Một số kĩ năng sống cần giáo dục cho sinh viên Học viện Chính trị Công an Nhân dân

VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 433 (Kì 1 - 7/2018), tr 27-31; 49  
MỘT SỐ KĨ NĂNG SỐNG CẦN GIÁO DỤC  
CHO SINH VIÊN HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ CÔNG AN NHÂN DÂN  
Vũ Thị Hương Lý - Học viện Chính trị Công an nhân dân  
Ngày nhận bài: 07/03/2018; ngày sửa chữa: 12/03/2018; ngày duyệt đăng: 27/04/2018.  
Abstract: Life skills education is an important content to train skills and improve knowledge for  
cadets at People’s Public Security Political Academy with aim to meet the requirements of building  
a revolutionary, regular, elite and modern people’s public security force. Based on the  
characteristics in learning and limitations on life skills of students at the People’s Public Security  
Political Academy, the article points out some key life skills for students that must be trained in  
current period.  
Keywords: Life skills, education, students, public security, People’s Public Security Political  
Academy.  
Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến  
thức, hình thành thái độ và kĩ năng. Theo Tổ chức văn  
hoá, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO),  
KNS gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là: Học để biết  
(learning to know), gồm các kĩ năng tư duy như: tư duy  
phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn  
đề, nhận thức được hậu quả...; Học để làm (Learning to  
do) gồm kĩ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ  
như: kĩ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm,...; Học  
để khẳng định mình (Learning to be) gồm các kĩ năng cá  
nhân như: ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc,  
tự nhận thức...; Học để chung sống với người khác  
(Learning to live together) gồm các kĩ năng xã hội như:  
giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc  
theo nhóm, thể hiện sự cảm thông [1; tr 3].  
Từ những khái niệm trên đây có thể thấy, KNS bao  
gồm một loạt các kĩ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống  
hàng ngày của con người. Bản chất của KNS là kĩ năng  
tự quản lí bản thân và kĩ năng xã hội cần thiết để cá nhân  
tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả; nói  
cách khác “KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi  
người, là khả năng ứng xử phù hợp với những người  
khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các  
tình huống của cuộc sống” [1; tr 3].  
1. Mở đầu  
Sinh viên (SV) Học viện Chính trị Công an nhân dân  
(CAND) bên cạnh những đặc điểm chung của SV Việt  
Nam như giàu nghị lực, ước mơ, hoài bão thì cần có  
những đặc điểm riêng đáp ứng những tiêu chuẩn về chính  
trị, tư tưởng, thể lực, trí lực của Bộ Công an. SV Học viện  
Chính trị CAND bao gồm những đối tượng: Là học sinh  
(HS) đã tốt nghiệp trung học phổ thông được trúng tuyển  
trong kì thi tuyển sinh quốc gia của Bộ GD-ĐT và Bộ  
Công an; những hạ sĩ quan, chiến sĩ đang công tác tại các  
đơn vị công an và con em vùng đồng bào dân tộc ít người  
được cử đi học.  
Do quy luật phát triển không đồng đều về mặt tâm lí  
bởi điều kiện, hoàn cảnh sống, môi trường giáo dục nên  
SV Học viện Chính trị CAND không được phát triển tối  
ưu như nhau. Do đó, việc giáo dục kĩ năng sống (KNS)  
cho SV là một trong những nội dung giáo dục cần thiết  
nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo ra những cán bộ, chiến  
sĩ Công an có lập trường chính trị vững vàng, có trình độ  
sâu về chuyên môn nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức tốt  
đáp ứng được yêu cầu xây dựng lực lượng CAND cách  
mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Bài viết  
này đề cập những KNS cần được giáo dục cho SV chính  
quy của Học viện Chính trị CAND.  
2.1.2. Khái niệm “Giáo dục kĩ năng sống”  
2. Nội dung nghiên cứu  
Giáo dục KNS là một quá trình tác động sư phạm có  
mục đích, có kế hoạch nhằm hình thành năng lực hành  
động tích cực, có liên quan tới kiến thức và thái độ, giúp  
cá nhân có ý thức về bản thân, giao tiếp, quan hệ xã hội,  
thực hiện công việc, ứng phó hiệu quả với các yêu cầu  
thách thức của cuộc sống hàng ngày...  
