Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam trong xu hướng toàn cầu của ngành kiểm toán

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP KIỂM  
TOÁN VIỆT NAM TRONG XU HƯỚNG TOÀN CẦU CỦA NGÀNH KIỂM TOÁN  
Đào Minh Hằng  
Khoa Kế toán -Tài chính  
Ngày nhận bài: 22/10/2020  
Ngày PB đánh giá: 13/11/2020  
Ngày duyệt đăng: 19/11/2020  
TÓM TẮT: Theo thống kê đến 9/2020, Việt Nam có 194 doanh nghiệp kiểm toán (DNKT) đang hoạt động,  
với hơn 60% thị phần toàn ngành thuộc về nhóm DNKT lớn (Big Four) và các DNKT có vốn đầu tư nước  
ngoài. Xu hướng toàn cầu hóa về kế toán, kiểm toán ngày càng mạnh mẽ, mở ra nhiều cơ hội và thách thức  
cho kiểm toán độc lập tại Việt Nam, các DNKT trong nước đang đối mặt với sự cạnh tranh rất quyết liệt. Tác  
giả thực hiện nghiên cứu này nhằm khảo sát và đánh giá về thực trạng cạnh tranh của các DNKT nội với các  
DNKT nước ngoài (gồm DNKT 100% vốn nước ngoài và DNKT có vốn đầu tư nước ngoài) hoạt động tại  
Việt Nam. Kết quả nghiên cứu này là cơ sở khoa học để nhà quản lý DNKT Việt Nam có biện pháp nâng cao  
năng lực cạnh tranh của DNKT trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày một sâu rộng.  
Từ khóa: năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp kiểm toán, kiểm toán viên, toàn cầu hóa.  
IMPROVING THE COMPETITIVENESS OF VIETNAMESE AUDIT FIRMS IN THE  
GLOBAL TRENDS OF AUDITING  
ABSTRACT: According to statistics in September 2020,Vietnam has 194 audit firms operating in  
Vietnam, in which the Big four and foreign invested audit firms account for more than 60% of total  
market shares in audit industry. Global trends of accounting and auditing spreading out have opened up  
many opportunities and challenges for independent audit in Vietnam, domestic audit firms are facing  
drastic competitions. This research aims to survey and estimate the compatitiveness of domestic audit  
firms and foreign invested audit ones (including 100% foreign-owned companies and joint venture  
companies) in Vietnam. The results of this study are hereby the scientific basis for managers in  
Vietnamese auditing firms to make the right decisions to enhance their competitiveness in the context  
of international economic integration.  
Keywords: competitiveness, audit firms, auditors, globalization  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
“ngôn ngữ” kinh doanh, “ngôn ngữ” quản  
lý kinh tế mới. Vai trò này không chỉ phát  
triển trong phạm vi quốc gia mà còn trong  
xu thế toàn cầu. Do đó, ngành kế toán,  
kiểm toán Việt Nam tất yếu phải hội nhập.  
Bên cạnh việc Việt Nam phải ban hành và  
thực hiện quy định, chuẩn mực kế toán,  
kiểm toán theo chuẩn quốc tế phù hợp với  
Hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực  
mạnh mẽ đang mở ra xu hướng toàn cầu  
hóa đối với ngành kế toán, kiểm toán Việt  
Nam. Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế  
(Bộ Tài chính), ông Phạm Tuấn Anh đã  
nhận định hội nhập càng sâu rộng, kế toán,  
kiểm toán càng có vai trò mới, trở thành  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 44, tháng 01 năm 2021  
5
bối cảnh trong nước, bản thân các DNKT,  
đặc biệt là DNKT nội cần có các phương  
hướng, biện pháp nâng cao năng lực cạnh  
tranh với các DNKT nước ngoài, thông  
qua nâng cao chất lượng dịch vụ, nguồn  
nhân lực,…  
quan tâm của các nhà khoa học trên thế  
giới. Tuy nhiên trong lĩnh vực kiểm toán,  
chỉ có một số ít nghiên cứu về NLCT của  
DNKT như Maijoor & Witteloostuijn  
(1996) đã tiếp cận và phát triển Lý thuyết  
Nguồn lực doanh nghiệp (RBV) của  
Barney vào lĩnh vực này với nghiên cứu  
điển hình tại Hà Lan. Các tác giả cho rằng  
NLCT của DNKT cũng chịu tác động  
bởi chất lượng kiểm toán bởi có sự thâm  
nhập cao từ các DNKT nước ngoài vào thị  
trường kiểm toán ở các nước có hạn chế  
về khả năng và chất lượng dịch vụ kiểm  
toán [5]. Kế thừa điều này, Lian Kee &  
cộng sự (2011) đưa ra lý thuyết cạnh tranh  
DNKT trong kỷ nguyên áp dụng Chuẩn  
mực thiết lập báo cáo tài chính quốc tế  
(IFRS). Cụ thể, DNKT muốn cạnh tranh  
cần đáp ứng yêu cầu, thách thức trong việc  
áp dụng IFRS, và 5 nguồn lực chính có thể  
tạo nên NLCT của DNKT là: (1) tài chính,  
(2) nhân lực, (3) trí tuệ, (4) tổ chức và (5)  
vật chất [4]. Ở Việt Nam, cũng có một số  
nghiên cứu về NLCT, tiêu biểu là nghiên  
cứu “Nâng cao năng lực cạnh tranh DNKT  
Việt Nam” (Đoàn Xuân Tiên, 2006), đặt  
DNKT trong bối cảnh kinh tế Việt Nam  
có bước phát triển mạnh theo định hướng  
đổi mới, thực hiện tiến trình mở cửa hội  
nhập quốc tế. Phan Văn Dũng (2015) cũng  
nhận định “NLCT của các DNKT là khả  
năng doanh nghiệp sử dụng và kết hợp  
các nguồn lực một cách hiệu quả, nắm  
bắt và đáp ứng kịp thời các nhu cầu của  
khách hàng với hiệu quả và chất lượng  
cao” [2]. Như vậy, bên cạnh việc tận dụng  
các nguồn lực là các nhân tố tác động đến  
NLCT, các DNKT cần phải đảm bảo chất  
lượng kiểm toán cung cấp, tuân thủ theo  
Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và các  
quy định có liên quan của Nhà nước. Trên  
thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng  
2. CÁC QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU VỀ  
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦADNKT  
Năng lực cạnh tranh (NLCT) là thuật  
ngữ có phạm vi rộng, có thể đề cập ở góc  
độ quốc gia, ngành, doanh nghiệp hay sản  
phẩm, dịch vụ cụ thể. NLCT của doanh  
nghiệp được hiểu là năng lực cung cấp sản  
phẩm hoặc dịch vụ mà người tiêu dùng  
trong và ngoài nước mong muốn với giá cả  
thấp hoặc bằng đối thủ cạnh tranh và giảm  
thiểu tối đa chi phí cơ hội về nguồn lực  
(Freebairn, 1986). Theo Thorne (2004),  
trên góc độ tiếp cận về thương mại và quản  
trị có 3 quan điểm khác nhau về NLCT  
của doanh nghiệp: (1) quan điểm truyền  
thống cho rằng giá cả của hàng hóa, dịch  
vụ là tiêu chí chính để đo lường NLCT;  
(2) lý thuyết tổ chức công nghiệp cho rằng  
NLCT cao khi DN đảm bảo các chỉ tiêu  
về hoạt động kinh doanh hiệu quả như:  
thị phần, năng suất lao động, chi phí sản  
xuất; (3) trường phái quản trị chiến lược  
xác định NLCT được đo lường và so sánh  
thông qua 4 nguồn lực chủ yếu là nhân  
lực, tài chính, công nghệ và marketing  
[7]. Dựa trên quan điểm của Trường phái  
quản trị chiến lược và kết hợp với vai trò  
của các nhân tố trong quá trình hoạt động,  
Momaya & cộng sự (2005) đã xây dựng  
theo Mô hình APP (Assets Performance –  
Process) với 3 nhóm: các nhân tố thuộc về  
NLCT dựa trên tài sản; các nhân tố thuộc  
về NLCT hoạt động; các nhân tố thuộc về  
NLCT trong quá trình. Như vậy lý thuyết  
về NLCT của các doanh nghiệp được sự  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
6
thì các DNKT thuộc Big Four là những  
DNKT điển hình cho việc phát triển và  
kết hợp các nguồn lực để tạo nên lợi thế  
cạnh tranh, là bài học kinh nghiệm đối với  
các DNKT nội đang hoạt động trong môi  
trường có tính đặc thù cao.  
