâng cao năng lực cạnh tranh DNKT
Việt Nam” (Đoàn Xuân Tiên, 2006), đặt
DNKT trong bối cảnh kinh tế Việt Nam
có bước phát triển mạnh theo định hướng
đổi mới, thực hiện tiến trình mở cửa hội
nhập quốc tế. Phan Văn Dũng (2015) cũng
nhận định “NLCT của các DNKT là khả
năng doanh nghiệp sử dụng và kết hợp
các nguồn lực một cách hiệu quả, nắm
bắt và đáp ứng kịp thời các nhu cầu của
khách hàng với hiệu quả và chất lượng
cao” [2]. Như vậy, bên cạnh việc tận dụng
các nguồn lực là các nhân tố tác động đến
NLCT, các DNKT cần phải đảm bảo chất
lượng kiểm toán cung cấp, tuân thủ theo
Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và các
quy định có liên quan của Nhà nước. Trên
thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
2. CÁC QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU VỀ
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦADNKT
Năng lực cạnh tranh (NLCT) là thuật
ngữ có phạm vi rộng, có thể đề cập ở góc
độ quốc gia, ngành, doanh nghiệp hay sản
phẩm, dịch vụ cụ thể. NLCT của doanh
nghiệp được hiểu là năng lực cung cấp sản
phẩm hoặc dịch vụ mà người tiêu dùng
trong và ngoài nước mong muốn với giá cả
thấp hoặc bằng đối thủ cạnh tranh và giảm
thiểu tối đa chi phí cơ hội về nguồn lực
(Freebairn, 1986). Theo Thorne (2004),
trên góc độ tiếp cận về thương mại và quản
trị có 3 quan điểm khác nhau về NLCT
của doanh nghiệp: (1) quan điểm truyền
thống cho rằng giá cả của hàng hóa, dịch
vụ là tiêu chí chính để đo lường NLCT;
(2) lý thuyết tổ chức công nghiệp cho rằng
NLCT cao khi DN đảm bảo các chỉ tiêu
về hoạt động kinh doanh hiệu quả như:
thị phần, năng suất lao động, chi phí sản
xuất; (3) trường phái quản trị chiến lược
xác định NLCT được đo lường và so sánh
thông qua 4 nguồn lực chủ yếu là nhân
lực, tài chính, công nghệ và marketing
[7]. Dựa trên quan điểm của Trường phái
quản trị chiến lược và kết hợp với vai trò
của các nhân tố trong quá trình hoạt động,
Momaya & cộng sự (2005) đã xây dựng
theo Mô hình APP (Assets Performance –
Process) với 3 nhóm: các nhân tố thuộc về
NLCT dựa trên tài sản; các nhân tố thuộc
về NLCT hoạt động; các nhân tố thuộc về
NLCT trong quá trình. Như vậy lý thuyết
về NLCT của các doanh nghiệp được sự
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
6
thì các DNKT thuộc Big Four là những
DNKT điển hình cho việc phát triển và
kết hợp các nguồn lực để tạo nên lợi thế
cạnh tranh, là bài học kinh nghiệm đối với
các DNKT nội đang hoạt động trong môi
trường có tính đặc thù cao.
đa số có doanh thu dưới mức 30 tỷ đồng,
số lượng KTV từ 20 KTV trở xuống [9].
Trong 3 nhóm DNKT trên, thị trường
kiểm toán độc lập được chia thành 2 thị
phần chủ yếu, giữa các DNKT nước ngoài
và các DNKT trong nước. Đến giữa năm
2020, chỉ có 11 DNKT có hình thức sở
hữu nước ngoài (100% vốn, có vốn đầu tư
nước ngoài) nhưng chiếm hơn ½ thị phần
toàn ngành kiểm toán độc lập, còn lại là
183 DNKT Việt Nam (DNKT nội). Đứng
đầu nhóm DNKT trong nước và cũng là
một công ty thuộc Big Four là Deloitte
Việt Nam, với tiền thân là công ty liên
doanh Vaco- Deloitte, thành lập năm 1995
do đó Deloitte hiện nay có khoảng cách
khá lớn với các DNKT trong nước còn lại.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nhất là
với sự hình thành thị trường chung trong
khu vực thì các DNKT nội đang đứng
trước những rào cản thách thức làm hạn
chế NLCT do các DN này đa phần chưa
phải thành viên hãng kiểm toán quốc tế,
mới chỉ cung cấp dịch vụ kiểm toán trong
thị trường nội địa Việt Nam, chưa thể vượt
ra khỏi biên giới quốc gia.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện qua hai
bước: Bước đầu tiên là nghiên cứu định
tính nhằm tìm hiểu NLCT của DNKT và
khám phá các nhân tố tác động đến NLCT
của DNKTtrong điều kiệnViệt Nam. Bước
tiếp theo là thu thập, khảo sát số liệu nhằm
đánh giá thực trạng đáp ứng cạnh tranh
của các DNKT trong nước. Nguồn dữ liệu
thu thập chủ yếu là thứ cấp từ Hiệp hội
KTV hành nghề Việt Nam (VACPA), Uỷ
ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN),
các DNKT, KTV từ năm 2015 đến năm
2019. Năm 2015 là năm thứ hai Việt Nam
thực hiện đầy đủ luật kiểm toán độc lập về
điều kiện hành nghề kiểm toán, hàng chục
công ty trong nước không được phép cung
cấp dịch vụ, điều này cũng làm tăng sức
ép cạnh tranh của các DNKT nội.
Theo VACPA, các DNKT độc lập
Việt Nam hiện nay nếu dựa vào quy mô
doanh thu, cơ bản được phân chia thành
3 nhóm: (1) Các DNKT có quy mô lớn,
Big Four (thực chất là các công ty 100%
vốn đầu tư nước ngoài hoặc chi nhánh các
công ty quốc tế ngoại trừ Deloitte) với
doanh thu bình quân là 500 tỷ đồng/năm,
số lượng khách hàng trên 1.100/năm, số
lượng kiểm toán viên (KTV) từ 60-100;
(2) các DNKT có quy mô vừa như A&C,
AASC, AISC, AAC,… doanh thu bình
quân xấp xỉ 40-100 tỷ đồng /năm, lượng
khách hàng từ 400-1000 đơn vị/năm, số
lượng KTV từ 20-50 và (3) các DNKT
quy mô nhỏ: AVA, IFC, An Phát, DFK,…
Nghiên cứu của Đoàn Xuân Tiên
(2006) đã xác định các yếu tố tác động đến
NLCT của DNKT là: (1) chiến lược kinh
doanh; (2) trình độ năng lực tổ chức quản lý
điều hành kinh doanh, ban lãnh đạo; (3) quy
mô; (4) khả năng nắm bắt thông tin; (5) khả
năng hợp tác với doanh nghiệp hữu quan;
(6) chữ tín trong kinh doanh; (7) chất lượng
đội ngũ cán bộ quản lý; (8) chi phí và văn
hóa kinh doanh [8]. Còn Phan Văn Dũng
(2015) đã đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến
NLCT của DNKT ở Việt Nam: (1) Năng
lực công nghệ thông tin; (2) Chất lượng
dịch vụ; (3) Quy mô; (4) Văn hóa công ty;
(5) Năng lực phát triển kinh doanh [2]. Như
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 44, tháng 01 năm 2021
7
vậy, việc xác định và đánh giá NLCT của
các DNKT được thể hiện qua nhiều nhân
tố khác nhau tùy thuộc quan điểm nghiên
cứu, đề xuất của các tác giả. Trong phạm vi
bài viết, tác giả khảo sát về NLCT của các
DNKT Việt Nam dựa trên một số tiêu chí
cơ bản như quy mô hoạt động, hình thức sở
hữu, cơ cấu nhân lực kiểm toán, hiệu quả
hoạt động kinh doanh, chất lượng dịch vụ
kiểm toán, thị phần. Việc đánh giá NLCT
của DNKT Việt Nam có thể giúp bản thân
doanh nghiệp xác định hạn chế trong quá
trình hoạt động, từ đó có phương hướng
nâng cao khả năng cạnh tranh, trước hết là
giữa chính các DNKT nội địa khi mà Việt
Nam đang trong xu thế toàn cầu hóa mạnh
mẽ hiện nay.