2.1. Một số vấn đề lí luận  
2.1.1. Khái niệm “kĩ năng sống”  
Có nhiều quan niệm khác nhau về KNS: Theo Tổ  
chức Y tế thế giới (WHO) “KNS là khả năng để có hành  
vi thích ứng (adaptive) và tích cực (positive), giúp các cá  
nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách  
thức của cuộc sống hàng ngày” [1; tr 3]. Theo Quỹ nhi  
đồng Liên hợp quốc (UNICEF): “KNS là cách tiếp cận  
2.1.3. Tầm quan trọng của giáo dục kĩ năng sống  
- Về mặt sức khoẻ: Xây dựng hành vi sức khoẻ lành  
giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới” [1; tr 3]. mạnh cho cá nhân và cộng đồng; biết giải quyết nhu cầu  
27  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 433 (Kì 1 - 7/2018), tr 27-31; 49  
cá nhân cần thiết cho sự phát triển; tự bảo vệ sức khoẻ cá và giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Do đó, sáng tạo trong  
nhân và cộng đồng  
công việc và linh hoạt trước những tình huống sinh động  
của thực tiễn là yêu cầu cần thiết. Hoạt động chống phá  
nhà nước của các thế lực thù địch và các loại tội phạm  
thường diễn ra rất manh động, với nhiều âm mưu, thủ  
đoạn tinh vi, xảo quyệt và có sử dụng công nghệ cao. Vì  
vậy, trong công tác nghiệp vụ của lực lượng công an luôn  
đòi hỏi tinh thần tập thể, kĩ năng làm việc đồng đội và  
làm chủ công nghệ thông tin và công nghệ khác...  
- Về mặt giáo dục: Tạo mối quan hệ tốt giữa thầy -  
trò, bạn - bạn; tạo hứng thú trong học tập; chủ động, tự  
giác trong học tập, tu dưỡng chuẩn mực đạo đức.  
- Về mặt văn hóa xã hội: Xây dựng hành vi mang tính  
xã hội tích cực, xây dựng môi trường và xã hội lành  
mạnh; sống hòa hợp trong một xã hội văn hóa đa dạng,  
có nền kinh tế phát triển, đất nước hội nhập quốc tế.  
2.2.2. Những đặc điểm tâm lí của sinh viên Học viện  
Chính trị Công an nhân dân  
- Về mặt kinh tế - chính trị: Tự nhận thức nhu cầu và  
quyền trẻ em, xác định nghĩa vụ của mình đối với bản  
thân, gia đình và xã hội, giúp ổn định chính trị quốc gia.  
- Sự thích nghi với cuộc sống và hoạt động mới  
SV Học viện Chính trị CAND là những thanh niên  
có tuổi đời rất trẻ từ nhiều môi trường, hoàn cảnh sống  
khác nhau mới nhập ngũ nên sự thích nghi với cuộc sống  
và môi trường mới là điều kiện cần thiết để họ có thể  
hoàn thành tốt được nhiệm vụ học tập, rèn luyện trong  
những năm học tại Học viện. Do đó, những đặc điểm tâm  
lí của SV Học viện Chính trị CAND sẽ được hình thành  
và chịu sự chi phối của những hoạt động cơ bản của nhà  
trường, bao gồm:  
- KNS giúp phát triển các kĩ năng cá nhân và xã hội;  
giữ gìn bản thân an toàn, trở thành người có trách nhiệm  
và có tinh thần độc lập, sáng tạo, biết làm chủ tình cảm,  
cảm xúc của bản thân.  
- KNS giúp con người quyết định hành vi tích cực,  
duy trì lối sống đúng đắn, lành mạnh, có trách nhiệm đối  
với sức khỏe bản thân và cộng đồng.  
2.2. Cơ sở xác định những kĩ năng sống cần rèn luyện  
cho sinh viên Học viện Chính trị Công an nhân dân  
+ Hoạt động về thể chất: Đây là hoạt động đòi hỏi  
cường độ, tốc độ rèn luyện thể lực cao, nhanh và mạnh  
2.2.1. Những yêu cầu nghề nghiệp  
Xuất phát từ đặc trưng của công tác công an là một mẽ trong điều kiện tự nhiên khắc nghiệt tại thao trường,  
nghề đặc biệt, khác hoàn toàn với những loại hình lao bãi tập của hoạt động huấn luyện điều lệnh, quân sự, võ  
động khác trong xã hội. Đây là một công việc khó khăn, thuật, thể dục thể thao.  
