Rèn luyện kĩ năng ứng phó với stress cho sinh viên ngành Sư phạm mầm non trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An

VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 435 (Kì 1 - 8/2018), tr 24-27; 59  
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI STRESS  
CHO SINH VIÊN NGÀNH SƯ PHẠM MẦM NON  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM NGHỆ AN  
Nguyễn Thị Cẩm Tú - Trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An  
Ngày nhận bài: 05/06/2018; ngày sửa chữa: 08/06/2018; ngày duyệt đăng: 04/07/2018.  
Abstract: The paper analyzes the groups of skills needed to cope with the stress of early childhood  
teachers. Also, the article proposes some measures to practice students majoring in preschool  
education at Nghe An College of Education to cope with stress and balance psychological changes  
in their life and job, bringing high efficiency in children care and education.  
Keywords: Stress, coping skills, preschool teachers, preschool students.  
Bài viết phân tích các nhóm kĩ năng cần thiết để ứng  
phó với stress của giáo viên mầm non và biện pháp rèn  
luyện kĩ năng ứng phó với stress cho SV SPMN, để họ đạt  
đượccân bằng tâmlí trong cuộc sống và nghề nghiệp, đem  
lại hiệu quả cao trong công việc chăm sóc, giáo dục trẻ.  
1. Mở bài  
Theo các nghiên cứu và thực tiễn gần đây cho thấy,  
giáo viên nói chung và giáo viên mầm non (GVMN) nói  
riêng thuộc nhóm nghề có nguy cơ stress cao, mức độ  
stress diễn ra ở GVMN khá phổ biến. Sự thay đổi nhanh  
chóng của xã hội về kinh tế, văn hóa, xã hội và lối sống 2. Nội dung nghiên cứu  
đã làm nảy sinh nhiều vấn đề mà trước đây GVMN chưa  
gặp, chưa phải ứng phó. Do đó, GVMN thường hành  
động theo cảm tính và có thể sẽ gặp rủi ro. Chính vì thế,  
GVMN trong xã hội ngày nay cần có kĩ năng ứng phó  
(KNƯP) để sống tốt và làm tốt nhiệm vụ nghề nghiệp.  
2.1. Các khái niệm cơ bản về kĩ năng, stress, kĩ năng  
ứng phó với stress  
- Khái niệm “kĩ năng” (KN). Tuy có nhiều định  
nghĩa về KN nhưng các tác giả đều có chung một quan  
niệm, đó là gắn KN với hoạt động của cá nhân. Nó là  
phương thức hành động phù hợp với điều kiện, yêu cầu  
của hoạt động và giúp mang lại hiệu quả của hoạt động.  
Từ đó, có thể hiểu: KN là sự vận dụng tri thức, kinh  
nghiệm vào các thao tác gắn với điều kiện thực tiễn của  
hoạt động cụ thể nhằm thực hiện hiệu quả hoạt động đó.  
Khái niệm ứng phó xuất phát từ tiếng Anh “cope” có  
nghĩa là ứng phó, đương đầu, đối mặt, thường là trong  
những tình huống bất thường, những tình huống khó khăn  
và stress. Ứng phó là hành động tích cực của chủ thể, bao  
gồm cả hành động bên ngoài lẫn tâm lí bên trong nhằm  
giảiquyếtvà giảmđượcmức độảnh hưởng xấucủanhững  
tình huống gây mệt mỏi, căng thẳng hoặc những tình  
huống vượt quá khả năng của cá nhân [1; tr 26].  