đa số có doanh thu dưới mức 30 tỷ đồng,  
số lượng KTV từ 20 KTV trở xuống [9].  
Trong 3 nhóm DNKT trên, thị trường  
kiểm toán độc lập được chia thành 2 thị  
phần chủ yếu, giữa các DNKT nước ngoài  
và các DNKT trong nước. Đến giữa năm  
2020, chỉ có 11 DNKT có hình thức sở  
hữu nước ngoài (100% vốn, có vốn đầu tư  
nước ngoài) nhưng chiếm hơn ½ thị phần  
toàn ngành kiểm toán độc lập, còn lại là  
183 DNKT Việt Nam (DNKT nội). Đứng  
đầu nhóm DNKT trong nước và cũng là  
một công ty thuộc Big Four là Deloitte  
Việt Nam, với tiền thân là công ty liên  
doanh Vaco- Deloitte, thành lập năm 1995  
do đó Deloitte hiện nay có khoảng cách  
khá lớn với các DNKT trong nước còn lại.  
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nhất là  
với sự hình thành thị trường chung trong  
khu vực thì các DNKT nội đang đứng  
trước những rào cản thách thức làm hạn  
chế NLCT do các DN này đa phần chưa  
phải thành viên hãng kiểm toán quốc tế,  
mới chỉ cung cấp dịch vụ kiểm toán trong  
thị trường nội địa Việt Nam, chưa thể vượt  
ra khỏi biên giới quốc gia.  
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Nghiên cứu được thực hiện qua hai  
bước: Bước đầu tiên là nghiên cứu định  
tính nhằm tìm hiểu NLCT của DNKT và  
khám phá các nhân tố tác động đến NLCT  
của DNKTtrong điều kiệnViệt Nam. Bước  
tiếp theo là thu thập, khảo sát số liệu nhằm  
đánh giá thực trạng đáp ứng cạnh tranh  
của các DNKT trong nước. Nguồn dữ liệu  
thu thập chủ yếu là thứ cấp từ Hiệp hội  
KTV hành nghề Việt Nam (VACPA), Uỷ  
ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN),  
các DNKT, KTV từ năm 2015 đến năm  
2019. Năm 2015 là năm thứ hai Việt Nam  
thực hiện đầy đủ luật kiểm toán độc lập về  
điều kiện hành nghề kiểm toán, hàng chục  
công ty trong nước không được phép cung  
cấp dịch vụ, điều này cũng làm tăng sức  
ép cạnh tranh của các DNKT nội.  
Theo VACPA, các DNKT độc lập  
Việt Nam hiện nay nếu dựa vào quy mô  
doanh thu, cơ bản được phân chia thành  
3 nhóm: (1) Các DNKT có quy mô lớn,  
Big Four (thực chất là các công ty 100%  
vốn đầu tư nước ngoài hoặc chi nhánh các  
công ty quốc tế ngoại trừ Deloitte) với  
doanh thu bình quân là 500 tỷ đồng/năm,  
số lượng khách hàng trên 1.100/năm, số  
lượng kiểm toán viên (KTV) từ 60-100;  
(2) các DNKT có quy mô vừa như A&C,  
AASC, AISC, AAC,… doanh thu bình  
quân xấp xỉ 40-100 tỷ đồng /năm, lượng  
khách hàng từ 400-1000 đơn vị/năm, số  
lượng KTV từ 20-50 và (3) các DNKT  
quy mô nhỏ: AVA, IFC, An Phát, DFK,…  
Nghiên cứu của Đoàn Xuân Tiên  
(2006) đã xác định các yếu tố tác động đến  
NLCT của DNKT là: (1) chiến lược kinh  
doanh; (2) trình độ năng lực tổ chức quản lý  
điều hành kinh doanh, ban lãnh đạo; (3) quy  
mô; (4) khả năng nắm bắt thông tin; (5) khả  
năng hợp tác với doanh nghiệp hữu quan;  
(6) chữ tín trong kinh doanh; (7) chất lượng  
đội ngũ cán bộ quản lý; (8) chi phí và văn  
hóa kinh doanh [8]. Còn Phan Văn Dũng  
(2015) đã đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến  
NLCT của DNKT ở Việt Nam: (1) Năng  
lực công nghệ thông tin; (2) Chất lượng  
dịch vụ; (3) Quy mô; (4) Văn hóa công ty;  
(5) Năng lực phát triển kinh doanh [2]. Như  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 44, tháng 01 năm 2021  
7
vậy, việc xác định và đánh giá NLCT của  
các DNKT được thể hiện qua nhiều nhân  
tố khác nhau tùy thuộc quan điểm nghiên  
cứu, đề xuất của các tác giả. Trong phạm vi  
bài viết, tác giả khảo sát về NLCT của các  
DNKT Việt Nam dựa trên một số tiêu chí  
cơ bản như quy mô hoạt động, hình thức sở  
hữu, cơ cấu nhân lực kiểm toán, hiệu quả  
hoạt động kinh doanh, chất lượng dịch vụ  
kiểm toán, thị phần. Việc đánh giá NLCT  
của DNKT Việt Nam có thể giúp bản thân  
doanh nghiệp xác định hạn chế trong quá  
trình hoạt động, từ đó có phương hướng  
nâng cao khả năng cạnh tranh, trước hết là  
giữa chính các DNKT nội địa khi mà Việt  
Nam đang trong xu thế toàn cầu hóa mạnh  
mẽ hiện nay.  
tốt hơn, dẫn tới khả năng cạnh tranh trong  
ngành sẽ cao hơn. Phỏng vấn các KTV và  
chuyên gia cho thấy, các DNKT nhóm Big  
Four (trong đó 3/4 DNKT nước ngoài) và  
các DNKT nội thuộc hãng quốc tế thường  
có danh tiếng cao hơn các DNKT còn lại,  
thu hút được lượng khách hàng lớn hơn  
các DNKT thông thường. Việc đo lường  
NLCT dựa trên quy mô có thể chia thành:  
quy mô hoạt động theo loại hình DNKT,  
hình thức sở hữu; quy mô về nguồn nhân  
lực, doanh thu, lượng khách hàng.  
- Quy mô hoạt động của các DNKT  
Việt Nam  
Cuối năm 2019, căn cứ vào thống  
kê các DNKT, có 180 công ty kiểm toán,  
trong đó: 02 công ty 100% vốn nước  
ngoài là PwC, KPMG; 09 công ty có  
vốn đầu tư nước ngoài là: E&Y, EJung,  
Mazars, HSKV, Immanuel, S&S, Crowe  
Việt Nam, BDO, Jung IL; còn lại là 100%  
vốn trong nước [9]. Như vậy số lượng các  
DNKT nội địa tăng 24% so với năm 2014,  
tuy nhiên trong đó thì số lượng các DNKT  
đủ điều kiện là thành viên các hãng kiểm  
toán quốc tế lại tăng khá ít.  