tốt hơn, dẫn tới khả năng cạnh tranh trong
ngành sẽ cao hơn. Phỏng vấn các KTV và
chuyên gia cho thấy, các DNKT nhóm Big
Four (trong đó 3/4 DNKT nước ngoài) và
các DNKT nội thuộc hãng quốc tế thường
có danh tiếng cao hơn các DNKT còn lại,
thu hút được lượng khách hàng lớn hơn
các DNKT thông thường. Việc đo lường
NLCT dựa trên quy mô có thể chia thành:
quy mô hoạt động theo loại hình DNKT,
hình thức sở hữu; quy mô về nguồn nhân
lực, doanh thu, lượng khách hàng.
- Quy mô hoạt động của các DNKT
Việt Nam
Cuối năm 2019, căn cứ vào thống
kê các DNKT, có 180 công ty kiểm toán,
trong đó: 02 công ty 100% vốn nước
ngoài là PwC, KPMG; 09 công ty có
vốn đầu tư nước ngoài là: E&Y, EJung,
Mazars, HSKV, Immanuel, S&S, Crowe
Việt Nam, BDO, Jung IL; còn lại là 100%
vốn trong nước [9]. Như vậy số lượng các
DNKT nội địa tăng 24% so với năm 2014,
tuy nhiên trong đó thì số lượng các DNKT
đủ điều kiện là thành viên các hãng kiểm
toán quốc tế lại tăng khá ít.
4. THỰC TRẠNG CẠNH TRANH CỦA
DNKT TRONG NƯỚC VỚI DNKT
NƯỚC NGOÀI TỪ 2015-2019
4.1. Đánh giá NLCT dựa trên nhân
tố thuộc về quy mô của DNKT
Theo nhiều nghiên cứu, vì các DNKT
quy mô lớn với danh tiếng đã tạo được sẽ
có đội ngũ KTV chuyên nghiệp, có kinh
nghiệm kiểm toán và điều kiện kiểm toán
Bảng 1: Cơ cấu các DNKT nước ngoài và Việt Nam theo hình thức sở hữu
Năm
2015
2016
2017
2018
2019
Số
Số
Số
Số
Số
Loại hình công ty
lượng (%) lượng (%) lượng (%) lượng (%) lượng (%)
1. DNKT nước ngoài
10
3
7,04
2,11
4,93
10
3
6,58
1,97
5,26
11
2
6,63
1,20
5,42
11
2
6,32
1,15
5,17
11
2
5,79
1,05
4,74
DN 100% vốn nước ngoài
DN có vốn đầu tư nước ngoài
2.DNKT Việt Nam
7
8
9
9
9
132 92,96 142 93,42 155 93,37 163 93,68 179 94,21
DN thuộc hãng thành viên
DN thuộc hãng hội viên hiệp hội
DN thuộc hãng đại diện liên lạc
DNKT độc lập
15
12
1
10,56
8,45
0,7
15
12
1
9,87
7,89
0,66
16
13
1
9,64
7,83
0,60
16
13
1
9,20
7,47
0,57
16
27
1
8,42
14,21
0,53
104 73,24 124 81,58 125 75,30 133 76,44 135 71,05
142 100 152 100 166 100 174 100 190 100
Tổng cộng
Nguồn: Báo cáo tổng kết của VACPA giai đoạn 2015-2019
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
8
Để duy trì cạnh tranh, DNKT có thể
tham gia các Hiệp hội kiểm toán của các
hãng kiểm toán quốc tế để được hỗ trợ về
phát triển nguồn lực, kỹ năng của KTV, cải
thiện khả năng phục vụ khách hàng bằng
cách chia sẻ phương pháp luận, kỹ thuật
thực hành,… Ở Việt Nam, số lượng DNKT
trong nước đủ điều kiện là thành viên của
hãng kiểm toán quốc tế khá ít cho thấy
khả năng cạnh tranh, phát triển của DNKT
nội chưa cao. Một DNKT muốn trở thành
thành viên hãng kiểm toán quốc tế phải
cung cấp dịch vụ chủ yếu về kế toán, kiểm
toán, tư vấn; có kinh nghiệm quốc tế và
khả năng giao dịch, liên lạc quốc tế; có
quy trình kiểm soát chất lượng dịch vụ đạt
yêu cầu; đội ngũ nhân viên, KTV chuyên
nghiệp, có trình độ ngoại ngữ; có khả năng
tài chính để đầu tư kỹ thuật, đào tạo nhân
viên theo chuẩn quốc tế, chi phí chuyên
gia, học tập và làm việc tại nước ngoài, lệ
phí thành viên... Những khoản chi phí này
không hề nhỏ với các DNKT Việt Nam.
Theo khảo sát thực tế thì 70-80% DNKT
trong nước không phải là thành viên của
các hãng kiểm toán quốc tế do chưa đủ các
tiêu chí cơ bản trên để được kết nạp, do đó
những lợi ích như sử dụng chung thương
hiệu, logo, dịch vụ, thông tin khách hàng
trong hệ thống, biểu giá phí kiểm toán,...
không được tận dụng dẫn đến uy tín,
thương hiệu cũng chỉ trong phạm vi nội
địa Việt Nam. Việc cung cấp các dịch vụ
vượt khỏi phạm vi biên giới quốc gia cũng
như cung cấp các dịch vụ cho các công ty
lớn có vốn đầu tư nước ngoài là nằm ngoài
khả năng, khiến cho tính đa dạng về khách
hàng bị giảm sút.