gian khổ, nhiều hiểm nguy, đòi hỏi sự hi sinh to lớn. Do  
+ Môi trường học tập, sinh hoạt theo chế độ tập trung  
đó, những yêu cầu về nghề nghiệp của công tác công an  
với yêu cầu cao về ý thức tổ chức kỉ luật nghiêm ngặt của  
đã đặt ra cho người cán bộ, chiến sĩ công an phải là những  
lực lượng vũ trang. Trong những năm đầu ở nhà trường  
người có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung  
công an, SV phải thích nghi với hoạt động rèn luyện thể  
thành với Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng; có  
lực, hoạt động học tập gắn với thao trường tập luyện,  
phẩm chất đạo đức tốt; có kiến thức cơ bản về pháp luật,  
giảng đường và môi trường sinh hoạt sống tập trung  
nghiệp vụ công an; có kiến thức chuyên môn nghiệp vụ  
trong doanh trại được quản lí bằng kỉ luật nghiêm ngặt  
về công tác xây dựng lực lượng CAND; có sức khỏe tốt  
của Điều lệnh công an. Để SV thích nghi được với những  
vấn đề trên đòi hỏi SV phải có ý chí, nghị lực, quyết tâm  
để hoàn thành nhiệm vụ được giao.  
Để đáp ứng những yêu cầu của nghề nghiệp, đòi hỏi vượt khó.  
SV phải có được những kĩ năng sau:  
Hoạt động học tập của SV ở bậc đại học với tính chất,  
- Các kĩ năng để học tập và nghiên cứu: Dựa trên việc yêu cầu, nội dung, phương pháp học tập mới mang tính  
đàotạo chuyên môn, SV cầncó kĩ năng học tập và nghiên chất nghiên cứu khoa học và nghề nghiệp của những  
cứu, bao gồm kĩ năngtư duy phê phán để nhận định, phân chuyên gia tương lai với nét đặc trưng là sự căng thẳng  
tích đường lối, chính sách cụ thể và đánh giá đúng các nhiều về trí tuệ. Vì vậy, trong những giai đoạn đầu, SV  
vấn đề chính trị - xã hội.  
đều thể hiện sự kém thích nghi, lúng túng, căng thẳng,  
mệt mỏi, hiệu quả học tập không cao.  
- Các kĩ năng phát triển cá nhân như: sự tự tin, quyết  
đoán, chủ động, hiểu biết rộng về xã hội và thế giới.  
- Đời sống xúc cảm, tình cảm  
- Các kĩ năng sáng tạo và linh hoạt trong công việc:  
Tuổi SV là thời kì phát triển tích cực nhất của những  
Người sĩ quan CAND trong hoạt động nghiệp vụ của loại tình cảm cao đẹp như tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo  
mình đòi hỏi phải là người có kĩ năng phân tích, tổng đức, tình cảm thẩm mĩ, tình bạn, tình yêu, trong đó tình  
hợp, tham mưu đề xuất với các cấplãnh đạo các mặt công yêu nam nữ là một lĩnh vực rất đặc trưng. Trong lĩnh vực  
tác công an kịp thời với hoạt động thực tiễn thường này, ở SV công an nói chung và SV Học viện Chính trị  
xuyên biến động của công tác đảm bảo an ninh quốc gia CAND nói riêng gặp nhiều mâu thuẫn nội tại: Đó là mâu  
28  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 433 (Kì 1 - 7/2018), tr 27-31; 49  
thuẫn giữa thời gian hạn hẹp do SV phải sống tập trung 2.3. Một số kĩ năng sống cần rèn luyện cho sinh viên  
hoàn toàn trong nội trú với nhu cầu được tự do tìm hiểu Học viện Chính trị Công an nhân dân  
yêu đương của tuổi trẻ. Những mâu thuẫn này luôn tồn  
2.3.1. Kĩ năng tự đánh giá  
tại cùng với khát khao được giải quyết ở SV. Thực tế đã  
Ở lứa tuổi SV, kinh nghiệm sống còn nhiều hạn chế,  
cho thấy, những hiện tượng vi phạm kỉ luật của SV trong  
chưa có kinh nghiệm trong công tác, chưa nhận thức  
quá trình học tập có nguyên nhân từ mâu thuẫn này. Đặc  
được điểm mạnh, điểm yếu của bản thân, chưa biết cách  
biệt, ở lứa tuổi SV khi hoạt động nhận thức về yêu cầu  
giải quyết hợp lí khi gặp những mâu thuẫn, xung đột tâm  
nghề nghiệp đang trong giai đoạn được hình thành cùng  
lí... Điều đó khiến cho kết quả học tập, rèn luyện của SV  
kinh nghiệm thực tiễn công tác còn hạn chế, họ chưa có  
chưa cao. Vì vậy, cần rèn luyện kĩ năng tự đánh giá bản  
khả năng điều chỉnh cảm xúc tự nhiên của tuổi trẻ bằng  
thân cho SV, để SV tự ý thức được mình đang thiếu  
hành động ý chí thì đây là điều khó tránh khỏi. Vì vậy,  
những gì trước yêu cầu của công việc để có kế hoạch tự  
đây là một nội dung quan trọng cần phải xây dựng trong  
trang bị, tự học tập, không ỷ lại hay trông chờ vào nhà  
trường.  
chương trình giáo dục KNS cho SV Học viện Chính trị  
CAND.  