- Khái niệm “stress”. Theo tiếng Latinh, stress được  
bắt nguồn từ “Strictus” và một phần của từ “string-ere” có  
nghĩa là căng thẳng, nghịch cảnh, bất hạnh, đè nén. Trong  
tiếng Anh, “stress” có nghĩa là nhấn mạnh. Thuật ngữ này  
được dùng trong vật lí học để chỉ sức nén mà vật liệu phải  
chịu. Năm 1914, W.B. Cannon sử dụng trong sinh học với  
ý nghĩa là căng thẳng cảm xúc. Dưới góc độ tâm lí học,  
stress là trạng thái căng thẳng về mặt tâm lí được biểu  
hiện ở mặt tâm thể, nhận thức, cảm xúc và hành vi của con  
người khi họ đối mặt với những sự kiện mà họ nhận thấy  
Mặt khác, trong xã hội hiện đại, tâm lí của trẻ em  
cũng mang đặc trưng của xã hội. Điều này có nghĩa là,  
GVMN phải đối mặt với nhiều vấn đề trong chăm sóc và  
giáo dục trẻ. Bên cạnh đó, hoạt động giảng dạy của  
GVMN có những đặc thù riêng về đối tượng, nội dung,  
thời gian giảng dạy và các đặc điểm khác đã tác động và  
trở thành những tác nhân gây stress cho GVMN. Thực tế  
cho thấy, nhiều GVMN có thời gian làm việc không phải  
8 tiếng mà lên tới 10 tiếng mỗi ngày; phải làm việc với  
trách nhiệm cao để đảm bảo an toàn tính mạng của hàng  
chục trẻ, đảm bảo cho trẻ ngoan, ăn hết suất, ngủ ngon  
đủ giấc, hứng thú, tích cực tìm tòi khám phá để phát triển  
1 cách toàn diện,... Với áp lực công việc như vậy, stress  
rất có thể xuất hiện ở họ. Vì vậy, để yêu thích và làm tốt  
công việc của mình, bản thân GVMN phải có khả năng  
ứng phó với những khó khăn, yêu cầu cao của công việc,  
của cuộc sống. Vì vậy, KNƯP với stress được xem là kĩ  
năng (KN) cần thiết của mỗi GVMN.  
Sinh viên (SV) sư phạm mầm non (SPMN) sẽ trở  
thành GVMN trong tương lai, sẽ là những người chăm  
sóc, giáo dục chocác “mầm xanh” của đất nước, việc giáo  
dục, hình thành và rèn luyện KNƯP cho họ là rất cần thiết  
để giúp họ có được tâm lí ổn định, nhanh nhẹn, khéo léo,  
biết cách nhìn nhận và giải quyết vấn đề một cách tốt nhất vượt quá khả năng ứng phó bình thường của mình trong  
trong công việc chuyên môn sau khi ra trường. hoạt động cũng như trong cuộc sống [2; tr 76].  
24  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 435 (Kì 1 - 8/2018), tr 24-27; 59  
Khái niệm “KNƯP với stress”. Từ việc tổng hợp các trong cuộc sống của mình giúp GVMN có cơ sở để vạch  
khái niệm về KN, ứng phó, stress, KNƯP, chúng tôi cho ra các chiến lược ứng phó với stress phù hợp điều kiện  
rằng, KNƯP với stress là sự vận dụng tri thức, kinh của bản thân [1; tr 29].  
nghiệm vào các thao tác gắn với điều kiện thực tiễn của  
hoạt động bằng cách nhận thức những việc gây ra stress  
và biểu hiện của stress, xác định điều kiện khả thi (các  
phương án đối phó) và thực hiện những phương án nhằm  
giải quyết, giảm bớt, tác động xấu của stress xuất hiện  
trong quá trình sống và hoạt động.  
Khi gặp stress trong cuộc sống cũng như trong công  
việc, GVMN cần tìm cách vượt qua stress để có thể lấy  
lại được sự cân bằng và làm việc đạt hiệu quả. Khi đó, họ  
cần nỗ lực nhận diện stress trong cuộc sống của mình, tại  
sao mình bị stress, phải đối diện với stress như thế nào và  
cần hành động ra sao để vượt qua stress - đó chính là  
KNƯP với stress [1; tr 28].  
2.2. Các nhóm kĩ năng ứng phó với stress của giáo viên  
mầm non  
Việc xác định các nhóm KN thành phần của KNƯP  
với stress dựa vào đặc điểm stress trong hoạt động sống  
của GVMN, quá trình kiểm soát stress tiến tới giải quyết  
vấn đề.  
2.2.2.Nhómkĩ năngxácđịnhcácphươngán ứng phóvớistress  
KN xác định các phươngán ứng phóvớistress baogồm:  
- KN huy động các nguồn thông tin, tài liệu về các  
phương án ứng phó. Sau khi nhận thức được vấn đề gây  
stress và biểu hiện stress GVMN cần có KN huy động  
các nguồn thông tin, tài liệu về các phương án ứng phó,  
bằng cách: tìm kiếm, kiểm tra, xem xét các tài liệu liên  
quan đến phương án ứng phó với stress; tham khảo thông  
tin hỗ trợ: tham khảo ý kiến của các nhà chuyên môn,  
huy động kinh nghiệm bản thân,...  
