Phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên khoa Kinh tế trường Đại học Đồng Nai theo tiếp cận chuẩn đầu ra

TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG MỀM CHO SINH VIÊN KHOA KINH TẾ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI THEO TIẾP CẬN CHUẨN ĐẦU RA  
Lê Thị Hoài Lan1  
TÓM TẮT  
Phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên là một vấn đề cần được quan tâm trong nhà  
trường. Bài viết tìm hiểu thực trạng kỹ năng mềm của sinh viên khoa Kinh tế trường  
Đại học Đồng Nai và đề xuất một số biện pháp phát triển kỹ năng mềm theo tiếp cận  
chuẩn đầu ra.  
Từ khóa: Kỹ năng mềm, chuẩn đầu ra  
giáo dục quan tâm, nhằm nâng cao chất  
1. Đặt vấn đề  
lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu thị  
Trong công cuộc đổi mới giáo dục  
trường lao động.  
hiện nay, ngành giáo dục nói chung và  
2. Một số khái niệm công cụ  
trường cao đẳng, đại học nói riêng đang  
tiến hành đổi mới về nội dung, chương  
trình, phương pháp giáo dục theo định  
hướng phát triển năng lực cho học sinh,  
sinh viên, nâng cao chất lượng đào tạo  
nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội. Bộ  
Giáo dục và Đào tạo đã yêu cầu các  
trường cao đẳng, đại học xác định và  
công bố chuẩn đầu ra cho các chuyên  
ngành đào tạo. Chuẩn đầu ra phản ánh  
yêu cầu, đòi hỏi khách quan của xã hội  
và hoạt động lao động nghề nghiệp và  
được xây dựng định hướng theo chuẩn  
nghề nghiệp. Vì vậy các hoạt động giáo  
dục và đào tạo nói chung, phát triển kỹ  
năng mềm cho sinh viên nói riêng của  
mỗi nhà trường đều hướng tới hệ thống  
những chuẩn mực về đào tạo, kết quả  
đào tạo của chuẩn đầu ra chuyên ngành  
đào tạo đã công bố. Phát triển một số kỹ  
năng mềm cho sinh viên trong các  
trường cao đẳng, đại học là một yêu cầu  
khách quan cần được các nhà khoa học  
2.1. Khái niệm kỹ năng mềm  
Kỹ năng mềm là hệ thống các kỹ  
năng cơ bản được thực hiện tự giác dựa  
trên tri thức về công việc, khả năng hòa  
nhập xã hội, thái độ và hành vi ứng xử  
hay tương tác với xã hội, cộng đồng,  
bạn bè, đồng nghiệp, đối tác, tổ chức  
của mỗi cá nhân nhằm phát huy tối đa  
hiệu quả công việc và thành đạt trong  
cuộc sống.  
2.2. Khái niệm chuẩn đầu ra  
Theo quy chế đào tạo đại học của  
Đại học Quốc gia Hà Nội, chuẩn đầu ra  
là những quy định về nội dung kiến  
thức, kỹ năng, thái độ ý thức và phẩm  
chất của người học, công việc mà  
người học có thể đảm nhận được sau  
khi tốt nghiệp và các yêu cầu đặc thù  
khác đối với từng trình độ đào tạo và  
hệ thống văn bằng [1].  
2.3. Khái niệm tiếp cận chuẩn đầu ra  
1Trường Đại học Đồng Nai  
80  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
Tiếp cận chuẩn đầu ra là phát triển  
chương trình đào tạo, tổ chức quá trình  
đào tạo, đánh giá kết quả đào tạo,  
hướng người học sau khi tốt nghiệp đạt  
tới các chuẩn mực hành nghề (chuẩn  
đầu ra) và đáp ứng yêu cầu xã hội.  
thấp (1 ≥ 1,67); trung bình (1,68 ≥  
2,34); Tốt (2,35 ≥ 3).  