Để giúp SV Học viện Chính trị CAND phát triển kĩ  
- Sự phát triển một số phẩm chất nhân cách  
năng tự đánh giá, cần tăng cường cho SV thực hành, trải  
SV Học viện Chính trị CAND mang đầy đủ các đặc  
nghiệm với các hoạt động học tập, rèn luyện trong thực  
điểm nhân cách của SV và SV công an như: Khả năng  
tiễn công tác công an như: hoạt động dân vận, tình  
lập kế hoạch và hành động một cách độc lập; sự biến đổi  
nguyện vì cộng đồng... Từ đó, SV sẽ có khả năng tự nhận  
mạnh mẽ về động cơ, về giá trị nghề nghiệp; xác định  
thức, đánh giá được những năng khiếu, hạn chế của bản  
con đường sống tích cực, bắt đầu thể nghiệm bản thân  
thân trong giao tiếp, ứng xử, vận động quần chúng tham  
trong mọi lĩnh vực cuộc sống; tự ý thức phát triển mạnh  
gia vào phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc ở địa phương,  
mẽ; thế giới quan được hình thành rõ rệt và ngày càng  
vận dụng kiến thức pháp luật và nghiệp vụ công an vào  
phát triển [2; tr 30]. Bên cạnh đó, SV Học viện Chính trị  
CAND có những đặc điểm riêng.  
tuyên truyền, phổ biến chính sách của Đảng, pháp luật  
của Nhà nước tới nhân dân, vận động nhân dân xây dựng  
- Thứ nhất, sự phát triển nhân cách hướng vào việc đời sống văn hóa mới... Bên cạnh đó, tạo điều kiện cho  
hình thành, phát triển nhân cách của người sĩ quan chính SV giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao với SV  
trị tương lai; củng cố và phát triển xu hướng nghề nghiệp, trong và ngoài học viện, đặc biệt là hoạt động giao lưu  
hình thành phẩm chất và năng lực cần thiết đối với nghề văn nghệ với đoàn viên thanh niên tại địa phương. Đây  
nghiệp của người sĩ quan công an trong công tác Đảng, là hoạt động giúp SV phát triển các kĩ năng giao tiếp,  
công tác chính trị;  
mạnh dạn, tự tin, thiết lập các mối quan hệ gần gũi với tổ  
chức, cá nhân ngoài lực lượng công an.  
- Thứ hai, nhu cầu nhận thức của SV Học viện Chính  
trị CAND có những nét đặc thù thể hiện ở động cơ học 2.3.2. Kĩ năng giao tiếp  
tập, nghiên cứu về công tác công an mang tính chuyên  
Giao tiếp là kĩ năng cơ bản trong công tác nghiệp vụ  
của lực lượng công an, trong quá trình thi hành công vụ,  
người cán bộ công an thường xuyên phải giao tiếp với  
môn sâu ở lĩnh vực công tác Đảng, công tác tham mưu  
xây dựng lực lượng với tính tự giác, tích cực cao.  
- Thứ ba, định hướng giá trị về nghề nghiệp được SV các đối tượng khác nhau, thường xuyên phải viết, trình  
xác định rõ ràng, đặc biệt là những giá trị về đạo đức, bày các loại văn bản pháp luật, văn bản nghiệp vụ chuyên  
chính trị, xã hội. Mối quan tâm lớn nhất của SV Học viện môn, văn bản về công tác Đảng, công tác chính trị và  
Chính trị CAND là có khả năng đảm nhiệm được các công tác quần chúng. Chính vì vậy, việc rèn luyện cho  
hoạt động của công tác công an đáp ứng được yêu cầu SV kĩ năng nói, viết, trình bày khoa học, logic, chặt chẽ  
thực tiễn công tác công an hiện nay.  
là một yêu cầu cần thiết. Đặc biệt, trong công tác nghiệp  
vụ, người cán bộ công an phải có kĩ năng thuyết phục vận  
động quần chúng trong hoạt động phòng ngừa, đấu tranh,  
ngăn chặn các loại tội phạm và những hành vi vi phạm  
xã hội.  