- KN phân tích phương án ứng phó. Sau khi có đầy đủ  
tư liệu về phương án ứng phó, GVMN cần phân tích ưu,  
nhược điểm, giá trị của từng phương án lựa chọn. KN phân  
tích các phương án bao gồm các biểu hiện: + Mô tả các  
phương án ứng phó cụ thể đối với stress; + Nêu được cơ sở  
của việc xác định các phương án ứng phó stress; + Phân  
tích các phương án ứng phó: ưu, nhược điểm, giá trị của  
từng phương án lựa chọn, đánh giá trên nhiều phương diện  
như:thờigian,tínhhiệuquả,cảmxúc,...Chỉra mỗi phương  
2.2.1. Nhóm kĩ năng nhận thức vấn đề gây stress và biểu án đáp ứng ở mức độ sự hài lòng, đưa ra các phương án  
hiện của stress  
Hai KN này là cơ sở xác định các phương án ứng phó  
và giải quyết, giảm bớt stress.  
thay thế nếu cần với mục tiêu đạt hiệu quả tốt nhất.  
- KN ra quyết định lựa chọn các phương án ứng phó.  
Ra quyết định là việc làm quan trọng và không đơn giản.  
Do đó, để có quyết định đúng, mỗi GVMN cần tìm hiểu  
kĩ vấn đề, biết xác định các phương án giải quyết, đánh  
giá đầy đủ kết quả của mỗi phương án và so sánh các  
phương án để đưa ra quyết định cuối cùng. KN này sẽ  
giúp GVMN hình dung cụ thể cách giải quyết vấn đề  
stress, có được cái nhìn toàn diện, đầy đủ và cụ thể về các  
phương án ứng phó với stress, từ đó có được khả năng tự  
quyết định hành động một cách độc lập.  
- KN nhận thức vấn đề gây stress: Khi sống và hoạt  
động, GVMN có thể gặp những tình huống gây stress.  
Những tình huống gây stress thường là những tình huống  
xuất phát từ chính các loại hình hoạt động. Những  
GVMN bị stress thường coi công việc là khó khăn, thậm  
chí những khó khăn được coi là vượt quá sức chịu đựng  
của cá nhân. Cho nên, nhận ra được nguyên nhân là điều  
rất quan trọng, giúp GVMN có căn cứ để tìm ra các cách  
thức ứng phó hiệu quả, bởi việc giải tỏa stress bao giờ  
Biểu hiện của KN ra quyết định lựa chọn các phương  
cũng bắt nguồn từ việc làm suy yếu, hay hạn chế ảnh án ứng phó: + Xác định một phương án phù hợp nhất  
hưởng của các nguyên nhân tạo ra nó.  
trong số các phương án được đưa ra để giải quyết stress;  
+ Biết sắp xếp các phương án ứng phó theo thứ tự ưu tiên  
(nếu có nhiều phương án); + Mô tả trình tự, cách thức  
thực hiện các phương án ứng phó được chọn lựa, nếu các  
phương án có những hạn chế hoặc khó khăn trong việc  
triển khai thực hiện thì đề xuất các biện pháp khắc phục  
khó khăn đó [1].  
GVMN có KN nhận thức vấn đề gây stress sẽ thấy  
được những yếu tố khách quan và chủ quan gây stress ở  
họ. Đây là cơ sở giúp GVMN tìm phương án phù hợp để  
giải tỏa được stress.  
- KN nhận thức biểu hiện của stress. Nhận thức được  
stress chính là nhận ra các biểu hiện của stress, cũng như  
mức độ của stress mà GVMN đang gặp phải. Những biểu  
hiện của stress rất đa dạng, bao gồm cả những biểu hiện  
về mặt cơ thể cũng như những biểu hiện tâm lí. Đó có thể  
2.2.3. Nhóm kĩ năng thực hiện các phương án ứng phó  
nhằm giảm stress và giải quyết vấn đề  
- KN kiên định thực hiện các phương án ứng phó. KN  
là những dấu hiệu đôi khi tưởng rất bình thường như: mệt kiên định là khả năng thể hiện thái độ quyết tâm bảo vệ  
mỏi, bỗng dưng ngủ nhiều hơn hoặc mất ngủ, ăn ít hoặc và thực hiện những điều mình muốn, từ chối những điều  
rất thèm ăn,... cho đến những dấu hiệu nguy cấp như cảm mình không muốn dựa trên sự tôn trọng và kết hợp hài  
thấy khó thở, chán nản và tuyệt vọng, thường xuyên gặp hòa lợi ích. Dựa vào những phương án ứng phó với stress  
ác mộng và mê sảng... Việc nhận thức đầy đủ về stress đã trình bày ở trên, KN kiên định thực hiện các phương  
25  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 435 (Kì 1 - 8/2018), tr 24-27; 59  
án ứng phó thể hiện ở những điểm sau: + Biết rõ bản thân chế cảm xúc và có những xử lí phù hợp với tình huống  
muốn gì, cần gì, có những quyền gì trong hoạt động cũng của cuộc sống.  