- Nguồn nhân lực của các DNKT
Việt Nam
Hoạt động kiểm toán đòi hỏi có nhân
lực chuyên môn sâu, được đào tạo và phát
triển các kỹ năng kiểm toán để đáp ứng
công việc đặc thù. Nguồn nhân lực ổn
định, đầy đủ và có năng lực sẽ đảm bảo
chất lượng công việc, từ đó tác động đến
NLCT. Việc xem xét quy nguồn nhân lực
thể hiện ở số lượng KTV hành nghề, số
lượng nhân viên chuyên nghiệp:
Bảng 2. So sánh nguồn nhân lực của các DNKT nước ngoài và Việt Nam giai đoạn 2015-2019
2015
SL (%)
2016
SL (%)
2017
SL (%)
2018
SL (%)
2019
SL (%)
Năm
DNKT
1. DNKT nước ngoài
10
10
11
11
11
Tổng số nhân viên
- NV chuyên nghiệp
- KTV hành nghề
2.825 24,75 2.755 26,83 3.011 27,23 3.087 26,90 3205 26,85
2.558 22,41 2.452 23,88 2740 24,78 2.792 24,33 2.895 24,25
267
2,34
303
2,95
271
2,45
295
2,57
310
2,60
2. DNKT Việt Nam
Tổng số nhân viên
- NV chuyên nghiệp
132
142
155
163
179
8.589 75,25 7.514 73,17 8.045 72,77 8.388 73,10 8.734 73,15
7.147 62,62 6.163 60,02 6.368 57,6 6.646 57,92 6.883 57,65
1.442 12,63 1.351 13,16 1.677 15,17 1.742 15,18 1.851 15,50
- KTV hành nghề
Tổng lao động
11.414 100 10.269 100 11.056 100 11.475 100 11.939 100
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Báo cáo tổng kết của VACPA giai đoạn 2015-2019
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 44, tháng 01 năm 2021
9
Nếu căn cứ vào số liệu trên, tính đến
thời điểm cuối năm 2019, 179 DNKT
Việt Nam có 8.736 người trong đó có
1.851 KTV hành nghề. Tính toán sơ bộ
cho thấy cứ mỗi DNKT Việt Nam có
trung bình 10/48 người là KTV có đăng
ký hành nghề. Tuy nhiên, có được số liệu
này là do trong các DNKT Việt Nam có
một số ít DNKT lớn có quy mô nhân
viên và KTV lớn, trong khi có rất nhiều
DNKT số lượng nhân viên và KTV chỉ
hơn 10 người, có nghĩa quy mô nhân lực
của các DNKT Việt Nam bình quân ở
mức thấp. Số liệu này ở 11 DNKT nước
ngoài là 310 người, trong đó bình quân
28 KTV hành nghề. Đáng chú ý, theo
bảng 3 có thể nhận thấy tỷ lệ KTV hành
nghề/tổng số NV và số lượng KTV bình
quân/DNKT là khá thấp. Hơn nữa, trong
các DNKT chưa phải là thành viên của
các hãng kiểm toán quốc tế thì mức KTV
bình quân/DNKT là 7 người nhưng phần
lớn các DNKT chỉ đủ mức tối thiểu theo
quy định pháp luật là 5 KTV:
Bảng 3. So sánh cơ cấu nhân lực DNKT nước ngoài và DNKT Việt Nam
Số
Tổng số
nhân viên KTV/NV
DNKT (%)
Tỷ lệ
Số
lượng
DNKT nghiệp
Số NV
chuyên
KTV
bình quân
/DNKT
KTV
hành
nghề
(3)
Phân nhóm DNKT
(1)
11
2
(2)
(4)=(2)+(3) (5)=(3)/(4) (6)=(3)/(1)
1_DNKT nước ngoài
2.895
1320
1.575
6.883
310
115
195
3.205
1.435
1.770
8.734
9,67
8,01
28
58
22
10
DN 100% vốn nước ngoài
DN có vốn đầu tư nước ngoài
2_DNKT Việt Nam
9
179
11,02
21,19
1.851
DN thuộc hãng thành viên
DN thuộc hãng hội viên hiệp
hội
DN thuộc hãng đại diện liên lạc
DNKT độc lập
16
2047
534
2.557
20,88
33
13
1
149
895
78
3.663
260
21
1.036
1.125
85
4.621
23,11
24,71
22,42
20
21
7
Tổng cộng
190
9.778
2.161
11.939
18,1
11,7
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Báo cáo tổng kết của VACPA giai đoạn 2015-2019
Theo Phan Thanh Hải (2015), quy
mô nhân lực của các DNKT Việt Nam
tương đối mỏng về chất lượng do tuổi đời,
kinh nghiệm làm việc còn thấp; số lượng
các KTV đạt chứng chỉ CPA quốc tế còn
khiêm tốn. Cuối năm 2019 chỉ khoảng
291/2.056 KTV hành nghề vừa có CPA
quốc tế và CPA Việt Nam, trong đó chủ
yếu làm việc cho các DNKT nước ngoài
và một số DNKT trong nước quy mô
lớn; nhân viên và KTV biết và sử dụng
thành thạo từ 2 ngoại ngữ còn khá ít. Theo
Hiệp định AEC, kiểm toán là một trong
các ngành nghề sẽ được các quốc gia tạo
điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển thể
nhân, hướng tới tự do hóa lao động có kỹ
năng trong ASEAN, mở ra cơ hội cho các
DNKT trong nước mở rộng thị phần ra khu
vực, giúp đa dạng hóa nguồn nhân lực hoạt
động trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán,
đồng thời cũng tạo điều kiện cho người
Việt Nam có chứng chỉ hành nghề kiểm
toán quốc tế được làm việc tại các nước
khác trong khu vực. Tuy nhiên, NLCT
của các DNKT còn yếu ở khía cạnh nhân
lực chất lượng cao, khoảng 1.000/190.000
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
10
nhân sự khối ASEAN có chứng chỉ của
các hiệp hội kiểm toán, kế toán quốc tế.
dịch Covid-19 nên việc thống kê kết quả
hoạt động kiểm toán độc lập năm 2019
chưa được VACPA cập nhật đầy đủ). Đại
bộ phận doanh thu vẫn thuộc về 3 DNKT
nước ngoài thuộc Big Four (chiếm 35,8%)
và một số DNKT Việt Nam là thành viên
của các hãng kiểm toán quốc tế (đứng đầu
là Deloiite với 14,61% doanh thu). Như vậy
chiếm lĩnh gần 50% doanh thu của cả ngành
hàng năm vẫn thuộc nhóm các DNKT nước
ngoài (chỉ có 10-11 DNKT) và hơn 30%
thuộc về các DNKT Việt Nam quy mô lớn,
là thành viên hãng kiểm toán quốc tế. Số
lượng hơn 140 DNKT còn lại chỉ chiếm 17-
20% tổng doanh thu toàn ngành.