- Nghiên cứu các tài liệu, tác giả  
nhận thấy tùy từng vị trí công việc mà  
yêu cầu người lao động phải được rèn  
luyện, phát triển các kỹ năng mềm phù  
hợp. Tuy nhiên, tựu trung một số kỹ  
năng mềm cơ bản người lao động nói  
chung, sinh viên đại học nói riêng ai  
cũng phải có việc làm ổn định và thành  
đạt trong cuộc sống. Do đó, bài viết đã  
xác định một số kỹ năng mềm cơ bản  
cần phát triển cho sinh viên đó là: kỹ  
năng thuyết phục, kỹ năng trả lời phỏng  
vấn, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm  
việc nhóm, kỹ năng đàm phán và ký kết  
hợp đồng, kỹ năng lập kế hoạch và tổ  
chức công việc, kỹ năng tư duy sáng  
tạo, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng  
xác định giá trị và gìn giữ giá trị đã lựa  
chọn, kỹ năng lãnh đạo bản thân và  
hình ảnh cá nhân.  
3. Thực trạng phát triển kỹ năng  
mềm cho sinh viên khoa Kinh tế  
trường Đại học Đồng Nai  
- Khách thể khảo sát: Cán bộ quản  
lý, giảng viên và sinh viên  
- Mẫu khảo sát: 45 cán bộ quản lý,  
giảng viên và 210 sinh viên gồm hệ  
cao đẳng, đại học ngành Kế toán và  
Quản trị kinh doanh trường Đại học  
Đồng Nai.  
- Phương pháp khảo sát bằng phiếu hỏi.  
- Phân loại đánh giá các mức độ  
về phát triển kỹ năng mềm được xác  
định theo quy đổi ứng với thang đánh  
giá khảo sát có điểm thấp nhất 1 và  
cao nhất là 3; do vậy, khoảng phân  
biệt giữa các mức độ theo công thức  
(Max - Min)/n được tính toán là (3-  
1)/3= 0,67. Từ đây phân chia các mức  
độ phát triển kỹ năng mềm theo các  
khoảng giá trị tương ứng như sau:  
3.1. Thực trạng nhận thức của  
giảng viên, sinh viên về phát triển kỹ  
năng mềm cho sinh viên  
Kết quả khảo sát đã thể hiện ở  
bảng 1.  
Bảng 1. Thực trạng nhận thức của giảng viên và sinh viên về phát triển kỹ năng mềm  
cho sinh viên  
Giảng viên  
(M, SD)  
2,45  
Sinh viên  
(M, SD)  
2,38  
P
STT  
Kỹ năng mềm  
1
2
Kỹ năng thuyết phục  
0,000  
0,001  
0,17  
0,15  
2,51  
2,49  
Kỹ năng trả lời phỏng vấn  
0,21  
0,19  
81  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
2,42  
2,57  
3
4
Kỹ năng giao tiếp  
0,005  
0,004  
0,007  
0,000  
0,005  
0,000  
0,002  
0,004  
0,19  
2,11  
0,11  
2,57  
0,23  
2,57  
0,21  
2,14  
0,41  
1,98  
0,11  
2,45  
0,31  
2,36  
0,09  
0,22  
2,08  
0,17  
2,61  
0,19  
2,45  
0,23  
2,11  
0,38  
1,94  
0,17  
2,11  
0,26  
2,21  
0,11  
Kỹ năng làm việc nhóm  
Kỹ năng đàm phán và ký kết hợp  
đồng  
5
Kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công  
việc  
6
7
Kỹ năng tư duy sáng tạo  
Kỹ năng giải quyết vấn đề  
8
Kỹ năng xác định giá trị và gìn giữ  
giá trị đã lựa chọn  
9
Kỹ năng lãnh đạo bản thân và hình  
10  
ảnh cá nhân  
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát)  
Kết quả bảng 1 cho thấy, các kỹ  
năng mềm như: kỹ năng thuyết phục,  
kỹ năng trả lời phỏng vấn, kỹ năng  
giao tiếp, kỹ năng đàm phán và ký kết  
hợp đồng, kỹ năng lập kế hoạch và tổ  
chức công việc được cán bộ quản lý,  
giảng viên và sinh viên đánh giá rất  
cần thiết. Ngoài ra các kỹ năng như: kỹ  
năng tư duy sáng tạo, kỹ năng giải  
quyết vấn đề, cán bộ quản lý, giảng  
viên và sinh viên đánh giá cần thiết. Có  
sự khác nhau về việc đánh giá của cán  
bộ quản lý, giảng viên và sinh viên về  
các kỹ năng như: kỹ năng xác định giá  
trị, kỹ năng lãnh đạo bản thân và hình  
ảnh cá nhân. Từ việc đánh giá trên đi  
đến một số nhận định: Cán bộ quản lý,  
giảng viên và sinh viên nhận thức đúng  
và tương đối đầy đủ về sự cần thiết của  
việc phát triển kỹ năng mềm cho sinh  
viên. Mặt khác, 10 kỹ năng mềm đề  
xuất là cần thiết cho quá trình hình  
thành năng lực thực hiện cho sinh viên  
sau khi ra trường. Đây là điều kiện  
thuận lợi khi triển khai thực hiện việc  
phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên.  