như cuộc sống nói chung; + Nói ra những điều mình  
muốn và mình cần; + Tin tưởng bản thân có quyền và có  
giá trị; + Giữ vững quan điểm, lập trường trước áp lực,  
căng thẳng, những yêu cầu đi ngược với nhu cầu, mong  
muốn của bản thân hoặc có khả năng ảnh hưởng xấu đến  
mình và người khác; + Biết cân bằng giữa thái độ hiếu  
thắng, gây hấn, vị kỉ và phục tùng, phụ thuộc.  
- KN thực hiện các phương án ứng phó. Việc thực  
hiện các phương án ứng phó với stress cần được tiến  
hành trên cơ sở của các phương án ứng phó đã được xác  
lập. Như vậy KN thực hiện các phương án ứng phó thể  
hiện ở ba nhóm thao tác sau đây: + Nhóm thao tác thể  
hiện phương án ứng phó bằng sự nỗ lực của bản thân  
GVMN: cố gắng tập trung giải quyết vấn đề; tự rèn  
luyện; + Nhóm thaotác thể hiện phương án ứng phó bằng  
sự trợ giúp từ người khác trong và ngoài trường: bạn bè,  
người có chuyên môn; + Nhóm thao tác thể hiện phương  
án ứng phó bằng phản ứng tiêu cực: Lo lắng, buông xuôi,  
chấp nhận, bỏ qua vấn đề.  
- KN quản lí thời gian. Dù ở trong công việc nào,  
GVMN vẫn phải biết quản lí thời gian của mình một cách  
hiệu quả. Cụ thể: + Liệt kê các công việc cần làm trong  
tuần theo thứ tự ưu tiên; + Xác định khối lượng và yêu  
cầu cần đạt cho mỗi công việc; + Sắp xếp, phân bố tổng  
thời gian hợp lí trong tuần; + Sắp xếp các công việc khác  
một cách khoa học nhất để dành thời gian cho công việc  
chính; + Kết hợp hợp lí giữa làm việc và nghỉ ngơi, thư  
giãn; + Tranh thủ ý kiến của người khác khi lập kế  
hoạch;... Nếu GVMN có KN quản lí thời gian, họ sẽ có  
xu hướng kiểm soát được phần lớn stress [1].  
Có thể nói, thông qua các hoạt động học tập, rèn  
luyện nghiệp vụ sư phạm, với vai trò là GVMN tương  
lai, KNƯP là yếu tố giúp mỗi SV SPMN: - Tiếp cận hoạt  
động nghề nghiệp một cách dễ dàng; - Điều hòa hoạt  
động thần kinh của bản thân, giữ gìn sức khỏe tinh thần  
và thể lực, dễ dàng vượt qua được các áp lực, căng thẳng  
để luôn tìm được niềm vui, tình thương trong công việc  
với trẻ nhỏ, cởi mở trong cuộc sống; - Hiểu cảm xúc của  
chính mình và của người khác để có thể kiểm soát cảm  
xúc, từ đó điều hòa, tạo dựng được các mối quan hệ xã  
hội tích cực, mang lại hiệu quả cao trong chăm sóc, giáo  
dục trẻ, công tác xã hội hóa giáo dục.  