- Về quy mô doanh thu
Doanh thu là một trong các yếu tố
quyết định đến lợi nhuận và năng lực tài
chính của DNKT, giúp ổn định các khoản
chi đầu tư để duy trì nguồn nhân lực, chi
phí nghiên cứu phát triển về phương pháp,
kỹ thuật kiểm toán, nghiên cứu thị trường,
sản phẩm dịch vụ mới thêm đa dạng. Do
đó, doanh thu nhận được từ việc cung cấp
dịch vụ là một tiêu chí có thể sử dụng để
đánh giá NLCT của DNKT. Doanh thu
của toàn ngành kiểm toán độc lập năm
2018 gần7.784 tỷ đồng (do ảnh hưởng của
Bảng 4. So sánh doanh thu DNKT nước ngoài và DNKT Việt Nam
ĐVT : triệu đồng
Năm
2015
Doanh thu
2016
Doanh thu
2017
Doanh thu
2018
Phân nhóm
DNKT
(%)
(%)
(%)
Doanh thu
(%)
1.DNKT nước ngoài
2.348.270
45,78
2.352.876
42,14
2.738.010
42,24
3.219.108
41,36
DN 100% vốn nước ngoài
2.104.894
243.376
41,03
4,74
1.216.123
1.136.753
21,78
20,36
1.385.996
1.352.014
21,38
20,86
1.529.806
1.689.302
19,65
21,70
DN có vốn đầu tư nước ngoài
2. DNKT Việt Nam
2.781.295
54,22
3.230.810
57,86
3.743.561
57,76
4.564.844
58,64
DN thuộc hãng thành viên
1.380.044
315.767
26,9
6,16
1.602.518
351.772
28,7
6,3
1.825.210
404.450
28,16
6,24
2.272.914
481.048
29,2
6,18
DN thuộc hãng hội viên hiệp hội
DN thuộc hãng đại diện liên lạc
DNKT độc lập
27.547
0,54
20,62
100
34.060
0,61
22,25
100
36.945
0,57
22,79
100
40.477
0,52
22,74
100
1.057.937
5.129.565
1.242.459
5.583.686
1.476.956
6.481.571
1.770.405
7.783.952
Chênh lệch doanh thu (1) và (2)
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Báo cáo tổng kết của VACPA
DNKT 100% vốn đầu tư nước ngoài
là KPMG có doanh thu thấp nhất trong
nhóm Big Four (496 tỷ đồng, bằng ½
doanh thu 3 DNKT còn lại) là do KPMG
đã thành lập công ty tư vấn thuế riêng, do
đó trong báo cáo của KPMG không bao
gồm số liệu doanh thu dịch vụ phi kiểm
toán. Vì vậy nếu KPMG hợp nhất số liệu
thì tỷ trọng doanh thu của DNKT nước
ngoài cao hơn rất nhiều với thống kê của
Bộ Tài chính, tỷ trọng doanh thu của các
DNKT Việt Nam sẽ giảm.
4.2. Đánh giá NLCT của các DNKT
dựa trên hiệu quả hoạt động,
Cách đánh giá thể hiện ở hai khía
cạnh là doanh thu bình quân trên DNKT
và năng suất bình quân trên KTV, thực tế
đã có sự chênh lệch đáng kể giữa Doanh
thu và Năng suất giữa 2 nhóm:
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 44, tháng 01 năm 2021
11
Bảng 5. So sánh doanh thu bình quân trên tổng số DNKT của DNKT
nước ngoài và DNKT Việt Nam
Đơn vị tính: Triệu đồng
Năm
2015
2016
2017
2018
Phân nhóm DNKT
Doanh thu bình quân toàn ngành
1. DNKT Nước ngoài
DN 100% vốn nước ngoài
DN có vốn đầu tư nước ngoài
2. DNKT Việt Nam
DN thuộc Hãng thành viên
DN thuộc Hãng hội viên hiệp hội
DN thuộc Hãng đại diện liên lạc
DNKT độc lập
36.124
234.827
701.631
34.768
21.070
92.003
26.314
27.547
10.172
36.735
235.288
608.062
142.094
23.077
106.835
29.314
34.060
10.020
39.047
248.910
692.998
150.224
24.792
114.076
31.112
44.735
292.646
764.903
187.700
28.005
142.057
37.004
40.477
13.311
36.945
11.816
Chênh lệch Doanh thu bình quân
DNKT nước ngoài và Việt Nam
213.757
212.210
224.118
264.641
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Báo cáo tổng kết của VACPA
Mặc dù số lượng DNKT Việt Nam
lượng kiểm toán tốt, tăng khả năng minh
bạch của báo cáo, và tạo dựng hình ảnh
cho doanh nghiệp được kiểm toán. Các
DNKT Việt Nam tuy nhiều về số lượng
nhưng hiệu quả hoạt động lại không cao.
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số DNKT,
gấp 12-15 lần các DNKT nước ngoài
nhưng doanh thu bình quân của 1 DNKT
nước ngoài lại gấp 9 - 13 lần DNKT Việt
Nam. Theo nhận định của các chuyên gia,
phần lớn các DNKT nước ngoài được
khách hàng lựa chọn bởi các công ty này
được đánh giá là các đơn vị có uy tín, chất
Đối với hiệu quả hoạt động dựa trên
khía cạnh năng suất làm việc bình quân/
KTV, tiêu chí này được tính bằng Doanh
thu trên Số lượng KTV hành nghề.
Bảng 6. So sánh năng suất bình quân trên KTV của DNKT nước ngoài
và DNKT Việt Nam
Đơn vị tính: Triệu đồng
Năm
2015 2016 2017
2018
Loại hình doanh nghiệp
Năng suất bình quân Ngành kiểm toán
3.002 3.376 3.327 3.821
8.795 7.765 10.103 10.912
1.929 2.391 2.232 2.620
1. Năng suất bình quân DNKT Nước ngoài
2. Năng suất bình quân DNKT Việt Nam
Chênh lệch Năng suất bình quân DNKT nước ngoài và
Việt Nam
6.866 5.374 7.871 8.292
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Báo cáo tổng kết của VACPA giai đoạn 2015-2019
Qua bảng phân tích trên, bình quân
1 KTV tạo ra từ 3-3,8 tỷ đồng/ năm cho
DNKT. Tuy nhiên năng suất này chênh
lệch khá đáng kể giữa nhóm các DNKT
nước ngoài so với các DNKT Việt Nam
(gấp 3-6 lần), cho thấy phần nào NLCT
giữa nhóm các DNKT trong nước so với
các DNKT nước ngoài rất chênh lệch.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
12
4.3. Đánh giá NLCT của các DNKT dựa
trên số lượng và chất lượng khách hàng
Hơn nữa, để có số liệu về năng suất bình
quân của các DNKT Việt Nam như trên thì
thực chất là nhờ có Deloitte và các DNKT
nội đầu đàn khác như AASC, An Việt,
A&C,... với năng suất bình quân 1 KTV
rất cao như Deloitte là gần 19 tỷ đồng.
Đây là tiêu chí cũng được sử dụng
để đánh giá NLCT bởi lẽ để khách
hàng chấp nhận và sử dụng dịch vụ lâu
dài, DNKT phải thực hiện nhiều chính
sách kinh doanh nhằm thu hút, duy trì
khách hàng thường niên, tiềm năng.
Năm 2018, thống kê từ 174 DNKT thì
có 52.366 khách hàng, theo biểu đồ 25
DNKT có số lượng khách hàng lớn nhất,
thì chỉ riêng 3 DNKT nước ngoài đã có
số lượng khách hàng là 6.412, chiếm
12,2%; 22 DNKT trong nước có 20.297
khách hàng chiếm 38,7%. Như vậy 149
DNKT còn lại (8 DNKT nước ngoài và
151 DNKT trong nước có tỷ trọng khách
hàng là 49,1%. Lưu ý số lượng khách
hàng của 3 DNKT nước ngoài chưa tính
đến lượng khách hàng sử dụng dịch vụ
tư vấn thuế của KPMG do không được
hợp nhất số liệu.