4. THỰC TRẠNG CẠNH TRANH CỦA  
DNKT TRONG NƯỚC VỚI DNKT  
NƯỚC NGOÀI TỪ 2015-2019  
4.1. Đánh giá NLCT dựa trên nhân  
tố thuộc về quy mô của DNKT  
Theo nhiều nghiên cứu, vì các DNKT  
quy mô lớn với danh tiếng đã tạo được sẽ  
có đội ngũ KTV chuyên nghiệp, có kinh  
nghiệm kiểm toán và điều kiện kiểm toán  
Bảng 1: Cơ cấu các DNKT nước ngoài và Việt Nam theo hình thức sở hữu  
Năm  
2015  
2016  
2017  
2018  
2019  
Số  
Số  
Số  
Số  
Số  
Loại hình công ty  
lượng (%) lượng (%) lượng (%) lượng (%) lượng (%)  
1. DNKT nước ngoài  
10  
3
7,04  
2,11  
4,93  
10  
3
6,58  
1,97  
5,26  
11  
2
6,63  
1,20  
5,42  
11  
2
6,32  
1,15  
5,17  
11  
2
5,79  
1,05  
4,74  
DN 100% vốn nước ngoài  
DN có vốn đầu tư nước ngoài  
2.DNKT Việt Nam  
7
8
9
9
9
132 92,96 142 93,42 155 93,37 163 93,68 179 94,21  
DN thuộc hãng thành viên  
DN thuộc hãng hội viên hiệp hội  
DN thuộc hãng đại diện liên lạc  
DNKT độc lập  
15  
12  
1
10,56  
8,45  
0,7  
15  
12  
1
9,87  
7,89  
0,66  
16  
13  
1
9,64  
7,83  
0,60  
16  
13  
1
9,20  
7,47  
0,57  
16  
27  
1
8,42  
14,21  
0,53  
104 73,24 124 81,58 125 75,30 133 76,44 135 71,05  
142 100 152 100 166 100 174 100 190 100  
Tổng cộng  
Nguồn: Báo cáo tổng kết của VACPA giai đoạn 2015-2019  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
8
Để duy trì cạnh tranh, DNKT có thể  
tham gia các Hiệp hội kiểm toán của các  
hãng kiểm toán quốc tế để được hỗ trợ về  
phát triển nguồn lực, kỹ năng của KTV, cải  
thiện khả năng phục vụ khách hàng bằng  
cách chia sẻ phương pháp luận, kỹ thuật  
thực hành,… Ở Việt Nam, số lượng DNKT  
trong nước đủ điều kiện là thành viên của  
hãng kiểm toán quốc tế khá ít cho thấy  
khả năng cạnh tranh, phát triển của DNKT  
nội chưa cao. Một DNKT muốn trở thành  
thành viên hãng kiểm toán quốc tế phải  
cung cấp dịch vụ chủ yếu về kế toán, kiểm  
toán, tư vấn; có kinh nghiệm quốc tế và  
khả năng giao dịch, liên lạc quốc tế; có  
quy trình kiểm soát chất lượng dịch vụ đạt  
yêu cầu; đội ngũ nhân viên, KTV chuyên  
nghiệp, có trình độ ngoại ngữ; có khả năng  
tài chính để đầu tư kỹ thuật, đào tạo nhân  
viên theo chuẩn quốc tế, chi phí chuyên  
gia, học tập và làm việc tại nước ngoài, lệ  
phí thành viên... Những khoản chi phí này  
không hề nhỏ với các DNKT Việt Nam.  
Theo khảo sát thực tế thì 70-80% DNKT  
trong nước không phải là thành viên của  
các hãng kiểm toán quốc tế do chưa đủ các  
tiêu chí cơ bản trên để được kết nạp, do đó  
những lợi ích như sử dụng chung thương  
hiệu, logo, dịch vụ, thông tin khách hàng  
trong hệ thống, biểu giá phí kiểm toán,...  
không được tận dụng dẫn đến uy tín,  
thương hiệu cũng chỉ trong phạm vi nội  
địa Việt Nam. Việc cung cấp các dịch vụ  
vượt khỏi phạm vi biên giới quốc gia cũng  
như cung cấp các dịch vụ cho các công ty  
lớn có vốn đầu tư nước ngoài là nằm ngoài  
khả năng, khiến cho tính đa dạng về khách  
hàng bị giảm sút.  
- Nguồn nhân lực của các DNKT  
Việt Nam  
Hoạt động kiểm toán đòi hỏi có nhân  
lực chuyên môn sâu, được đào tạo và phát  
triển các kỹ năng kiểm toán để đáp ứng  
công việc đặc thù. Nguồn nhân lực ổn  
định, đầy đủ và có năng lực sẽ đảm bảo  
chất lượng công việc, từ đó tác động đến  
NLCT. Việc xem xét quy nguồn nhân lực  
thể hiện ở số lượng KTV hành nghề, số  
lượng nhân viên chuyên nghiệp:  
Bảng 2. So sánh nguồn nhân lực của các DNKT nước ngoài và Việt Nam giai đoạn 2015-2019  
2015  
SL (%)  
2016  
SL (%)  
2017  
SL (%)  
2018  
SL (%)  
2019  
SL (%)  
Năm  
DNKT  
1. DNKT nước ngoài  
10  
10  
11  
11  
11  
Tổng số nhân viên  
- NV chuyên nghiệp  
- KTV hành nghề  
2.825 24,75 2.755 26,83 3.011 27,23 3.087 26,90 3205 26,85  
2.558 22,41 2.452 23,88 2740 24,78 2.792 24,33 2.895 24,25  
267  
2,34  
303  
2,95  
271  
2,45  
295  
2,57  
310  
2,60  
2. DNKT Việt Nam  
Tổng số nhân viên  
- NV chuyên nghiệp  
132  
142  
155  
163  
179  
8.589 75,25 7.514 73,17 8.045 72,77 8.388 73,10 8.734 73,15  
7.147 62,62 6.163 60,02 6.368 57,6 6.646 57,92 6.883 57,65  
1.442 12,63 1.351 13,16 1.677 15,17 1.742 15,18 1.851 15,50  
- KTV hành nghề  
Tổng lao động  
11.414 100 10.269 100 11.056 100 11.475 100 11.939 100  
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Báo cáo tổng kết của VACPA giai đoạn 2015-2019  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 44, tháng 01 năm 2021  
9
Nếu căn cứ vào số liệu trên, tính đến  
thời điểm cuối năm 2019, 179 DNKT  
Việt Nam có 8.736 người trong đó có  
1.851 KTV hành nghề. Tính toán sơ bộ  
cho thấy cứ mỗi DNKT Việt Nam có  
trung bình 10/48 người là KTV có đăng  
ký hành nghề. Tuy nhiên, có được số liệu  
này là do trong các DNKT Việt Nam có  
một số ít DNKT lớn có quy mô nhân  
viên và KTV lớn, trong khi có rất nhiều  
DNKT số lượng nhân viên và KTV chỉ  
hơn 10 người, có nghĩa quy mô nhân lực  
của các DNKT Việt Nam bình quân ở  
mức thấp. Số liệu này ở 11 DNKT nước  
ngoài là 310 người, trong đó bình quân  
28 KTV hành nghề. Đáng chú ý, theo  
bảng 3 có thể nhận thấy tỷ lệ KTV hành  
nghề/tổng số NV và số lượng KTV bình  
quân/DNKT là khá thấp. Hơn nữa, trong  
các DNKT chưa phải là thành viên của  
các hãng kiểm toán quốc tế thì mức KTV  
bình quân/DNKT là 7 người nhưng phần  
lớn các DNKT chỉ đủ mức tối thiểu theo  
quy định pháp luật là 5 KTV:  
Bảng 3. So sánh cơ cấu nhân lực DNKT nước ngoài và DNKT Việt Nam  
Số  
Tổng số  
nhân viên KTV/NV  
DNKT (%)  
Tỷ lệ  
Số  
lượng  
DNKT nghiệp  
Số NV  
chuyên  
KTV  
bình quân  
/DNKT  
KTV  
hành  
nghề  
(3)  
Phân nhóm DNKT  
(1)  
11  
2
(2)  
(4)=(2)+(3) (5)=(3)/(4) (6)=(3)/(1)  
1_DNKT nước ngoài  
2.895  
1320  
1.575  
6.883  
310  
115  
195  
3.205  
1.435  
1.770  
8.734  
9,67  
8,01  
28  
58  
22  
10  
DN 100% vốn nước ngoài  
DN có vốn đầu tư nước ngoài  
2_DNKT Việt Nam  
9
179  
11,02  
21,19  
1.851  
DN thuộc hãng thành viên  
DN thuộc hãng hội viên hiệp  
hội  
DN thuộc hãng đại diện liên lạc  
DNKT độc lập  
16  
2047  
534  
2.557  
20,88  
33  
13  
1
149  
895  
78  
3.663  
260  
21  
1.036  
1.125  
85  
4.621  
23,11  
24,71  
22,42  
20  
21  
7
Tổng cộng  
190  
9.778  
2.161  
11.939  
18,1  
11,7  
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Báo cáo tổng kết của VACPA giai đoạn 2015-2019  
Theo Phan Thanh Hải (2015), quy  
mô nhân lực của các DNKT Việt Nam  
tương đối mỏng về chất lượng do tuổi đời,  
kinh nghiệm làm việc còn thấp; số lượng  
các KTV đạt chứng chỉ CPA quốc tế còn  
khiêm tốn. Cuối năm 2019 chỉ khoảng  
291/2.056 KTV hành nghề vừa có CPA  
quốc tế và CPA Việt Nam, trong đó chủ  
yếu làm việc cho các DNKT nước ngoài  
và một số DNKT trong nước quy mô  
lớn; nhân viên và KTV biết và sử dụng  
thành thạo từ 2 ngoại ngữ còn khá ít. Theo  
Hiệp định AEC, kiểm toán là một trong  
các ngành nghề sẽ được các quốc gia tạo  
điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển thể  
nhân, hướng tới tự do hóa lao động có kỹ  
năng trong ASEAN, mở ra cơ hội cho các  
DNKT trong nước mở rộng thị phần ra khu  
vực, giúp đa dạng hóa nguồn nhân lực hoạt  
động trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán,  
đồng thời cũng tạo điều kiện cho người  
Việt Nam có chứng chỉ hành nghề kiểm  
toán quốc tế được làm việc tại các nước  
khác trong khu vực. Tuy nhiên, NLCT  
của các DNKT còn yếu ở khía cạnh nhân  
lực chất lượng cao, khoảng 1.000/190.000  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
10  
nhân sự khối ASEAN có chứng chỉ của  
các hiệp hội kiểm toán, kế toán quốc tế.  