2.3.2. Rèn luyện kĩ năng ứng phó cho sinh viên sư phạm  
mầm non  
- SV cần tự bồi dưỡng, nâng cao nhận thức về KNƯP  
cho bản thân. Các giảng viên cần định hướng để mỗi SV  
xác định đúng đắn động cơ, mục tiêu học tập chuyên  
ngành SPMN; định hướng để các em có ý thức tự tìm  
hiểu và nắm bắt các thông tin về ngành học ngoài các bài  
giảng trên lớp. SV cần tự trau dồi phong cách sư phạm  
cho bản thân: thể hiện sự tôn trọng với thầy, cô giáo; tích  
cực học tập, nâng cao kiến thức, rèn luyện KN nghiệp vụ  
cho bản thân; luôn hòa đồng, đoàn kết, giúp đỡ bạn bè,  
có thái độ vui vẻ, cởi mở với những người xung quanh  
mình; SV SPMN phải tự nhận thức được đặc thù nghề  
nghiệp mà mình lựa chọn, từ đó có ý thức bồi dưỡng  
KNƯP cho bản thân trong quá trình học tập, đặc biệt là  
trong quá trình kiến tập, thực tập, tạo được môi trường  
tương tác với trẻ để luôn cải thiện được tình trạng cảm  
xúc cùng mối quan hệ của trẻ.  
2.3. Rèn luyện kĩ năng ứng phó với stress cho sinh viên  
sư phạm mầm non  
2.3.1. Vai trò của kĩ năng ứng phó với stress đối với sinh  
viên sư phạm mầm non  
- Áp dụng một số phương thức rènluyện KNƯP trong  
quá trình học tập các bộ môn về Tâm lí - Giáo dục,  
phương pháp và trong quá trình tham gia rèn luyện  
nghiệp vụ sư phạm thường xuyên:  
+ Nhanh chóng giảm áp lực, giải tỏa căng thẳng.  
Giảng viên có thể hướng dẫn SV nghiên cứu tài liệu và  
tìm hiểu về đặc điểm tâm, sinh lí của trẻ mầm non, học  
cách nhận biết những biểu hiện của sự căng thẳng, phân  
loại các phản ứng của bản thân khi tiếp cận với trẻ (cáu  
giận, chán nản, buồn phiền, lạnh nhạt,...) để chọn lựa  
những hành động khắc phục phù hợp (giữ điềm tĩnh, làm  
dịu hay khích lệ,...).  
Trong quá trình học tập, ngoài việc được tiếp thu hệ  
thống tri thức cơ bản, chuyên ngành, SV SPMN, còn  
được học những kiến thức mang tính nghiệp vụ về công  
tác giáo dục trẻ mầm non. Đặc thù nghề nghiệp đã đặt ra  
những yêu cầu cao đối với GVMN, đòi hỏi họ không  
những giỏi về chuyên môn mà còn cần có lối sống, hành  
vi mô phạm, đạo đức trong sáng, lòng yêu nghề, yêu trẻ  
sâu sắc. Có KNƯP giúp SV mầm non có khả năng nhận  
thức được các vấn đề có thể gây stress trong quá trình  
+ Luôn tạo mối liên hệ với cảm xúc và tìm ảnh hưởng  
hoạt động nghề nghiệp, nhận thức được biểu hiện của của nó đến suy nghĩ và hành động của mình. Trong quá  
stress, giúp họ có tâm lí tốt quá trình học tập, đồng thời trình cùng một lúc tiếp xúc nhiều trẻ trong 1 lớp khiến  
biết hành động một cách phù hợp trong mọi hoàn cảnh, giáo viên luôn gặp phải những trạng thái cảm xúc rất  
mọi tình huống. Những SV có KNƯP tốt sẽ có những khác nhau cho dù không mong muốn. Hãy theo dõi, đối  
hành vi, những phản ứng, cử chỉ đúng đắn, những quyết mặt với những trạng thái cảm xúc đó và tìm cách điều  
định phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh, biết kiềm chỉnh chúng một cách linh hoạt.  
26  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 435 (Kì 1 - 8/2018), tr 24-27; 59  
+ Tăng cường các hình thức giao tiếp “không lời sát cá nhân trẻ hoặc tình huống cụthể bằng cách giải quyết  
nói” trong quá trình tiếp xúc trực tiếp với trẻ. Để thu hút các câu hỏi như: Cảm xúc của trẻ được thể hiện như thế  
sự chú ý của trẻ nhỏ, đáp ứng nhu cầu giao tiếp của trẻ, nào? Trẻ có quan tâm đến các bạntrong lớp, trẻ có gặp vấn  
SV cần tích cực sử dụng phương thức truyền thông, đề gì trong tình cảm không? Những vấn đề đó có ảnh  
truyền cảm bằng ngôn ngữ cơ thể (ánh mắt, nụ cười, điệu hưởng đến hoạt động của trẻ? Cái gì có thể là hữu ích cho  
bộ, thao tác, dáng điệu,...); bao quát trẻ, thường xuyên trẻ này? Làm thế nào để làm tăng hiệu quả học tập, vui  
“đọc” và “trả lời” những “tin nhắn” bằng tín hiệu cơ thể chơi của trẻ? Cách thức giáo viên hay bạn bè hỗ trợ trẻ?...  
của trẻ một cách hiệu quả.  