Nếu tính năng suất bình quân trên
tổng số nhân viên chuyên nghiệp thì các
DNKT nước ngoài vẫn ưu thế ở bảng xếp
hạng các DNKT qua các năm từ 2015-
2019. Xét theo hiệu quả doanh thu trên
nhân viên, ngoại trừ số liệu bị nhiễu bởi
các DNKT siêu nhỏ (dưới 10 nhân viên)
thì đứng đầu vẫn là Big Four. Cụ thể: 1
nhân viên trong năm 2018 đem lại cho
PwC 1.378 triệu đồng doanh thu, con số
này tại Deloitte là 1.297 triệu đồng, E&Y
là 1.076 triệu đồng và KPMG là 945
triệu đồng [10]. Trong top 20 DNKT có
doanh thu/ 1 nhân viên cao nhất thì đã có
3 DNKT nước ngoài trong nhóm đầu là
PWC, EY, KPMG, chưa kể Deloitte và
Grant Thornton Việt Nam tiền thân trước
kia cũng là các DNKT liên doanh.
Biểu đồ 1. Thống kê 25 DNKT có số lượng khách hàng lớn nhất năm 2018
Nguồn: tổng hợp từ Báo cáo tổng kết hoạt động của Bộ Tài chính
Chất lượng khách hàng của từng
DNKT được nhận xét một cách tương
quan dựa trên chỉ số doanh thu trên một
khách hàng (bảng 7). Tổng số khách hàng
năm 2018 là 52.366, tăng 7,59% so với
48.672 khách hàng của năm 2017. Trung
bình doanh thu trên 1 khách hàng của các
DNKT năm 2018 là 148 triệu đồng (năm
2017 là 133 triệu đồng). Giá trị trung vị
chỉ tiêu này theo thống kê là 70 triệu đồng.
Trong bảng thống kê thì trong 10 DNKT
dẫn đầu về doanh thu/ khách hàng, có tới
4 DNKT nước ngoài (tổng 11 DNKT nước
ngoài), điều này cũng thể hiện NLCT của
các DNKT nước ngoài chênh lệch khá
nhiền với DNKT Việt Nam.
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 44, tháng 01 năm 2021
13
Bảng 7. 20 DNTK có số lượng khách hàng lớn nhất năm 2018 [10]
4.4. Đánh giá NLCT của các DNKT dựa
trên chất lượng dịch vụ cung cấp
số 157/2014/TT-BTC được ban hành ngày
23/10/2014, công việc kiểm soát chất
lượng từ bên ngoài do Vụ chế độ kế toán
kiểm toán (Bộ Tài chính) và UBCKNN
chủ trì, VACPA phối hợp với Bộ tài chính
và UBCKNN trong việc kiểm soát CLDV
kiểm toán. Đến năm 2017, Cục giám sát,
quản lý Kế toán và kiểm toán chủ trì việc
kiểm tra thay cho Vụ chế độ kế toán, kiểm
toán. Đánh giá của Bộ Tài chính qua kết
quả kiểm tra hàng năm các DNKT, tỷ
trọng các DNKT chưa đạt yêu cầu có xu
hướng tăng:
Chất lượng dịch vụ của DNKT
thường dao động trong một khoảng rất
rộng, tuỳ thuộc vào người cung cấp, thời
gian và địa điểm cung cấp. Dịch vụ của
các công ty kiểm toán khác nhau thì chất
lượng có thể không giống nhau, phụ thuộc
rất lớn vào khả năng tổ chức, trình độ
chuyên môn và uy tín của công ty kiểm
toán trên thị trường. Tác giả đề cập tới
tiêu chí này thông qua đánh giá của Bộ Tài
chính hàng năm. Năm 2014, khi Thông tư
Bảng 8. Tình hình chất lượng dịch vụ kiểm toán của các DNKT qua kết quả kiểm tra hàng năm
Năm
Phân loại
2014
2015
SL
Kết quả kiểm tra của Bộ Tài chính
2016
2017
2018
2019
SL
SL
SL
SL
SL
%
%
%
%
%
%
Tốt
1
1
14 %
100%
2
1
1
8%
50%
50%
68%
DNKT NN
DNKT VN
Đạt yêu cầu
3
43 %
5
56% 12 80%
15
68%
17
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
14
DNKT NN
DNKT VN
Chưa đạt
1
4
4
20%
1
8,3%
2
13,3%
1
5,9%
94,1%
20%
3
3
100%
43 %
80% 11 91,7% 13 86,7% 16
44 %
3
20%
5
23%
5
DNKT NN
DNKT VN
Yếu kém
3
100%
3
100%
3
100%
5
1
100%
4,5%
6
1
100%
4%
DNKT NN
DNKT VN
Không ký BC
DNKT NN
DNKT VN
Tổng cộng
1
1
100%
4,5%
1
100%
1
100%
7
100 %
9
100% 15 100% 22 100% 25
100%
Kết quả kiểm tra của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
Tốt
DNKT NN
DNKT VN
Đạt yêu cầu
DNKT NN
DNKT VN
Chưa đạt
2
1
1
7
20%
50%
50%
70%
3
1
2
6
33,3%
33,3%
66,7%
66,7%
1
1
14,3%
100%
2
1
1
8
1
7
20%
50%
50%
80%
12,5%
87,5%
5
100%
6
2
4
100%
33,3%
66,7%
6
1
5
85,7%
16,7%
83,3%
5
100%
7
1
100%
10%
6
100%
DNKT NN
DNKT VN
Tổng cộng
1
100%
5
100%
6
100% 10 100%
9
100%
7
100% 10 100%
DNKT NN: DNKT nước ngoài; DNKT VN: DNKT Việt Nam
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Qua kết quả kiểm tra hàng năm thì các
DNKT nước ngoài đều tốt hoặc đạt yêu
cầu, còn các DNKT có chất lượng dịch vụ
yếu kém hoặc không đạt yêu cầu là các
DNKT Việt Nam. Chất lượng dịch vụ của
các DNKT trong nước còn bị hạn chế so
với DNKT nước ngoài là do những hạn
chế về năng lực tài chính, cơ sở vật chất
kỹ thuật, công nghệ và đội ngũ KTV. Do
đó, việc cạnh tranh bằng chất lượng dịch
vụ chưa được coi trọng đối với các DNKT
trong nước, mà thay vào đó, sự cạnh tranh
bằng giá phí đã và đang diễn ra quyết liệt.
càng có ảnh hưởng (Phan Thanh Hải,
2018). Theo thống kê từ VACPA, thị phần
của các DNKT chia làm 2 phần, 55-59%
thuộc về các khách thể bắt buộc (các đơn
vị phải sử dụng dịch vụ của DNKT độc
lập hàng năm theo luật định, chủ yếu là
DN có vốn đầu tư nước ngoài, đơn vị có
lợi ích công chúng), còn lại thuộc về các
khách thể tự nguyện. Phần lớn khách thể
có xu hướng sử dụng dịch vụ của DNKT
nước ngoài và các DNKT là thành viên
của các hãng kiểm toán quốc tế. Doanh
thu của các DNKT nước ngoài (10-
11 DNKT) và các DNKT Việt Nam là
thành viên của các hãng kiểm toán quốc
tế (25-30 DNKT) hàng năm chiếm tỷ lệ
bình quân lần lượt là 40%-45% và 30%-
35% tỷ lệ toàn ngành. Như vậy thị phần
kiểm toán nước ta có chênh lệch rất rõ
4.5. Đánh giá NLCT của các DNKT dựa
trên thị phần
Tiêu chí thị phần DNKT nắm giữ
cũng là một trong nhiều tiêu chí thể hiện
NLCT. Việc chiếm lĩnh thị trường càng
lớn chứng tỏ sức cạnh tranh của DNKT
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 44, tháng 01 năm 2021
15
rệt, NLCT của các DNKT nội địa không
phải là thành viên hãng kiểm toán quốc
tế (130-150 DNKT) rất thấp, chính đây
cũng là nguyên nhân khiến các DNKT
này muốn tồn tại thường có các biện pháp
cạnh tranh không lành mạnh, tiêu biểu là
cạnh tranh bằng giá phí kiểm toán quá
thấp, có khi chỉ 10 triệu đồng/ cuộc kiểm
toán báo cáo tài chính, ảnh hưởng lớn tới
chất lượng dịch vụ cung cấp.