dịch Covid-19 nên việc thống kê kết quả  
hoạt động kiểm toán độc lập năm 2019  
chưa được VACPA cập nhật đầy đủ). Đại  
bộ phận doanh thu vẫn thuộc về 3 DNKT  
nước ngoài thuộc Big Four (chiếm 35,8%)  
và một số DNKT Việt Nam là thành viên  
của các hãng kiểm toán quốc tế (đứng đầu  
là Deloiite với 14,61% doanh thu). Như vậy  
chiếm lĩnh gần 50% doanh thu của cả ngành  
hàng năm vẫn thuộc nhóm các DNKT nước  
ngoài (chỉ có 10-11 DNKT) và hơn 30%  
thuộc về các DNKT Việt Nam quy mô lớn,  
là thành viên hãng kiểm toán quốc tế. Số  
lượng hơn 140 DNKT còn lại chỉ chiếm 17-  
20% tổng doanh thu toàn ngành.  
- Về quy mô doanh thu  
Doanh thu là một trong các yếu tố  
quyết định đến lợi nhuận và năng lực tài  
chính của DNKT, giúp ổn định các khoản  
chi đầu tư để duy trì nguồn nhân lực, chi  
phí nghiên cứu phát triển về phương pháp,  
kỹ thuật kiểm toán, nghiên cứu thị trường,  
sản phẩm dịch vụ mới thêm đa dạng. Do  
đó, doanh thu nhận được từ việc cung cấp  
dịch vụ là một tiêu chí có thể sử dụng để  
đánh giá NLCT của DNKT. Doanh thu  
của toàn ngành kiểm toán độc lập năm  
2018 gần7.784 tỷ đồng (do ảnh hưởng của  
Bảng 4. So sánh doanh thu DNKT nước ngoài và DNKT Việt Nam  
ĐVT : triệu đồng  
Năm  
2015  
Doanh thu  
2016  
Doanh thu  
2017  
Doanh thu  
2018  
Phân nhóm  
DNKT  
(%)  
(%)  
(%)  
Doanh thu  
(%)  
1.DNKT nước ngoài  
2.348.270  
45,78  
2.352.876  
42,14  
2.738.010  
42,24  
3.219.108  
41,36  
DN 100% vốn nước ngoài  
2.104.894  
243.376  
41,03  
4,74  
1.216.123  
1.136.753  
21,78  
20,36  
1.385.996  
1.352.014  
21,38  
20,86  
1.529.806  
1.689.302  
19,65  
21,70  
DN có vốn đầu tư nước ngoài  
2. DNKT Việt Nam  
2.781.295  
54,22  
3.230.810  
57,86  
3.743.561  
57,76  
4.564.844  
58,64  
DN thuộc hãng thành viên  
1.380.044  
315.767  
26,9  
6,16  
1.602.518  
351.772  
28,7  
6,3  
1.825.210  
404.450  
28,16  
6,24  
2.272.914  
481.048  
29,2  
6,18  
DN thuộc hãng hội viên hiệp hội  
DN thuộc hãng đại diện liên lạc  
DNKT độc lập  
27.547  
0,54  
20,62  
100  
34.060  
0,61  
22,25  
100  
36.945  
0,57  
22,79  
100  
40.477  
0,52  
22,74  
100  
1.057.937  
5.129.565  
1.242.459  
5.583.686  
1.476.956  
6.481.571  
1.770.405  
7.783.952  
Chênh lệch doanh thu (1) và (2)  
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Báo cáo tổng kết của VACPA  
DNKT 100% vốn đầu tư nước ngoài  
là KPMG có doanh thu thấp nhất trong  
nhóm Big Four (496 tỷ đồng, bằng ½  
doanh thu 3 DNKT còn lại) là do KPMG  
đã thành lập công ty tư vấn thuế riêng, do  
đó trong báo cáo của KPMG không bao  
gồm số liệu doanh thu dịch vụ phi kiểm  
toán. Vì vậy nếu KPMG hợp nhất số liệu  
thì tỷ trọng doanh thu của DNKT nước  
ngoài cao hơn rất nhiều với thống kê của  
Bộ Tài chính, tỷ trọng doanh thu của các  
DNKT Việt Nam sẽ giảm.  
4.2. Đánh giá NLCT của các DNKT  
dựa trên hiệu quả hoạt động,  
Cách đánh giá thể hiện ở hai khía  
cạnh là doanh thu bình quân trên DNKT  
và năng suất bình quân trên KTV, thực tế  
đã có sự chênh lệch đáng kể giữa Doanh  
thu và Năng suất giữa 2 nhóm:  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 44, tháng 01 năm 2021  
11  
Bảng 5. So sánh doanh thu bình quân trên tổng số DNKT của DNKT  
nước ngoài và DNKT Việt Nam  
Đơn vị tính: Triệu đồng  
Năm  
2015  
2016  
2017  
2018  
Phân nhóm DNKT  
Doanh thu bình quân toàn ngành  
1. DNKT Nước ngoài  
DN 100% vốn nước ngoài  
DN có vốn đầu tư nước ngoài  
2. DNKT Việt Nam  
DN thuộc Hãng thành viên  
DN thuộc Hãng hội viên hiệp hội  
DN thuộc Hãng đại diện liên lạc  
DNKT độc lập  
36.124  
234.827  
701.631  
34.768  
21.070  
92.003  
26.314  
27.547  
10.172  
36.735  
235.288  
608.062  
142.094  
23.077  
106.835  
29.314  
34.060  
10.020  
39.047  
248.910  
692.998  
150.224  
24.792  
114.076  
31.112  
44.735  
292.646  
764.903  
187.700  
28.005  
142.057  
37.004  
40.477  
13.311  
36.945  
11.816  
Chênh lệch Doanh thu bình quân  
DNKT nước ngoài và Việt Nam  
213.757  
212.210  
224.118  
264.641  
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Báo cáo tổng kết của VACPA  
Mặc dù số lượng DNKT Việt Nam  
lượng kiểm toán tốt, tăng khả năng minh  
bạch của báo cáo, và tạo dựng hình ảnh  
cho doanh nghiệp được kiểm toán. Các  
DNKT Việt Nam tuy nhiều về số lượng  
nhưng hiệu quả hoạt động lại không cao.  
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số DNKT,  
gấp 12-15 lần các DNKT nước ngoài  
nhưng doanh thu bình quân của 1 DNKT  
nước ngoài lại gấp 9 - 13 lần DNKT Việt  
Nam. Theo nhận định của các chuyên gia,  
phần lớn các DNKT nước ngoài được  
khách hàng lựa chọn bởi các công ty này  
được đánh giá là các đơn vị có uy tín, chất  
Đối với hiệu quả hoạt động dựa trên  
khía cạnh năng suất làm việc bình quân/  
KTV, tiêu chí này được tính bằng Doanh  
thu trên Số lượng KTV hành nghề.  