để thu thập thông tin và phân tích, rút kinh nghiệm.  
+ Tìm hiểu về những kiểu cách giao tiếp, nhận thức  
của trẻ em để so sánh, xác định phương thức giáo dục.  
Mỗi cá nhân trẻ có một kiểu hoạt động nhận thức riêng,  
ảnh hưởng rõ rệt đến sự phát triển trí thông minh về cảm  
xúc và kiểu giao tiếp của trẻ; vì thế, việc yêu cầu SV tìm  
hiểu về những kiểu cách giao tiếp, nhận thức của trẻ em  
để so sánh, xác định phươngthức giáo dục là rất cần thiết.  
Ví dụ: nếu xét theo tính trội về cách tiếp thu và xử lí  
thông tin có ba loại trẻ: đối với trẻ trội về trực quan -  
không gian, nêntăng cường sử dụng nhiều hình ảnh trong  
lớp như tranh tường, sách, truyện tranh, ảnh, sơ đồ, biểu  
bảng,...; đối với trẻ trội về nghe - nói, nên tăng cường sử  
dụng băng đĩa, phương tiện âm thanh - hình ảnh, kể  
chuyện, sử dụng bài hát, thơ truyện,...; đối với trẻ trội về  
xúc giác - vận động cơ thể, nên sử dụng các bài tập biểu  
cảm “không dùng lời nói”, các trò chơi mô phỏng vận  
động, phối hợp hoạt động âm nhạc - vận động với sử  
dụng các trò chơi phân vai, đóng kịch,...  
+ Tạo môi trường thân thiện, an toàn về cảm xúc  
trong lớp học. Hướng dẫn SV biết tạo môi trường thân  
thiện, an toàn về cảm xúc trong lớp học, phát triển mối  
quan hệ gần gũi, tích cực giữa trẻ và cô giáo, luôn giúp  
trẻ thành công chính là chìa khóa để tạo ra một môi  
trường lớp học thân thiện, an toàn về tình cảm.  
Có thể thúc đẩy mối quan hệ tích cực với trẻ nhỏ bằng  
lòng cảm thông, yêu thương, sự chú ý lắng nghe và đáp  
ứng những nhu cầu về cảm xúc của trẻ; làm sao cho mọi  
trẻ đều cảm thấy mình được công nhận, bảo vệ, được học  
hỏi mà không sợ bị chế giễu hoặc sỉ nhục.  
+ Sử dụng sự hài hước, nghệ thuật, trò chơi. Đây là  
cách thức có thể tự “giải độc”, vượt qua những khó khăn  
trong công việc. Tiếng cười sảng khoái, vẻ mặt rạng rỡ,  
bầu không khí cởi mở, vui vẻ là những “liềuthuốc bổ” quý  
giá cho tinh thần, tình cảm của cô và trẻ, từ đó có thể nâng  
cao hiệu quả các hoạt động. Giảng viên có thể áp dụng  
cáchthứcnàytronggiờgiảng hoặcchoSV thựchànhngay  
trên lớp, trong các giờ rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.  
- Một số hoạt động giúp SV mầm non Trường CĐSP  
Nghệ An tăng cường, phát triển KNƯP  
Vào mỗi học kì, SV đều được kiến tập, đặc biệt là đợt  
thực tập sư phạm. Để tăng cường, phát triển KNƯP, cần  
yêu cầu SV:  
+ Lập kế hoạch hoạt động, học tập. Trong quá trình  
rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, cần hướng dẫn và yêu cầu  
SV tự xây dựng kế hoạch hoạt động và học tập của bản  
thân, từ đó giúp các em biết cách sắp xếp thời gian hợp lí  
để đưa ra các hoạt động phù hợp để đạt hiệu quả tối đa  
trong công việc. Bên cạnh đó, hướng dẫn SV làm sổ nhật  
kí rèn luyện nghiệp vụ sư phạm để các em có thể tích lũy  
được các kinh nghiệm cho bản thân trong quá trình rèn  
luyện năng lực sư phạm nói chung, KNƯP nói riêng.  