hãng kiểm toán quốc tế. Theo quy định,
tổ chức kiểm toán được chấp thuận thực
hiện kiểm toán cho đơn vị có lợi ích công
chúng phải có đủ 9 điều kiện về điều kiện
kinh doanh dịch vụ kiểm toán; vốn điều lệ;
số lượng KTV hành nghề; thời gian hoạt
động kiểm toán,… Số lượng DNKT nước
ngoài chiếm tỷ trọng khá nhỏ so với các
DNKT trong nước, tuy nhiên theo thống
kê cho thấy, tỷ lệ DNKT Việt Nam đủ điều
kiện để kiểm toán đơn vị có lợi ích công
chúng là khá thấp. Điều này cũng cho thấy
NLCT của các DNKT nội trong hoạt động
này chưa cao.
Thị phần các DNKT cung cấp dịch vụ
cho các đơn vị có lợi ích công chúng cũng
vẫn chỉ tập trung ở các DNKT nước ngoài
và các DNKT Việt Nam là thành viên của
Bảng 9: So sánh số lượng DNKT nước ngoài và DNKT Việt Nam được UBCKNN
chấp thuận kiểm toán đơn vị có lợi ích công chúng giai đoạn 2015-2019
Năm
Phân loại DNKT
DNKT NN
% trên tổng DNKT NN
DNKT VN
2015
Số DN
6
60%
24
2016
Số DN
2017
Số DN
2018
Số DN
2019
%
20
%
%
%
20,8
%
5
50%
23
17,9
5
18,5
5
5
14,7
85,3
100
45,4%
22
45,4%
19
45,4%
29
80
82,1
81,5
79,2
% trên tổng DNKT VN
Tổng
18,9%
30
16,2%
28
11,7%
24
16,2%
34
100
100
27
100
100
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ số liệu của UBCKNN giai đoạn 2015-2019
Số lượng các DNKT trong nước được
Việt Nam và Quốc tế, do đó các công ty
này phải chuyển sang sử dụng dịch vụ
kiểm toán của các DNKT có chuyên môn
tốt về chuẩn mực kế toán quốc tế. Do các
DNKT nước ngoài trang bị, cập nhật và tập
huấn thường xuyên cho KTV về các chuẩn
mực kế toán quốc tế nên có lợi thế hơn các
DNKT trong nước về việc kiểm toán theo
chuẩn mực kế toán quốc tế.
chấp nhận kiểm toán đơn vị có lợi ích công
chúng chủ yếu giảm, nguyên nhân do tiêu
chuẩn, điều kiện để kiểm toán các đơn vị
này được nâng lên rất nhiều từ năm 2015
và nhiều DNKT trong nước không đáp ứng
được. Trong khi đó, các DNKT nước ngoài
vẫn nằm trong danh sách các DNKT được
chấp thuận. Hơn nữa, nhiều công ty niêm
yết khi phát triển có xu hướng thay đổi dịch
vụ kiểm toán từ DNKT trong nước sang
nhóm Big Four (3/4 là DNKT nước ngoài,
1 DNKT trong nước có tiền thân cũng là
liên doanh). Nguyên nhân một phần là do
yêu cầu các công ty niêm yết phải lập báo
cáo tài chính theo cả chuẩn mực kế toán
4.6. Đánh giá NLCT của các DNKT dựa
trên sự đa dạng của các dịch vụ cung cấp
Tiêu chí này thể hiện DNKT có đủ
điều kiện và khả năng đáp ứng nhu cầu
của khách hàng về nhiều loại dịch vụ cần
thiết (kiểm toán và phi kiểm toán). Đồng
thời tiêu chí này còn thể hiện khả năng
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
16
đáp ứng nhu cầu dịch vụ khách hàng một
cách đa dạng, như các ngành, các lĩnh vực,
các loại hình kinh doanh khác nhau. Nếu
một DNKT chỉ cung cấp được một vài loại
dịch vụ kiểm toán hoặc chỉ đáp ứng được
nhu cầu của khách hàng ở một vài loại
hình doanh nghiệp thì chắc chắn khi cạnh
tranh với các công ty khác sẽ gặp nhiều
khó khăn và không có ưu thế.
Biểu đồ 2: Tỷ trọng doanh thu các loại dịch vụ kiểm toán và phi kiểm toán năm 2018
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ báo cáo của VACPA
Ở Việt Nam, các dịch vụ và sản phẩm
mà DNKT cung cấp cho khách hàng chưa
đa dạng, doanh thu của các DNKT chủ yếu
vẫn từ cung cấp dịch vụ kiểm toán (kiểm
toán tài chính, kiểm toán báo cáo quyết
toán dự án hoàn thành, soát xét BCTC).
Các dịch vụ phi kiểm toán là dịch vụ kế
toán, tư vấn thuế, thẩm định giá, dịch vụ
khác. Tỷ lệ dịch vụ kiểm toán/phi kiểm
toán năm 2018 là 61%/39%, so sánh với
năm 2017, 2016đềulà 64%/36%. Như vậy,
các DNKT cũng đang từng bước chuyển
dịch dần sang dịch vụ phi kiểm toán với
mức tỷ suất lợi nhuận cao hơn, trong đó
doanh thu của các dịch vụ phi kiểm toán
thường từ các DNKT nước ngoài.
Biểu đồ 3: So sánh top 10 DNKT nước ngoài và Việt Nam có doanh thu lớn nhất năm 2019
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ báo cáo của VACPA
Có thể thấy các DNKT nước ngoài dù
số lượng rất ít nhưng lại dẫn đầu và chiếm
tỷ trọng doanh thu các loại dịch vụ chính
nhiều hơn (trừ kiểm toán báo cáo quyết
toán đầu tư hoàn thành). Trong đó với dịch
vụ tư vấn thuế, KPMG có doanh thu ở lĩnh
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 44, tháng 01 năm 2021
17
vực này rất lớn nhưng không báo cáo dữ
liệu chung với các dịch vụ kiểm toán, do
đó, thực tế số liệu thực về doanh thu tư
vấn thuế của các DNKT nước ngoài lớn
gấp 1,5 lần số liệu báo cáo.
ảnh hưởng trực tiếp đến NLCT, mà trước
hết là cần không ngừng nâng cao chất
lượng cung cấp dịch vụ kiểm toán cho
khách hàng, hướng đến mở rộng sang thị
trường kiểm toán khu vựcASEAN và quốc
tế. Để làm được điều này thì các DNKT
Việt Nam cần nhận thức được tầm quan
trọng của chất lượng dịch vụ, nhất là giai
đoạn hội nhập quốc tế với nhiều cơ hội
cũng như thách thức lớn. Sắp tới Việt Nam
sẽ áp dụng IFRS, DNKT Việt Nam có kế
hoạch xây dựng, thực hiện đầy đủ và tuân
thủ nghiêm ngặt quy trình kiểm toán theo
các Chuẩn mực kiểm toán, cập nhật IFRS.