Bảng 6. So sánh năng suất bình quân trên KTV của DNKT nước ngoài  
và DNKT Việt Nam  
Đơn vị tính: Triệu đồng  
Năm  
2015 2016 2017  
2018  
Loại hình doanh nghiệp  
Năng suất bình quân Ngành kiểm toán  
3.002 3.376 3.327 3.821  
8.795 7.765 10.103 10.912  
1.929 2.391 2.232 2.620  
1. Năng suất bình quân DNKT Nước ngoài  
2. Năng suất bình quân DNKT Việt Nam  
Chênh lệch Năng suất bình quân DNKT nước ngoài và  
Việt Nam  
6.866 5.374 7.871 8.292  
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Báo cáo tổng kết của VACPA giai đoạn 2015-2019  
Qua bảng phân tích trên, bình quân  
1 KTV tạo ra từ 3-3,8 tỷ đồng/ năm cho  
DNKT. Tuy nhiên năng suất này chênh  
lệch khá đáng kể giữa nhóm các DNKT  
nước ngoài so với các DNKT Việt Nam  
(gấp 3-6 lần), cho thấy phần nào NLCT  
giữa nhóm các DNKT trong nước so với  
các DNKT nước ngoài rất chênh lệch.  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
12  
4.3. Đánh giá NLCT của các DNKT dựa  
trên số lượng và chất lượng khách hàng  
Hơn nữa, để có số liệu về năng suất bình  
quân của các DNKT Việt Nam như trên thì  
thực chất là nhờ có Deloitte và các DNKT  
nội đầu đàn khác như AASC, An Việt,  
A&C,... với năng suất bình quân 1 KTV  
rất cao như Deloitte là gần 19 tỷ đồng.  
Đây là tiêu chí cũng được sử dụng  
để đánh giá NLCT bởi lẽ để khách  
hàng chấp nhận và sử dụng dịch vụ lâu  
dài, DNKT phải thực hiện nhiều chính  
sách kinh doanh nhằm thu hút, duy trì  
khách hàng thường niên, tiềm năng.  
Năm 2018, thống kê từ 174 DNKT thì  
có 52.366 khách hàng, theo biểu đồ 25  
DNKT có số lượng khách hàng lớn nhất,  
thì chỉ riêng 3 DNKT nước ngoài đã có  
số lượng khách hàng là 6.412, chiếm  
12,2%; 22 DNKT trong nước có 20.297  
khách hàng chiếm 38,7%. Như vậy 149  
DNKT còn lại (8 DNKT nước ngoài và  
151 DNKT trong nước có tỷ trọng khách  
hàng là 49,1%. Lưu ý số lượng khách  
hàng của 3 DNKT nước ngoài chưa tính  
đến lượng khách hàng sử dụng dịch vụ  
tư vấn thuế của KPMG do không được  
hợp nhất số liệu.  
Nếu tính năng suất bình quân trên  
tổng số nhân viên chuyên nghiệp thì các  
DNKT nước ngoài vẫn ưu thế ở bảng xếp  
hạng các DNKT qua các năm từ 2015-  
2019. Xét theo hiệu quả doanh thu trên  
nhân viên, ngoại trừ số liệu bị nhiễu bởi  
các DNKT siêu nhỏ (dưới 10 nhân viên)  
thì đứng đầu vẫn là Big Four. Cụ thể: 1  
nhân viên trong năm 2018 đem lại cho  
PwC 1.378 triệu đồng doanh thu, con số  
này tại Deloitte là 1.297 triệu đồng, E&Y  
là 1.076 triệu đồng và KPMG là 945  
triệu đồng [10]. Trong top 20 DNKT có  
doanh thu/ 1 nhân viên cao nhất thì đã có  
3 DNKT nước ngoài trong nhóm đầu là  
PWC, EY, KPMG, chưa kể Deloitte và  
Grant Thornton Việt Nam tiền thân trước  
kia cũng là các DNKT liên doanh.  
Biểu đồ 1. Thống kê 25 DNKT có số lượng khách hàng lớn nhất năm 2018  
Nguồn: tổng hợp từ Báo cáo tổng kết hoạt động của Bộ Tài chính  
Chất lượng khách hàng của từng  
DNKT được nhận xét một cách tương  
quan dựa trên chỉ số doanh thu trên một  
khách hàng (bảng 7). Tổng số khách hàng  
năm 2018 là 52.366, tăng 7,59% so với  
48.672 khách hàng của năm 2017. Trung  
bình doanh thu trên 1 khách hàng của các  
DNKT năm 2018 là 148 triệu đồng (năm  
2017 là 133 triệu đồng). Giá trị trung vị  
chỉ tiêu này theo thống kê là 70 triệu đồng.  
Trong bảng thống kê thì trong 10 DNKT  
dẫn đầu về doanh thu/ khách hàng, có tới  
4 DNKT nước ngoài (tổng 11 DNKT nước  
ngoài), điều này cũng thể hiện NLCT của  
các DNKT nước ngoài chênh lệch khá  
nhiền với DNKT Việt Nam.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 44, tháng 01 năm 2021  
13  
Bảng 7. 20 DNTK có số lượng khách hàng lớn nhất năm 2018 [10]  
4.4. Đánh giá NLCT của các DNKT dựa  
trên chất lượng dịch vụ cung cấp  
số 157/2014/TT-BTC được ban hành ngày  
23/10/2014, công việc kiểm soát chất  
lượng từ bên ngoài do Vụ chế độ kế toán  
kiểm toán (Bộ Tài chính) và UBCKNN  
chủ trì, VACPA phối hợp với Bộ tài chính  
và UBCKNN trong việc kiểm soát CLDV  
kiểm toán. Đến năm 2017, Cục giám sát,  
quản lý Kế toán và kiểm toán chủ trì việc  
kiểm tra thay cho Vụ chế độ kế toán, kiểm  
toán. Đánh giá của Bộ Tài chính qua kết  
quả kiểm tra hàng năm các DNKT, tỷ  
trọng các DNKT chưa đạt yêu cầu có xu  
hướng tăng:  
Chất lượng dịch vụ của DNKT  
thường dao động trong một khoảng rất  
rộng, tuỳ thuộc vào người cung cấp, thời  
gian và địa điểm cung cấp. Dịch vụ của  
các công ty kiểm toán khác nhau thì chất  
lượng có thể không giống nhau, phụ thuộc  
rất lớn vào khả năng tổ chức, trình độ  
chuyên môn và uy tín của công ty kiểm  
toán trên thị trường. Tác giả đề cập tới  
tiêu chí này thông qua đánh giá của Bộ Tài  
chính hàng năm. Năm 2014, khi Thông tư  
Bảng 8. Tình hình chất lượng dịch vụ kiểm toán của các DNKT qua kết quả kiểm tra hàng năm  
Năm  
Phân loại  
2014  
2015  
SL  
Kết quả kiểm tra của Bộ Tài chính  
2016  
2017  
2018  
2019  
SL  
SL  
SL  
SL  
SL  
%
%
%
%
%
%
Tốt  
1
1
14 %  
100%  
2
1
1
8%  
50%  
50%  
68%  
DNKT NN  
DNKT VN  
Đạt yêu cầu  
3
43 %  
5
56% 12 80%  
15  
68%  
17  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
14  
DNKT NN  
DNKT VN  
Chưa đạt  
1
4
4
20%  
1
8,3%  
2
13,3%  
1
5,9%  
94,1%  
20%  
3
3
100%  
43 %  
80% 11 91,7% 13 86,7% 16  
44 %  
3
20%  
5
23%  
5
DNKT NN  
DNKT VN  
Yếu kém  
3
100%  
3
100%  
3
100%  
5
1
100%  
4,5%  
6
1
100%  
4%  
DNKT NN  
DNKT VN  
Không ký BC  
DNKT NN  
DNKT VN  
Tổng cộng  
1
1
100%  
4,5%  
1
100%  
1
100%  
7
100 %  
9
100% 15 100% 22 100% 25  
100%  
Kết quả kiểm tra của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước  
Tốt  
DNKT NN  
DNKT VN  
Đạt yêu cầu  
DNKT NN  
DNKT VN  
Chưa đạt  
2
1
1
7
20%  
50%  
50%  
70%  
3
1
2
6
33,3%  
33,3%  
66,7%  
66,7%  
1
1
14,3%  
100%  
2
1
1
8
1
7
20%  
50%  
50%  
80%  
12,5%  
87,5%  
5
100%  
6
2
4
100%  
33,3%  
66,7%  
6
1
5
85,7%  
16,7%  
83,3%  
5
100%  
7
1
100%  
10%  
6
100%  
DNKT NN  
DNKT VN  
Tổng cộng  
1
100%  
5
100%  
6
100% 10 100%  
9
100%  
7
100% 10 100%  
DNKT NN: DNKT nước ngoài; DNKT VN: DNKT Việt Nam  
Nguồn: Tác giả tổng hợp  
Qua kết quả kiểm tra hàng năm thì các  
DNKT nước ngoài đều tốt hoặc đạt yêu  
cầu, còn các DNKT có chất lượng dịch vụ  
yếu kém hoặc không đạt yêu cầu là các  
DNKT Việt Nam. Chất lượng dịch vụ của  
các DNKT trong nước còn bị hạn chế so  
với DNKT nước ngoài là do những hạn  
chế về năng lực tài chính, cơ sở vật chất  
kỹ thuật, công nghệ và đội ngũ KTV. Do  
đó, việc cạnh tranh bằng chất lượng dịch  
vụ chưa được coi trọng đối với các DNKT  
trong nước, mà thay vào đó, sự cạnh tranh  
bằng giá phí đã và đang diễn ra quyết liệt.  