+ Quan sát các tình huống ở trường mầm non, cách  
xử lí các công việc và các tình huống xảy ra. Xây dựng  
hệ thống các tình huống sư phạm có thể xảy ra trong hoạt  
động sư phạm ở trường mầm non và yêu cầu SV lên kế  
hoạch tập xử lí. Việc quan sát các tình huống xảy ra ở  
trường mầm non và cách xử lí của giáo viên giúp cho SV  
nắm được những nguyên nhân có thể gây ra stress, biểu  
hiện của chúng, và dựa trên hình mẫu là GVMN, SV có  
thể học tập, định hình được những tình huống xảy ra  
trong hoạt động sư phạm của bản thân sau này. Việc yêu  
cầu SV tập xử lí các tình huống một cách hệ thống từ đơn  
giản đến phức tạp nhằm mục đích nâng cao nhận thức và  
KNƯP với stress cho SV.  
Thường xuyên tổ chức các hoạt động “quần chúng”,  
mang tính nghệ thuật để cô và trẻ được “xả stress”, củng  
cố niềm tin, được tự do trong biểu cảm có sự tham gia  
của người lớn với tư cách là những tấm gương, hình mẫu.  
3. Kết luận  
Lí luận và thực tiễn giáo dục hiện nay cho thấy,  
KNƯP và việc sử dụng nhằm nâng cao năng lực sư phạm  
cũng như hiệu quả của quá trình dạy - học có vai trò quan  
trọng đối với GVMN. Vì vậy, SV SPMN không chỉ cần  
rèn luyện cho KNƯP cho bản thân mà còn phải biết tổ  
chức hình thành, bồi dưỡng KNƯP cho trẻ như một trong  
những nền tảng phát triển nhân cách. Chính vì nhiệm vụ  
+ Quan sát hoạt động và biểu hiện của trẻ. Quản lí  
cảm xúc bao gồm việc quan sát, tìm hiểu cách trẻ “quản lí,  
điều khiển cảm xúc của mình” để từ đó ứng phó với cuộc  
xung đột, tạo nên những mối thân tình giữa trẻ này với trẻ  
khác hoặc giữa trẻ với giáo viên. Nhóm SV trong lớp kiến,  
thực tập cần dành thời gian cùng phối hợp quan sát và ghi  
nhận tình trạng chung về xúc cảm, tình cảm và các mối  
quanhệ tìnhcảmcủa một nhóm trẻ, sauđó chọncáchquan  
(Xem tiếp trang 59)  
27  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 435 (Kì 1 - 8/2018), tr 54-59  
hợp với bản thân, một số phần mềm được yêu thích như: [6] Thornbury - Scott (2000). How to Teach Speaking.  
Side By Side, EF Englishtown, 101 Languages Of The  
World, WordSmart, EyeSpeak English,... Hầu hết các  
phần mềm được cung cấp miễn phí, dung lượng vừa phải  
và rất dễ sử dụng với SV. Khi học tập trên các phần mềm  
này, SV không chỉ luyện tập kĩ năng nói, mà còn được  
nâng cao kĩ năng nghe, làm giàu thêm vốn từ vựng và  
luyện đọc, luyện viết.  
New York: Longman.  
[7] Harmer, J. (1984). The Practice of English  
Language Teaching. London: Longman.  
[8] Skinner - Ch (1958). Essential Of Education  
Psychology. Prentice Hall Inc, Engelwood Cliffs,  
New York.  
[9] Brown - Douglas (2001). Teaching by Principles:  
An Interactive Approach to Language Pedagogy.  
New York: Longman.  