Đặc biệt với các DNKT là thành viên của
hãng kiểm toán quốc tế, hội viên hiệp hội
được tiếp cận nhiều với các phương pháp,
kỹ thuật, chuẩn mực theo thông lệ quốc
tế cần phải tiên phong trong việc cập nhật
và cần xây dựng được hệ thống kiểm soát
chất lượng phù hợp cho doanh nghiệp
mình bên cạnh việc kiểm soát chất lượng
từ bên ngoài của VACPA; Cục giám sát,
quản lý kế toán và kiểm toán; UBCKNN
đối với dịch vụ cung cấp của DNKT và
KTV. Với các DNKT chưa phải thành viên
hãng hay hội viên hiệp hội, nên chú trọng
và hướng đến việc đầu tư chuyên nghiệp,
chuyên môn hóa, ứng dụng công nghệ
được chuyển giao từ các DNKT lớn trong
nước khi liên doanh, liên kết, sáp nhập với
các công ty kiểm toán lớn, từ đó có cơ hội
để trở thành thành viên của các hãng kiểm
toán quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi để
nâng cao chất lượng hoạt động.
Ngoài các tiêu chí trên, còn các tiêu
chí để đánh giá NLCT về giá phí kiểm
toán, chiến lược kinh doanh, năng lực
quản lý, khả năng xây dựng mối quan
hệ với khách hàng,…không đề cập trong
phạm vi nghiên cứu này. Như vậy thông
qua kết quả khảo sát giai đoạn 2015-2019,
NLCT của các DNKT nội, đặc biệt là các
DNKT chưa phải thành viên hãng kiểm
toán quốc tế là khá thấp. Để có thể đối mặt
với các thách thức trong xu thế toàn cầu
hóa hiện nay, bản thân các DNKT này cần
phải có chiến lược, kế hoạch dài hạn nhằm
nâng cao NLCT.
5. GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG
LỰC CẠNH TRANH CỦACÁC DNKT
VIỆT NAM
Trong năm 2020, sự bùng phát dịch
Covid -19 đã gây ra nhiều thách thức cho
các nên kinh tế, trong đó có các DNKT và
các khách thể kiểm toán, bao gồm nguồn
nhân lực, hoạt động sản xuất kinh doanh.
Các DNKT nếu không có sự thay đổi để
thích ứng với xu hướng toàn cầu hóa cũng
như sự thay đổi môi trường kinh doanh do
các yếu tố tác động từ dịch bệnh nhằm góp
phần tăng khả năng cạnh tranh đi đôi với
nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp.
5.1. Về phía các DNKT
Hai là, nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực của DNKT. DNKT Việt Nam
cần chú trọng chọn và giữ nhân viên có
trình độ chuyên môn cao, tư cách đạo đức
tốt, đặc biệt thu hút nhân lực trình độ cao
người nước ngoài có chứng chỉ quốc tế
Một là, nâng cao chất lượng dịch vụ
kiểm toán và phi kiểm toán, bởi đây là một
các yếu tố quan trọng thu hút khách hàng
sử dụng dịch vụ của DNKT. Để nâng cao
NLCT, các DNKT cần chú trọng hơn nữa
việc tự hoàn thiện và nâng cao các yếu tố
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
18
để hạn chế chi phí đào tạo, có chính sách
thích hợp để giúp KTV cập nhật thông tin,
kiến thức. Ban lãnh đạo DNKT cần quan
tâm nhiều hơn nữa tới đời sống của nhân
viên, các điều kiện vật chất và tinh thần
cho nhân viên. Các DNKT cần hợp tác
với cơ sở đào tạo kế toán - kiểm toán theo
định hướng nghề nghiệp cũng như sự hỗ
trợ của VACPA và các DNKT lớn trong
việc tổ chức các lớp cập nhật kiến thức
hàng năm.
việt, rút ngắn thời gian kiểm toán từ đó
nâng cao chất lượng kiểm toán, tạo sự tin
tưởng từ phía khách hàng. Bên cạnh đó,
DNKT cũng cần xây dựng mối quan hệ
tốt các cơ quan quản lý Nhà nước về kiểm
toán, giúp nhanh chóng nắm bắt được sự
thay đổi của quy định pháp lý, cũng như
có nhiều cơ hội tiếp cận thông tin về các
chính sách hỗ trợ của chính phủ trong lĩnh
vực kế toán, kiểm toán.
Năm là, xây dựng và phát triển chiến
lược kinh doanh phù hợp. DNKT cần đầu
tư, xây dựng và không ngừng hoàn thiện
chiến lược kinh doanh dài hạn của doanh
nghiệp thông qua việc nghiên cứu thị trường
cung cấp dịch vụ, đa dạng hóa các sản phẩm
dịch vụ cung cấp trên nền tảng duy trì ổn
định và phát triển mạnh mẽ về chất lượng
của đội ngũ KTV, nhà quản lý với đặc thù
của doanh nghiệp. DNKT cần chú trọng xác
định các thị phần kiểm toán phù hợp như
kiểm toán BCTC của các doanh nghiệp mà
công ty đang hướng tới (kiểm toán lĩnh vực
sản xuất công nghiệp có quy mô vừa và nhỏ,
thương mại, dịch vụ,…) hay kiểm toán báo
cáo quyết toán, tư vấn để có kế hoạch xây
dựng, phát triển đội ngũ KTV chuyên sâu
trong từng lĩnh vực.
Ba là, nâng cao năng lực quản lý của
ban giám đốc/ ban quản trị DNKT. Ban
giám đốc DNKT cần thường xuyên cập
nhật các kiến thức mới về kế toán, kiểm
toán cũng như các kỹ năng cần thiết của
một người lãnh đạo, nâng cao khả năng
làm việc và giao dịch quốc tế và xử lý sự
khác biệt về văn hoá trong kinh doanh;
thông lệ và luật pháp quốc tế trong lĩnh
vực kiểm toán.
Bốn là, chủ động trong việc phát triển
các mối quan hệ kinh doanh trong lĩnh vực
kiểm toán một cách bền vững. Các DNKT
cần chủ động trong việc tìm kiếm khách
hàng, nhất là với các DNKT chưa phải
thành viên các hãng, hiệp hội kiểm toán
quốc tế cần xây dựng lộ trình để đạt tiêu
chuẩn tham gia vào các hiệp hội; liên kết
với các hãng kiểm toán quốc tế danh tiếng
nhằm tích lũy kinh nghiệm kinh doanh
và xây dựng chiến lược, định hướng phát
triển. Trong tiến trình hội nhập quốc tế về
kiểm toán, việc gia nhập làm thành viên/
trở thành hãng đại diện liên lạc của Hãng
kiểm toán quốc tế là một xu thế tất yếu để
DNKT có thể tiếp cận, học hỏi và được
chuyển giao các công nghệ cao trong kiểm
toán… Điều này sẽ giúp các DNKT có thể
nắm bắt được hệ phương pháp luận tiên
tiến, sử dụng các phần mềm kiểm toán ưu
Sáu là, phát triển thương hiệu và văn
hóa kinh doanh của DNKT. DNKT cần chú
trọng đến việc tạo uy tín trên thị trường
kiểm toán, cạnh tranh lành mạnh không dựa
trên việc hạ quá thấp giá phí kiểm toán, có
trách nhiệm với xã hội, với người sử dụng
báo cáo kiểm toán, tạo môi trường làm việc
hợp tác thân thiện, cởi mở.