càng có ảnh hưởng (Phan Thanh Hải,  
2018). Theo thống kê từ VACPA, thị phần  
của các DNKT chia làm 2 phần, 55-59%  
thuộc về các khách thể bắt buộc (các đơn  
vị phải sử dụng dịch vụ của DNKT độc  
lập hàng năm theo luật định, chủ yếu là  
DN có vốn đầu tư nước ngoài, đơn vị có  
lợi ích công chúng), còn lại thuộc về các  
khách thể tự nguyện. Phần lớn khách thể  
có xu hướng sử dụng dịch vụ của DNKT  
nước ngoài và các DNKT là thành viên  
của các hãng kiểm toán quốc tế. Doanh  
thu của các DNKT nước ngoài (10-  
11 DNKT) và các DNKT Việt Nam là  
thành viên của các hãng kiểm toán quốc  
tế (25-30 DNKT) hàng năm chiếm tỷ lệ  
bình quân lần lượt là 40%-45% và 30%-  
35% tỷ lệ toàn ngành. Như vậy thị phần  
kiểm toán nước ta có chênh lệch rất rõ  
4.5. Đánh giá NLCT của các DNKT dựa  
trên thị phần  
Tiêu chí thị phần DNKT nắm giữ  
cũng là một trong nhiều tiêu chí thể hiện  
NLCT. Việc chiếm lĩnh thị trường càng  
lớn chứng tỏ sức cạnh tranh của DNKT  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 44, tháng 01 năm 2021  
15  
rệt, NLCT của các DNKT nội địa không  
phải là thành viên hãng kiểm toán quốc  
tế (130-150 DNKT) rất thấp, chính đây  
cũng là nguyên nhân khiến các DNKT  
này muốn tồn tại thường có các biện pháp  
cạnh tranh không lành mạnh, tiêu biểu là  
cạnh tranh bằng giá phí kiểm toán quá  
thấp, có khi chỉ 10 triệu đồng/ cuộc kiểm  
toán báo cáo tài chính, ảnh hưởng lớn tới  
chất lượng dịch vụ cung cấp.  
hãng kiểm toán quốc tế. Theo quy định,  
tổ chức kiểm toán được chấp thuận thực  
hiện kiểm toán cho đơn vị có lợi ích công  
chúng phải có đủ 9 điều kiện về điều kiện  
kinh doanh dịch vụ kiểm toán; vốn điều lệ;  
số lượng KTV hành nghề; thời gian hoạt  
động kiểm toán,… Số lượng DNKT nước  
ngoài chiếm tỷ trọng khá nhỏ so với các  
DNKT trong nước, tuy nhiên theo thống  
kê cho thấy, tỷ lệ DNKT Việt Nam đủ điều  
kiện để kiểm toán đơn vị có lợi ích công  
chúng là khá thấp. Điều này cũng cho thấy  
NLCT của các DNKT nội trong hoạt động  
này chưa cao.  
Thị phần các DNKT cung cấp dịch vụ  
cho các đơn vị có lợi ích công chúng cũng  
vẫn chỉ tập trung ở các DNKT nước ngoài  
và các DNKT Việt Nam là thành viên của  
Bảng 9: So sánh số lượng DNKT nước ngoài và DNKT Việt Nam được UBCKNN  
chấp thuận kiểm toán đơn vị có lợi ích công chúng giai đoạn 2015-2019  
Năm  
Phân loại DNKT  
DNKT NN  
% trên tổng DNKT NN  
DNKT VN  
2015  
Số DN  
6
60%  
24  
2016  
Số DN  
2017  
Số DN  
2018  
Số DN  
2019  
%
20  
%
%
%
20,8  
%
5
50%  
23  
17,9  
5
18,5  
5
5
14,7  
85,3  
100  
45,4%  
22  
45,4%  
19  
45,4%  
29  
80  
82,1  
81,5  
79,2  
% trên tổng DNKT VN  
Tổng  
18,9%  
30  
16,2%  
28  
11,7%  
24  
16,2%  
34  
100  
100  
27  
100  
100  
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ số liệu của UBCKNN giai đoạn 2015-2019  
Số lượng các DNKT trong nước được  
Việt Nam và Quốc tế, do đó các công ty  
này phải chuyển sang sử dụng dịch vụ  
kiểm toán của các DNKT có chuyên môn  
tốt về chuẩn mực kế toán quốc tế. Do các  
DNKT nước ngoài trang bị, cập nhật và tập  
huấn thường xuyên cho KTV về các chuẩn  
mực kế toán quốc tế nên có lợi thế hơn các  
DNKT trong nước về việc kiểm toán theo  
chuẩn mực kế toán quốc tế.  
chấp nhận kiểm toán đơn vị có lợi ích công  
chúng chủ yếu giảm, nguyên nhân do tiêu  
chuẩn, điều kiện để kiểm toán các đơn vị  
này được nâng lên rất nhiều từ năm 2015  
và nhiều DNKT trong nước không đáp ứng  
được. Trong khi đó, các DNKT nước ngoài  
vẫn nằm trong danh sách các DNKT được  
chấp thuận. Hơn nữa, nhiều công ty niêm  
yết khi phát triển có xu hướng thay đổi dịch  
vụ kiểm toán từ DNKT trong nước sang  
nhóm Big Four (3/4 là DNKT nước ngoài,  
1 DNKT trong nước có tiền thân cũng là  
liên doanh). Nguyên nhân một phần là do  
yêu cầu các công ty niêm yết phải lập báo  
cáo tài chính theo cả chuẩn mực kế toán  
4.6. Đánh giá NLCT của các DNKT dựa  
trên sự đa dạng của các dịch vụ cung cấp  
Tiêu chí này thể hiện DNKT có đủ  
điều kiện và khả năng đáp ứng nhu cầu  
của khách hàng về nhiều loại dịch vụ cần  
thiết (kiểm toán và phi kiểm toán). Đồng  
thời tiêu chí này còn thể hiện khả năng  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
16  
đáp ứng nhu cầu dịch vụ khách hàng một  
cách đa dạng, như các ngành, các lĩnh vực,  
các loại hình kinh doanh khác nhau. Nếu  
một DNKT chỉ cung cấp được một vài loại  
dịch vụ kiểm toán hoặc chỉ đáp ứng được  
nhu cầu của khách hàng ở một vài loại  
hình doanh nghiệp thì chắc chắn khi cạnh  
tranh với các công ty khác sẽ gặp nhiều  
khó khăn và không có ưu thế.  
Biểu đồ 2: Tỷ trọng doanh thu các loại dịch vụ kiểm toán và phi kiểm toán năm 2018  
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ báo cáo của VACPA  
Ở Việt Nam, các dịch vụ và sản phẩm  
mà DNKT cung cấp cho khách hàng chưa  
đa dạng, doanh thu của các DNKT chủ yếu  
vẫn từ cung cấp dịch vụ kiểm toán (kiểm  
toán tài chính, kiểm toán báo cáo quyết  
toán dự án hoàn thành, soát xét BCTC).  
Các dịch vụ phi kiểm toán là dịch vụ kế  
toán, tư vấn thuế, thẩm định giá, dịch vụ  
khác. Tỷ lệ dịch vụ kiểm toán/phi kiểm  
toán năm 2018 là 61%/39%, so sánh với  
năm 2017, 2016đềulà 64%/36%. Như vậy,  
các DNKT cũng đang từng bước chuyển  
dịch dần sang dịch vụ phi kiểm toán với  
mức tỷ suất lợi nhuận cao hơn, trong đó  
doanh thu của các dịch vụ phi kiểm toán  
thường từ các DNKT nước ngoài.  