Mức độ phát triển của các phẩm chất nhân cách này  
của SV Học viện Chính trị CAND có liên quan đến năng  
lực học tập của SV. Những SV có kết quả học tập cao  
thường chủ động, tích cực trong việc tự nhận thức, tự  
đánh giá, tự kiểm tra hành động, thái độ cư xử, cử chỉ  
Để trở thành người cán bộ công an có kĩ năng giao  
giao tiếp của bản thân để hướng tới tự hoàn thiện nhân tiếp, ứng xử chuẩn mực, nghệ thuật và khôn khéo, có khả  
cách. Còn những SV có kết quả học tập thấp có biểu hiện năng thuyết phục để có thể làm chủ trong mọi tình huống  
thụ động đã ảnh hưởng đến việc tự giáo dục, tự hoàn giao tiếp thì cần phải được rèn luyện. Do đó, nhà trường  
thiện bản thân.  
cần xây dựng những chương trình rèn luyện kĩ năng giao  
29  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 433 (Kì 1 - 7/2018), tr 27-31; 49  
tiếp cho SV thông qua các câu lạc bộ của SV như câu lạc giảng viên /huấn luyện viên cần xác định được những cá  
bộ hùng biện; tổ chức các cuộc thi như thi hùng biện, thi nhân có thể lực, năng lực học tập tốt hỗ trợ, giúp đỡ  
xử lí tình huống ứng xử của lực lượng công an... Trong những cá nhân yếu hơn.  
nội dung thực hành, thực tế, thực tập tại địa phương cần  
Bên cạnh việc nêu yêu cầu thì giảng viên/huấn luyện  
đưa nội dung thực hiện công tác vận động quần chúng  
viên thường xuyên tổ chức hoạt động rèn luyện qua thực  
vào chương trình để SV có điều kiện rèn luyện kĩ năng  
tế, luyện tập cho SV. Ví dụ: Trong công tác dân vận, cần  
ứng xử, giao tiếp và thuyết phục.  
đan xen tổ chức cho những nhóm SV (từ 3 người trở lên)  
Bên cạnh đó, việc rèn luyện cho SV có thói quen tự  
rèn luyện kĩ năng giaotiếp, thuyết phục cũng là một trong  
những biện pháp mang lại hiệu quả cao, trong những giờ  
học lí thuyết trên giảng đường, những giờ luyện tập ngoài  
thao trường, bãi tập người giảng viên, huấn luyện viên  
thường xuyên phải tạo ra được những “tình huống có vấn  
đề” trong giao tiếp, ứng xử để SV có điều kiện thực hành  
trải nghiệm; qua đó, SV sẽ thu được những kinh nghiệm  
cần thiết trong quá trình rèn luyện văn hóa ứng xử, giao  
tiếp.  
được ăn cùng, ở cùng, làm việc cùng trong một nhà dân  
để tăng cường tinh thần đoàn kết, gắn bó như “người  
cùng một nhà”.  
2.3.4. Kĩ năng xác định giá trị sống phù hợp  
Việc cá nhân xác định đúng và ứng xử đúng với các  
trạng thái cảm xúc là vô cùng quan trọng vì nó sẽ quyết  
định đến hiệu quả hành động, đó là các giá trị mà cá nhân  
muốn hướng tới hoặc né tránh. Giá trị chính là cái có ý  
nghĩa đối với cá nhân, là động lực thúc đẩy cá nhân hành  
động để đạt được những mục đích đề ra trong cuộc sống.  
2.3.3. Kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm  
Đối với SV Học viện Chính trị CAND, rèn luyện  
KNS cho SV gắn với việc rèn luyện kĩ năng xác định giá  
trị sống phù hợp, bởi, giá trị sống của họ gắn liền với sứ  
mệnh chính trị được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao  
phó, đó là những con người suốt đời tận tụy hi sinh bảo  
vệ chế độ, vì cuộc sống hạnh phúc, bình yên của nhân  
dân. Xác định đúng đắn giá trị sống của mình, SV Học  
viện Chính trị CAND sẽ có thái độ nghiêm túc, tận tụy  
trong học tập, rèn luyện, trau dồi phẩm chất chính trị  
trung thành với Đảng, tận tụy với dân “vì nước quên  
thân, vì nhân dân phục vụ”.  
Xuất phát từ đặc điểm học tập của SV công an nói  
chung và SV Học viện Chính trị CAND nói riêng là học  
tập và sinh hoạt theo chế độ tập trung thành các tiểu đội,  
trung đội và đại đội. Do đó, SV có điều kiện để rèn luyện  
kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm. Tuy nhiên, thực tế cho  
thấy kĩ năng này ở SV Học viện Chính trị CAND còn  
chưa tốt với những biểu hiện như: trong học tập và rèn  
luyện, các “nhóm học tập” được thành lập nhưng hoạt  
động thưa thớt, kém hiệu quả, trong các hoạt động tình  
nguyện vì cộng đồng mức độ tham gia tích cực của các  
thành viên trong nhóm không đồng đều, có những cá  
nhân tích cực, nhiệt tình nhưng vẫn còn những cá nhân  
ngại việc, ỷ lại. Trong các phong trào thi đua, kết quả giải  
thưởng cao thường tập trung vào giải cá nhân, giải  
thưởng tập thể còn hạn chế.  