Ngoài ra các DNKT cần có sự thay đổi
để thích ứng với tình hình hiện nay trong
trường hợp dịch bệnh có dấu hiệu gia tăng,
bắt buộc có sự hạn chế di chuyển giữa các
quốc gia hay giữa các địa phương dẫn tới
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 44, tháng 01 năm 2021
19
việc thiếu hụt các chuyên gia quốc tế, khó
khăn trong tiếp cận trực tiếp khách hàng.
Khi đó DNKT cần tính toán tới việc điều
chỉnh phương thức làm việc với khách hàng,
linh hoạt hơn trong việc tổ chức các hội thảo,
cuộc họp trực tuyến với các KTV quốc tế,
các chuyên gia từ công ty mẹ ở nước ngoài,
ứng dụng công nghệ thông tin rộng rãi hơn
trong việc tiếp cận phương pháp, kỹ thuật
kiểm toán mới.
KTV tại các cơ sở đào tạo cần có sự góp ý,
đánh giá từ hiệp hội nghề nghiệp, từ chính
các DNKT nhằm đáp ứng yêu cầu của
người sử dụng lao động cũng như hướng
tới sự công nhận của các nước trong khu
vực và quốc tế.
Nghiên cứu ban hành Luật CPA, các
văn bản dưới luật quy định về việc thực
hiện các cam kết dịch vụ kiểm toán trong
các tổ chức quốc tế, khu vực đồng thời có
các quy định ưu đãi về thủ tục xuất cảnh,
nhập cảnh, cư trú và cấp phép đối với các
chuyên gia kế toán, kiểm toán cung cấp
các dịch vụ kiểm toán xuyên quốc gia.
5.2. Về phía KTV
Cần nâng cao nhận thức và có ý thức
tự giác trong việc đảm bảo tuân thủ các
chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức nghề
nghiệp, có thái độ chuyên nghiệp và sẵn
sàng thích nghi với sự thay đổi của môi
trường kinh doanh trong nước và quốc tế.
VACPA cần tăng cường và mở rộng
quan hệ hợp tác với các hiệp hội nghề
nghiệp khu vực và thế giới; trước hết là
thỏa thuận thừa nhận nghề kế toán, kiểm
toán trong khu vực AEC.
Nâng cao kinh nghiệm, chuyên sâu
về lĩnh vực kiểm toán, phi kiểm toán mà
DNKT đang cung cấp dịch vụ. Năng lực
đối với KTV không chỉ dừng lại ở trình độ
hiểu biết và năng lực chuyên môn nghiệp
vụ, mà còn phải có kỹ năng tổ chức, quản
trị thông tin, kỹ năng phân tích đánh giá,
dự báo, năng lực tư vấn, kỹ năng khai thác,
vận hành mạng, sử dụng thông tin và bảo
mật thông tin, đặc biệt là thông tin kinh tế,
tài chính do kế toán cung cấp...
Bộ Tài chính và VACPA cần tổ chức
nhiều hơn các buổi tọa đàm, hội thảo nhằm
giúp nhà quản lý của DNKT có điều kiện
tham gia, trao đổi và học hỏi kinh nghiệm
nhằm nâng cao NLCT.
6. KẾT LUẬN
Trong môi trường cạnh tranh hiện
nay, DNKT cạnh tranh không chỉ bằng
sự khác biệt về nguồn lực mà tập trung
vào khả năng phối hợp và sử dụng
nguồn lực một cách hiệu quả nhằm đạt
mục tiêu chiến lược của mình. Trên đây
là nghiên cứu đánh giá về NLCT của
DNKT trên góc độ về nguồn lực nội tại,
tác giả sẽ phát triển các nghiên cứu thực
nghiệm chuyên sâu hơn về NLCT trong
thời gian tiếp theo.
Không ngừng nâng cao trình độ, năng
lực chuyên môn để đạt các chứng chỉ quốc
tế: CPAÚc,ACCA, CMA,… bởi đây được
coi là ngôn ngữ quốc tế của KTV; tự giác
tham gia các khóa cập nhật kiến thức cho
KTV với thái độ cầu thị, nghiêm túc, tránh
đối phó để tính giờ cập nhật.
5.3. Về phía Nhà nước
Nhà nước cần đầu tư hơn nữa và hỗ
trợ các cơ sở đào tạo và khuyến khích liên
kết đào tạo với các Hiệp hội nghề nghiệp
uy tín trên thế giới như ACCA, ICAEW,
CPA Australia,... Chương trình đào tạo
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Barney J (1991), Firm Resources and
Sustained Competitive Advantage”, Journal of
Management, Vol 17, No 1, p.99120.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
20
2. Phan Văn Dũng (2015), “Các nhân tố tác
động đến chất lượng kiểm toán của các doanh
nghiệp kiểm toán Việt Nam theo định hướng tăng
cường năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội
nhập kinh tế”, Luận án tiến sĩ kinh tế, ĐH Kinh tế
TP Hồ Chí Minh.
Strategic Regulation in the Dutch Audit Industry”,
Strategic Management Journal, 549–569.
6. Teece, D.J., Pisano, Gary, Shuen, Amy
(1997), “Dynamic Capabilityes and Strategic
Management”, Strategic Management Journal
(John Wiley & Sons) Vol 18 (7), p. 509–533.
3. Phan Thanh Hai (2018), “Compatitiveness
of Vietnamese external audit firms: reality, strategy
for improving in global integration conditions”,
International Journal of Publication and Social
Studies, Vol 3, No. 1, 1-9
7. Thorne, F. (2004). Measuring the
Competitiveness of Irish Agriculture (1996-2000).
Dublin: Rural Economy Research Centre
8. Đoàn Xuân Tiên (2006). “Nâng cao
năng lực cạnh tranh công ty kiểm toán Việt
Nam”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp học viện,
Học viện Tài chính Hà Nội.
4. Lian Kee, P., Adeline, H. L., & Patel,
C. (2011)., “Competitive Advantages of Audit
Firms in the Era of International Financial”,
2010 International Conference on E-business,
Management and Economics (pp. 308-313). Hong
Kong: IACSIT Press.
9. VACPA (2014-2018), Báo cáo tổng kết hoạt
động và phương hướng hoạt động các năm 2014-
2018 của kiểm toán độc lập, Hà Nội.
bang-xep-hang-cac-cong-ty-kiem-toan-tai-viet-
nam-nam-2018.50/, ngày đăng 11/06/2019.
5. Maijoor, S., & Witteloostuijn, A. (1996),
“An empirical test of the resource-based theory:
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 44, tháng 01 năm 2021
21
Bạn đang xem tài liệu "Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam trong xu hướng toàn cầu của ngành kiểm toán", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nang_cao_nang_luc_canh_tranh_cua_cac_doanh_nghiep_kiem_toan.pdf