Biểu đồ 3: So sánh top 10 DNKT nước ngoài và Việt Nam có doanh thu lớn nhất năm 2019  
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ báo cáo của VACPA  
Có thể thấy các DNKT nước ngoài dù  
số lượng rất ít nhưng lại dẫn đầu và chiếm  
tỷ trọng doanh thu các loại dịch vụ chính  
nhiều hơn (trừ kiểm toán báo cáo quyết  
toán đầu tư hoàn thành). Trong đó với dịch  
vụ tư vấn thuế, KPMG có doanh thu ở lĩnh  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 44, tháng 01 năm 2021  
17  
vực này rất lớn nhưng không báo cáo dữ  
liệu chung với các dịch vụ kiểm toán, do  
đó, thực tế số liệu thực về doanh thu tư  
vấn thuế của các DNKT nước ngoài lớn  
gấp 1,5 lần số liệu báo cáo.  
ảnh hưởng trực tiếp đến NLCT, mà trước  
hết là cần không ngừng nâng cao chất  
lượng cung cấp dịch vụ kiểm toán cho  
khách hàng, hướng đến mở rộng sang thị  
trường kiểm toán khu vựcASEAN và quốc  
tế. Để làm được điều này thì các DNKT  
Việt Nam cần nhận thức được tầm quan  
trọng của chất lượng dịch vụ, nhất là giai  
đoạn hội nhập quốc tế với nhiều cơ hội  
cũng như thách thức lớn. Sắp tới Việt Nam  
sẽ áp dụng IFRS, DNKT Việt Nam có kế  
hoạch xây dựng, thực hiện đầy đủ và tuân  
thủ nghiêm ngặt quy trình kiểm toán theo  
các Chuẩn mực kiểm toán, cập nhật IFRS.  
Đặc biệt với các DNKT là thành viên của  
hãng kiểm toán quốc tế, hội viên hiệp hội  
được tiếp cận nhiều với các phương pháp,  
kỹ thuật, chuẩn mực theo thông lệ quốc  
tế cần phải tiên phong trong việc cập nhật  
và cần xây dựng được hệ thống kiểm soát  
chất lượng phù hợp cho doanh nghiệp  
mình bên cạnh việc kiểm soát chất lượng  
từ bên ngoài của VACPA; Cục giám sát,  
quản lý kế toán và kiểm toán; UBCKNN  
đối với dịch vụ cung cấp của DNKT và  
KTV. Với các DNKT chưa phải thành viên  
hãng hay hội viên hiệp hội, nên chú trọng  
và hướng đến việc đầu tư chuyên nghiệp,  
chuyên môn hóa, ứng dụng công nghệ  
được chuyển giao từ các DNKT lớn trong  
nước khi liên doanh, liên kết, sáp nhập với  
các công ty kiểm toán lớn, từ đó có cơ hội  
để trở thành thành viên của các hãng kiểm  
toán quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi để  
nâng cao chất lượng hoạt động.  
Ngoài các tiêu chí trên, còn các tiêu  
chí để đánh giá NLCT về giá phí kiểm  
toán, chiến lược kinh doanh, năng lực  
quản lý, khả năng xây dựng mối quan  
hệ với khách hàng,…không đề cập trong  
phạm vi nghiên cứu này. Như vậy thông  
qua kết quả khảo sát giai đoạn 2015-2019,  
NLCT của các DNKT nội, đặc biệt là các  
DNKT chưa phải thành viên hãng kiểm  
toán quốc tế là khá thấp. Để có thể đối mặt  
với các thách thức trong xu thế toàn cầu  
hóa hiện nay, bản thân các DNKT này cần  
phải có chiến lược, kế hoạch dài hạn nhằm  
nâng cao NLCT.  
5. GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG  
LỰC CẠNH TRANH CỦACÁC DNKT  
VIỆT NAM  
Trong năm 2020, sự bùng phát dịch  
Covid -19 đã gây ra nhiều thách thức cho  
các nên kinh tế, trong đó có các DNKT và  
các khách thể kiểm toán, bao gồm nguồn  
nhân lực, hoạt động sản xuất kinh doanh.  
Các DNKT nếu không có sự thay đổi để  
thích ứng với xu hướng toàn cầu hóa cũng  
như sự thay đổi môi trường kinh doanh do  
các yếu tố tác động từ dịch bệnh nhằm góp  
phần tăng khả năng cạnh tranh đi đôi với  
nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp.  
5.1. Về phía các DNKT  
Hai là, nâng cao chất lượng nguồn  
nhân lực của DNKT. DNKT Việt Nam  
cần chú trọng chọn và giữ nhân viên có  
trình độ chuyên môn cao, tư cách đạo đức  
tốt, đặc biệt thu hút nhân lực trình độ cao  
người nước ngoài có chứng chỉ quốc tế  
Một là, nâng cao chất lượng dịch vụ  
kiểm toán và phi kiểm toán, bởi đây là một  
các yếu tố quan trọng thu hút khách hàng  
sử dụng dịch vụ của DNKT. Để nâng cao  
NLCT, các DNKT cần chú trọng hơn nữa  
việc tự hoàn thiện và nâng cao các yếu tố  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
18  
để hạn chế chi phí đào tạo, có chính sách  
thích hợp để giúp KTV cập nhật thông tin,  
kiến thức. Ban lãnh đạo DNKT cần quan  
tâm nhiều hơn nữa tới đời sống của nhân  
viên, các điều kiện vật chất và tinh thần  
cho nhân viên. Các DNKT cần hợp tác  
với cơ sở đào tạo kế toán - kiểm toán theo  
định hướng nghề nghiệp cũng như sự hỗ  
trợ của VACPA và các DNKT lớn trong  
việc tổ chức các lớp cập nhật kiến thức  
hàng năm.  
việt, rút ngắn thời gian kiểm toán từ đó  
nâng cao chất lượng kiểm toán, tạo sự tin  
tưởng từ phía khách hàng. Bên cạnh đó,  
DNKT cũng cần xây dựng mối quan hệ  
tốt các cơ quan quản lý Nhà nước về kiểm  
toán, giúp nhanh chóng nắm bắt được sự  
thay đổi của quy định pháp lý, cũng như  
có nhiều cơ hội tiếp cận thông tin về các  
chính sách hỗ trợ của chính phủ trong lĩnh  
vực kế toán, kiểm toán.  
Năm là, xây dựng và phát triển chiến  
lược kinh doanh phù hợp. DNKT cần đầu  
tư, xây dựng và không ngừng hoàn thiện  
chiến lược kinh doanh dài hạn của doanh  
nghiệp thông qua việc nghiên cứu thị trường  
cung cấp dịch vụ, đa dạng hóa các sản phẩm  
dịch vụ cung cấp trên nền tảng duy trì ổn  
định và phát triển mạnh mẽ về chất lượng  
của đội ngũ KTV, nhà quản lý với đặc thù  
của doanh nghiệp. DNKT cần chú trọng xác  
định các thị phần kiểm toán phù hợp như  
kiểm toán BCTC của các doanh nghiệp mà  
công ty đang hướng tới (kiểm toán lĩnh vực  
sản xuất công nghiệp có quy mô vừa và nhỏ,  
thương mại, dịch vụ,…) hay kiểm toán báo  
cáo quyết toán, tư vấn để có kế hoạch xây  
dựng, phát triển đội ngũ KTV chuyên sâu  
trong từng lĩnh vực.  
Ba là, nâng cao năng lực quản lý của  
ban giám đốc/ ban quản trị DNKT. Ban  
giám đốc DNKT cần thường xuyên cập  
nhật các kiến thức mới về kế toán, kiểm  
toán cũng như các kỹ năng cần thiết của  
một người lãnh đạo, nâng cao khả năng  
làm việc và giao dịch quốc tế và xử lý sự  
khác biệt về văn hoá trong kinh doanh;  
thông lệ và luật pháp quốc tế trong lĩnh  
vực kiểm toán.  