2.3.5. Kĩ năng tổ chức công việc, quản lí sử dụng thời  
gian hợp lí  
Trước yêu cầu xây dựng lực lượng CAND cách  
mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại đòi hỏi  
người SV Học viện Chính trị CAND cần có tác phong  
hành động nhanh nhẹn, linh hoạt, chính xác, hiệu quả...  
Trong đó, kĩ năng tổ chức công việc hiệu quả đòi hỏi SV  
phải biết tổ chức hoạt động của bản thân một cách hợp lí,  
khoa học, biết lược bỏ những hoạt động làm mất thời  
gian, ảnh hưởng tới hoạt động chủ đạo của bản thân. Kĩ  
năng sử dụng thời gian hợp lí yêu cầu SV có khả năng  
phân bố hài hòa, hợp lí công việc học tập, rèn luyện với  
nghỉ ngơi, thư giãn để phục hồi năng lượng thần kinh, cơ  
bắp hao phí. Để có được kĩ năng này cần rèn luyện cho  
SV kĩ năng lập kế hoạch học tập, rèn luyện theo điều kiện  
thực tế và năng lực của bản thân; hình thành thói quen  
làm việc theo đúng kế hoạch về thời gian, yêu cầu công  
việc; kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện để  
có sự điều chỉnh phù hợp với thực tế và mang tính khả  
quan.  
Công tác công an là công việc khó khăn, gian khổ,  
hiểm nguy, đòi hỏi trong công tác nghiệp vụ rất cần tinh  
thần tập thể đoàn kết, thống nhất cao mới có thể hoàn  
thành được nhiệm vụ. Vì vậy, giáo dục, rèn luyện cho SV  
kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm là một nội dung không  
thể thiếu. Kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm là một kĩ năng  
không dễ hình thành nếu không được thường xuyên thực  
hành luyện tập. Vì thế, để có được kĩ năng này, đòi hỏi  
SV cần được rèn luyện thường xuyên, liên tục trong mọi  
hoạt động học tập, rèn luyện. Để rèn luyện kĩ năng này  
cho SV, các lực lượng giáo dục phải thường xuyên nêu  
yêu cầu cho SV thông qua các hình thức học tập. Ví dụ:  
trong giờ học lí thuyết trên giảng đường, giảng viên tổ  
chức các hoạt động học tập theo nhóm, theo dự án để  
tăng cường kĩ năng phối hợp, hợp tác giữa các cá nhân  
thực hiện một nhiệm vụ học tập hay trong hoạt động rèn  
luyện quân sự, võ thuật huấn luyện viên tăng cường hoạt 2.3.6. Kĩ năng điều chỉnh cảm xúc xã hội: gồm kĩ năng  
động rèn luyện theo nhóm. Trong những “nhóm học tập” nhận biết, kiểm soát, điều khiển cảm xúc của bản thân và  
30  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 433 (Kì 1 - 7/2018), tr 27-31; 49  
người khác phù hợp với hoàn cảnh, tình huống. Rèn  
Kết quả bảng 1, 2 cho thấy, đa số SV được khảo sát  
luyện những kĩ năng xúc cảm xã hội là vô cùng cần thiết đều cho rằng: Những KNS cần rèn luyện cho SV Học  
với SV Học viện Chính trị CAND, trong đó quan trọng viện Chính trị CAND là rất cần thiết; đặc biệt là kĩ năng  
nhất là khả năng biết bộc lộ, biết kiểm soát xúc cảm của hợp tác, làm việc nhóm; kĩ năng điều chỉnh cảm xúc xã  
bản thân. Hoạt động nghề nghiệp của SV sau khi tốt hội, có sự khác nhau về mức độ cần thiết giữa các KNS  
nghiệp đòi hỏi ở họ kĩ năng kết hợp hài hòa giữa lí trí với cần rèn luyện cho SV. Những KNS cần rèn luyện cho SV  
cảm xúc, thể hiện ở khả năng biểu lộ cảm xúc. Khi tiếp Học viện Chính trị CAND được cho là rất khả thi, khả thi  
xúc với người dân thì mang lại cảm giác gần gũi, an tâm, nhất là kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm, kĩ năng tự đánh  
tin cậy còn khi tiếp xúc với các đối tượng phạm tội thể giá, kĩ năng xác định giá trị sống phù hợp; ít khả thi hơn  
hiện sự cương quyết, khôn khéo, cứng rắn, thể hiện sự là kĩ năng điều chỉnh cảm xúc xã hội và kĩ năng giao tiếp.  
trầm tĩnh, ổn định của tâm trạng, làm chủ xúc cảm. Rèn  
luyện kĩ năng này chính là sự chuẩn bị tốt nhất cho nghề  
nghiệp trong tương lai của SV.  