3. Kết luận  
Thực tiễn dạy học cho thấy, tất cả kĩ năng tiếng Anh  
nói chung và kĩ năng nói tiếng Anh nói riêng rất cần sự  
luyện tập thường xuyên và lâu dài mới đem lại kết quả cao  
chongười học. Khôngai học ngoại ngữmà khôngmắc lỗi,  
cho nên SV cần tự tin và kiên nhẫn giao tiếp thật nhiều  
trong lớp học và đặc biệt là bên ngoài lớp học, trong cuộc  
sống thực tế thì mới có thể nâng cao kĩ năng và năng lực  
ngoại ngữ cho bản thân. Thông qua quá trình rèn luyện,  
học tập đó, SV sẽ nâng cao năng lực ngoại ngữ, củng cố  
thêm từ vựng và tự điều chỉnh, sửa dần những lỗi sai cơ  
bản để hoàn thiện từng ngày kĩ năng nói tiếng Anh của  
mình. Quá trình rèn luyện này, cần được dẫn dắt, trợ giúp  
của giáo viên và phải được tiến hành thường xuyên và lâu  
dài, bởi vì kĩ năng nói tiếng Anh rất quantrọng và cần thiết  
không chỉ trong quá trình học tập của SV Trường ĐHCN  
TP. Hồ Chí Minh, mà còn giúp ích rất nhiều trong quá  
trình phỏng vấn xin việc và làm việc sau khi tốt nghiệp đại  
học. Tuy nhiên, thời gian luyện tập trên lớp học hạn chế là  
một trởngại lớn với SV Trường ĐHCN TP. Hồ Chí Minh;  
do đó, tham gia rèn luyện bên ngoài lớp học thông qua các  
hoạt động thực tế rất hữu ích và cần thiết với SV.  
[10]Wongsuwana (2006). Speech could be trained.  
Thailand Education Journal, Vol. 21, pp. 44-50.  
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI STRESS...  
(Tiếp theo trang 27)  
cao cả đó, mỗi SV SPMN muốn trở thành những giáo  
viên có KNƯP tốt thì ngay trong quá trình học tập ở  
trường sư phạm cần rèn luyện KNƯP cho bản thân một  
cách thường xuyên, nghiêm túc và có hiệu quả.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Đỗ Văn Đoạt (2012). Kĩ năng ứng phó với stress -  
một mặt quan trọng của nhân cách giáo viên mầm  
non. Kỉ yếu hội thảo “Mô hình nhân cách giáo viên  
mầm non trong thời kì hội nhập quốc tế”, Trường  
Đại học Sư phạm Hà Nội.  
[2] Trịnh Viết Then - Mai Thị Nguyệt Nga (2014). Ứng  
phó với stress của giáo viên mầm non trên địa bàn  
quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí  
Khoa học, Trường Đại học Văn hiến, số 05, tr 76-83.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Thủ tướng Chính phủ (2008). Quyết định số  
1400/QĐ-TTG ngày 30/9/2008 của Thủ tướng  
Chính phủ về việc phê duyệt đề án “Dạy và học  
ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai  
đoạn 2008-2020”.  
[3] Đỗ Văn Đoạt (2014). Kĩ năng ứng phó với stress  
trong hoạt động học tập theo tín chỉ của sinh viên  
trường đại học sư phạm. Luận án tiến sĩ Tâm lí học,  
Viện Hàn lâm Khoa học và Xã hội Việt Nam.  
[2] Khamkhien A (2010). Teaching English speaking  
and English speaking tests in the Thai context: A  
reflection from Thai perspectives. English Language  
Journal, Vol. 3(1), pp. 184-200.  
[4] Đặng Phương Kiệt (1998). Stress và đời sống. NXB  
Khoa học xã hội.  
[5] Trần Thị Quốc Minh (1996). Phân tích tâm lí tình  
huống có vấn đề trong mối quan hệ giữa giáo viên  
và trẻ mẫu giáo. Luận án phó tiến sĩ Tâm lí chuyên  
ngành, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.  
[3] Bygate M. (1987). Speaking. Oxford University Press.  
[4] Celce-Murcia M - Olshtain E (2000). Discourse and  
context in language teaching. Cambridge:  
Cambridge University Press.  
[6] Phạm Thanh Hương (2006). Stress và sức khỏe. Tạp  
chí Tâm lí học, số 4, tr 60-62.  
[5] Juhana (2012). Psychological Factors That Hinder [7] Trịnh Viết Then (2014). Mức độ stress của giáo viên  
Students from Speaking in English Class (A Case  
Study in a Senior High School in South Tangerang,  
Banten, Indonesia). Journal of Education and  
Practice, Vol. 3, No. 12, pp. 100-110.  
mầm non trên địa bàn quận Phú Nhuận, Thành phố  
Hồ Chí Minh. Kỉ yếu Hội thảo quốc tế Tâm lí học  
học đường lần thứ 4, tháng 8/2014, Trường Đại học  
Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 467-478.  
59  
pdf 5 trang yennguyen 10900 Free
Bạn đang xem tài liệu "Rèn luyện kĩ năng ứng phó với stress cho sinh viên ngành Sư phạm mầm non trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfren_luyen_ki_nang_ung_pho_voi_stress_cho_sinh_vien_nganh_su.pdf