Bốn là, chủ động trong việc phát triển  
các mối quan hệ kinh doanh trong lĩnh vực  
kiểm toán một cách bền vững. Các DNKT  
cần chủ động trong việc tìm kiếm khách  
hàng, nhất là với các DNKT chưa phải  
thành viên các hãng, hiệp hội kiểm toán  
quốc tế cần xây dựng lộ trình để đạt tiêu  
chuẩn tham gia vào các hiệp hội; liên kết  
với các hãng kiểm toán quốc tế danh tiếng  
nhằm tích lũy kinh nghiệm kinh doanh  
và xây dựng chiến lược, định hướng phát  
triển. Trong tiến trình hội nhập quốc tế về  
kiểm toán, việc gia nhập làm thành viên/  
trở thành hãng đại diện liên lạc của Hãng  
kiểm toán quốc tế là một xu thế tất yếu để  
DNKT có thể tiếp cận, học hỏi và được  
chuyển giao các công nghệ cao trong kiểm  
toán… Điều này sẽ giúp các DNKT có thể  
nắm bắt được hệ phương pháp luận tiên  
tiến, sử dụng các phần mềm kiểm toán ưu  
Sáu là, phát triển thương hiệu và văn  
hóa kinh doanh của DNKT. DNKT cần chú  
trọng đến việc tạo uy tín trên thị trường  
kiểm toán, cạnh tranh lành mạnh không dựa  
trên việc hạ quá thấp giá phí kiểm toán, có  
trách nhiệm với xã hội, với người sử dụng  
báo cáo kiểm toán, tạo môi trường làm việc  
hợp tác thân thiện, cởi mở.  
Ngoài ra các DNKT cần có sự thay đổi  
để thích ứng với tình hình hiện nay trong  
trường hợp dịch bệnh có dấu hiệu gia tăng,  
bắt buộc có sự hạn chế di chuyển giữa các  
quốc gia hay giữa các địa phương dẫn tới  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 44, tháng 01 năm 2021  
19  
việc thiếu hụt các chuyên gia quốc tế, khó  
khăn trong tiếp cận trực tiếp khách hàng.  
Khi đó DNKT cần tính toán tới việc điều  
chỉnh phương thức làm việc với khách hàng,  
linh hoạt hơn trong việc tổ chức các hội thảo,  
cuộc họp trực tuyến với các KTV quốc tế,  
các chuyên gia từ công ty mẹ ở nước ngoài,  
ứng dụng công nghệ thông tin rộng rãi hơn  
trong việc tiếp cận phương pháp, kỹ thuật  
kiểm toán mới.  
KTV tại các cơ sở đào tạo cần có sự góp ý,  
đánh giá từ hiệp hội nghề nghiệp, từ chính  
các DNKT nhằm đáp ứng yêu cầu của  
người sử dụng lao động cũng như hướng  
tới sự công nhận của các nước trong khu  
vực và quốc tế.  
Nghiên cứu ban hành Luật CPA, các  
văn bản dưới luật quy định về việc thực  
hiện các cam kết dịch vụ kiểm toán trong  
các tổ chức quốc tế, khu vực đồng thời có  
các quy định ưu đãi về thủ tục xuất cảnh,  
nhập cảnh, cư trú và cấp phép đối với các  
chuyên gia kế toán, kiểm toán cung cấp  
các dịch vụ kiểm toán xuyên quốc gia.  
5.2. Về phía KTV  
Cần nâng cao nhận thức và có ý thức  
tự giác trong việc đảm bảo tuân thủ các  
chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức nghề  
nghiệp, có thái độ chuyên nghiệp và sẵn  
sàng thích nghi với sự thay đổi của môi  
trường kinh doanh trong nước và quốc tế.  
VACPA cần tăng cường và mở rộng  
quan hệ hợp tác với các hiệp hội nghề  
nghiệp khu vực và thế giới; trước hết là  
thỏa thuận thừa nhận nghề kế toán, kiểm  
toán trong khu vực AEC.  
Nâng cao kinh nghiệm, chuyên sâu  
về lĩnh vực kiểm toán, phi kiểm toán mà  
DNKT đang cung cấp dịch vụ. Năng lực  
đối với KTV không chỉ dừng lại ở trình độ  
hiểu biết và năng lực chuyên môn nghiệp  
vụ, mà còn phải có kỹ năng tổ chức, quản  
trị thông tin, kỹ năng phân tích đánh giá,  
dự báo, năng lực tư vấn, kỹ năng khai thác,  
vận hành mạng, sử dụng thông tin và bảo  
mật thông tin, đặc biệt là thông tin kinh tế,  
tài chính do kế toán cung cấp...  
Bộ Tài chính và VACPA cần tổ chức  
nhiều hơn các buổi tọa đàm, hội thảo nhằm  
giúp nhà quản lý của DNKT có điều kiện  
tham gia, trao đổi và học hỏi kinh nghiệm  
nhằm nâng cao NLCT.  
6. KẾT LUẬN  
Trong môi trường cạnh tranh hiện  
nay, DNKT cạnh tranh không chỉ bằng  
sự khác biệt về nguồn lực mà tập trung  
vào khả năng phối hợp và sử dụng  
nguồn lực một cách hiệu quả nhằm đạt  
mục tiêu chiến lược của mình. Trên đây  
là nghiên cứu đánh giá về NLCT của  
DNKT trên góc độ về nguồn lực nội tại,  
tác giả sẽ phát triển các nghiên cứu thực  
nghiệm chuyên sâu hơn về NLCT trong  
thời gian tiếp theo.  
Không ngừng nâng cao trình độ, năng  
lực chuyên môn để đạt các chứng chỉ quốc  
tế: CPAÚc,ACCA, CMA,… bởi đây được  
coi là ngôn ngữ quốc tế của KTV; tự giác  
tham gia các khóa cập nhật kiến thức cho  
KTV với thái độ cầu thị, nghiêm túc, tránh  
đối phó để tính giờ cập nhật.  
5.3. Về phía Nhà nước  
Nhà nước cần đầu tư hơn nữa và hỗ  
trợ các cơ sở đào tạo và khuyến khích liên  
kết đào tạo với các Hiệp hội nghề nghiệp  
uy tín trên thế giới như ACCA, ICAEW,  
CPA Australia,... Chương trình đào tạo  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Barney J (1991), Firm Resources and  
Sustained Competitive Advantage”, Journal of  
Management, Vol 17, No 1, p.99120.  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
20  
2. Phan Văn Dũng (2015), “Các nhân tố tác  
động đến chất lượng kiểm toán của các doanh  
nghiệp kiểm toán Việt Nam theo định hướng tăng  
cường năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội  
nhập kinh tế”, Luận án tiến sĩ kinh tế, ĐH Kinh tế  
TP Hồ Chí Minh.  
Strategic Regulation in the Dutch Audit Industry”,  
Strategic Management Journal, 549–569.  
6. Teece, D.J., Pisano, Gary, Shuen, Amy  
(1997), “Dynamic Capabilityes and Strategic  
Management”, Strategic Management Journal  
(John Wiley & Sons) Vol 18 (7), p. 509–533.  
3. Phan Thanh Hai (2018), “Compatitiveness  
of Vietnamese external audit firms: reality, strategy  
for improving in global integration conditions”,  
International Journal of Publication and Social  
Studies, Vol 3, No. 1, 1-9  
7. Thorne, F. (2004). Measuring the  
Competitiveness of Irish Agriculture (1996-2000).  
Dublin: Rural Economy Research Centre  
8. Đoàn Xuân Tiên (2006). “Nâng cao  
năng lực cạnh tranh công ty kiểm toán Việt  
Nam”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp học viện,  
Học viện Tài chính Hà Nội.  
4. Lian Kee, P., Adeline, H. L., & Patel,  
C. (2011)., “Competitive Advantages of Audit  
Firms in the Era of International Financial”,  
2010 International Conference on E-business,  
Management and Economics (pp. 308-313). Hong  
Kong: IACSIT Press.  
9. VACPA (2014-2018), Báo cáo tổng kết hoạt  
động và phương hướng hoạt động các năm 2014-  
2018 của kiểm toán độc lập, Hà Nội.  
10. CPA.VN (2019), https://cpa.vn/chu-de/  
bang-xep-hang-cac-cong-ty-kiem-toan-tai-viet-  
nam-nam-2018.50/, ngày đăng 11/06/2019.  
5. Maijoor, S., & Witteloostuijn, A. (1996),  
“An empirical test of the resource-based theory:  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 44, tháng 01 năm 2021  
21  
pdf 17 trang yennguyen 15740 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam trong xu hướng toàn cầu của ngành kiểm toán", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnang_cao_nang_luc_canh_tranh_cua_cac_doanh_nghiep_kiem_toan.pdf