3. Kết luận  
Giáo dục KNS cho SV Học viện Chính trị CAND là  
một trong những nội dung giáo dục cần thiết, đáp ứng  
được yêu cầu, nhiệm vụ công tác. Bởi, sau khi tốt nghiệp,  
SV sẽ trở thành những người cán bộ, chiến sĩ công an  
làm công tác bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an  
2.4. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của một  
số kĩ năng sống cần rèn luyện cho sinh viên Học viện  
Chính trị Công an nhân dân  
Để khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của một toàn xã hội thì những KNS cần rèn luyện phải liên quan  
số KNS cần rèn luyện cho SV Học viện Chính trị CAND, đến hoạt động nghiệp vụ của lực lượng công an như kĩ  
chúng tôi tiến hành khảo sát trên 120 SV của Học viện năng: nói, viết, trình bày, thuyết phục; hợp tác, làm việc  
Chínhtrị CAND từtháng 01-02/2018. Kết quả ở bảng 1, 2. nhóm; tổ chức công việc; kĩ năng quản lí, sử dụng  
Bảng 1. Tính cần thiết của một số KNS cần rèn luyện cho SV Học viện Chính trị CAND  
Tính cần thiết  
Không  
cần thiết  
Điểm  
TB  
Thứ  
bậc  
Rất cần thiết  
Cần thiết  
TT  
Nội dung  
SL  
88  
76  
98  
69  
%
SL  
%
SL  
%
1
2
3
4
Kĩ năng tự đánh giá  
73,3  
63,3  
81,7  
57,5  
24  
34  
16  
46  
20,0  
28,3  
13,3  
38,3  
8
10  
6
6,7  
8,3  
5,0  
4,2  
320  
306  
332  
304  
3
5
1
6
Kĩ năng giao tiếp  
Kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm  
Kĩ năng xác định giá trị sống phù hợp  
5
Kĩ năng tổ chức công việc, quản lí sử  
dụng thời gian hợp lí  
5
6
78  
65,0  
35  
29,2  
7
8
5,8  
6,7  
311  
330  
4
2
Kĩ năng điều chỉnh cảm xúc xã hội  
98  
81,7  
14  
11,7  
(Chú thích: SL: Số lượng; TB: Trung bình)  
Bảng 2. Tính khả thi một số KNS cần rèn luyện cho SV Học viện Chính trị CAND  
Tính khả thi  
Không  
khả thi  
Điểm Thứ  
Rất khả thi  
Khả thi  
TT  
Nội dung  
TB  
bậc  
SL  
76  
65  
87  
73  
%
SL  
%
SL  
%
1
2
3
4
Kĩ năng tự đánh giá  
63,3  
54,2  
72,5  
60,8  
37  
45  
26  
42  
30,8  
37,5  
21,7  
35,0  
7
10  
7
5,8  
8,3  
5,8  
4,2  
309  
295  
320  
308  
2
6
1
3
Kĩ năng giao tiếp  
Kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm  
Kĩ năng xác định giá trị sống phù hợp  
5
Kĩ năng tổ chức công việc, quản lí sử  
dụng thời gian hợp lí  
5
6
71  
69  
59,2  
57,5  
42  
43  
35,0  
35,8  
7
8
5,8  
6,7  
304  
301  
4
5
Kĩ năng điều chỉnh cảm xúc xã hội  
(Xem tiếp trang 49)  
31  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 433 (Kì 1 - 7/2018), tr 45-49  
[9] Ban Chấp hành Trung ương. Văn kiện Đại hội Đảng  
lần thứ X, XI, XII. NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật.  
[2] Nguyễn Thị Kim Dung (2006). Tài liệu hướng dẫn  
tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Dự án  
phát triển giáo dục trung học phổ thông, Trường Đại  
học Sư phạm Hà Nội.  
[3] Lê Phương Nga (chủ biên - tái bản lần thứ 10, 2013).  
Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học I. NXB  
Đại học Sư phạm.  
MỘT SỐ KĨ NĂNG SỐNG CẦN GIÁO DỤC...  
(Tiếp theo trang 31)  
thời gian hợp lí; điều chỉnh cảm xúc. Những kĩ năng này  
cần được tổ chức với nhiều hình thức đa dạng khác nhau,  
trong đó đặc biệt là hình thức thông qua công tác dân vận  
và những hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng.  
[4] Lê Phương Nga (chủ biên, tái bản lần thứ 10, 2013).  
Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học II. NXB  
Đại học Sư phạm.  
[5] Nguyễn Sỹ Thư - Đinh Thị Kim Thoa (2013). Phát  
triển năng lực giáo dục học sinh. NXB Giáo dục  
Việt Nam.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Nguyễn Thị Thanh Bình (2011). Giáo trình chuyên  
đề Giáo dục kĩ năng sống. NXB Đại học Sư phạm.  
[6] Bộ GD-ĐT (2017). Chương trình giáo dục phổ  
thông - Chương trình tổng thể.  
[1] Phan Thanh Long (chủ biên, 2013) - Trần Quang  
Cấn - Nguyễn Văn Diện. Lí luận giáo dục. NXB Đại  
học Sư phạm.  
[2] Nguyễn Văn Đồng (2009). Tâm lí học giao tiếp.  
NXB Chính trị - Hành chính.  
[3] Hội khoa học Tâm lí - giáo dục Việt Nam (2010). Kỉ  
yếu Hội thảo khoa học “20 năm khoa học tâm lí -  
giáo dục Việt Nam: Thành tựu và triển vọng”.  
[4] Phạm Văn Tư (chủ biên, 2014) - Nguyễn Xuân  
Long - Nguyễn Hiệp Thương - Vũ Thị Ngọc Tú.  
Tâm lí học xã hội. NXB Đại học Sư phạm.  
[5] Nguyễn Đức Trí (chủ biên, 2011). Giáo trình giáo  
dục học nghề nghiệp. NXB Giáo dục Việt Nam.  
[6] Thái Duy Tuyên (2001). Giáo dục học hiện đại  
(Những nội dung cơ bản). NXB Đại học Quốc gia  
Hà Nội.  
[7] Ban Chấp hành Trung ương (2013). Nghị quyết số  
29-NQ/TW ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản toàn  
diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công  
nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị  
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập  
quốc tế.  
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC...  
(Tiếp theo trang 16)  
vai trò của tổ chức Đoàn Thanh niên, đây là yếu tố quan  
trọng trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ vừa “hồng” vừa  
“chuyên” góp phần xây dựng quân đội cách mạng, chính  
quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Ban Bí thư Trung ương Đảng (2002). Hồ Chí Minh  
toàn tập, tập 5. NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật.  
[7] Lê Thị Bừng (2007). Tâm lí học ứng xử. NXB Giáo  
dục.  
[2] Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh - Những  
chặng đường phát triển (2014). NXB Chính trị  
Quốc gia - Sự thật.  
[3] Ban Bí thư Trung ương Đảng (2002). Hồ Chí Minh  
toàn tập, tập 9. NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật.  
KÍNH MỜI BẠN ĐỌC ĐẶT MUA  
TẠP CHÍ GIÁO DỤC NĂM 2018  
Tạp chí Giáo dục ra 1 tháng 2 kì, đặt mua thuận  
tiệntại các bưucục địa phương, (Mãsố C192)hoặc đặt  
mua trực tiếp tại Tòa soạn (số lượng lớn) theo địa chỉ:  
[4] Ban Bí thư Trung ương Đảng (2002). Hồ Chí Minh  
toàn tập, tập 12. NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật.  
TẠP CHÍ GIÁO DỤC  
, Số 4 Trịnh Hoài Đức, quận  
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (1987). Văn kiện Đại hội  
đại biểu toàn quốc lần thứ VI. NXB Sự thật.  
Đống Đa, Hà Nội  
.
Kính mời bạn đọc, các đơn vị giáo dục, trường học  
đặt mua Tạp chí Giáo dục năm 2018. Mọi liên hệ xin  
gửi về địa chỉ trên hoặc liên lạc qua số điện thoại:  
024.37345363; Fax: 024.37345363.  
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006). Văn kiện Đại hội  
đại biểu toàn quốc lần thứ X. NXB Chính trị Quốc  
gia - Sự thật, tr 133.  
[7] Ban Bí thư Trung ương Đảng (2002). Hồ Chí Minh  
toàn tập, tập 11. NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật.  
Xin trân trọng cảm ơn.  
TẠP CHÍ GIÁO DỤC  
[8] Ban Bí thư Trung ương Đảng (2002). Hồ Chí Minh  
toàn tập, tập 10. NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật.  
49  
pdf 6 trang yennguyen 13180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số kĩ năng sống cần giáo dục cho sinh viên Học viện Chính trị Công an Nhân dân", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_ki_nang_song_can_giao_duc_cho_sinh_vien_hoc_vien_chin.pdf