3.2. Thực trạng nhận thức của sinh  
viên về vai trò của kỹ năng mềm trong  
nghề nghiệp và cuộc sống con người  
Kết quả khảo sát được thể hiện ở  
biểu đồ 1.  
82  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
1. Giúp con người xác định mục  
đích khi tham gia hoạt động  
2. Giúp con người tự tin khi tham  
gia hoạt động  
3. Bổ trợ cho kỹ năng chuyên  
môn của con người  
4. Giúp con người phát huy tiềm  
năng cá nhân và đóng góp vào  
định hướng chiến lược của tổ  
chức  
5. Giúp con người vững vàng  
trong nghề nghiệp và thành đạt  
trong cuộc sống  
6. Giúp con người giao tiếp ứng  
xử thành công  
100.00%  
80.00%  
60.00%  
40.00%  
20.00%  
0.00%  
1
2
3
4
5
6
7
8
Rất quan trọng  
Không quan trọng  
Quan trọng  
7. Giúp con người giải quyết tốt  
các tình huống do cuộc sống  
đặt ra cho bản thân mình  
8. Chung sống với mọi người, với  
cộng đồng xã hội  
Biều đồ 1: Nhận thức của sinh viên về vai  
trò của kỹ năng mềm  
cho hoạt động phát triển kỹ năng mề cho  
sinh viên khoa Kinh tế trường Đại học  
Đồng Nai.  
Biểu đồ 1 cho thấy, vai trò của kỹ  
năng mềm trong nghề nghiệp và cuộc  
sống con người đã được đa số sinh viên  
nhận thức một cách tương đối đầy đủ và  
được coi trọng đối với công việc và cuộc  
sống của họ trong học tập rèn luyện tại  
trường cũng như nghề nghiệp và cuộc  
sống sau khi ra trường. Đây chính là  
thuận lợi và là tiền đề cơ bản, quan trọng  
3.3. Thực trạng mức độ thể hiện  
kỹ năng mềm của sinh viên khoa Kinh  
tế tại trường Đại học Đồng Nai  
3.3.1. Mức độ kỹ năng thuyết phục  
Bảng 2: Thực trạng mức độ thể hiện kỹ năng thuyết phục  
Giảng viên Sinh viên  
STT  
Nội dung  
P
(M, SD)  
1,76  
(M, SD)  
1,83  
Kỹ năng xử lý tình huống khi thuyết  
phục đối tượng  
1
0,006  
0,21  
0,24  
Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, phi ngôn  
ngữ trong diễn thuyết và giao tiếp đối  
tượng  
1,93  
0,16  
1,98  
0,19  
2
0,005  
83  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
2,24  
2,31  
3
4
5
Kỹ năng chủ động tiếp cận đối tượng  
Kỹ năng chia sẻ hợp tác  
0,000  
0,004  
0,005  
0,11  
2,19  
0,15  
2,04  
0,22  
0,17  
2,28  
0,11  
2,11  
0,27  
Kỹ năng cảm hóa tạo động lực cho đối  
tượng  
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát)  
nhà trường, có thể đưa ra nhận định:  
thực trạng kỹ năng thuyết phục của  
sinh viên khoa Kinh tế trường Đại học  
Đồng Nai đạt ở mức độ trung bình.  
Sinh viên hiểu biết về kỹ năng thuyết  
phục còn lúng túng, phạm lỗi trong các  
hoạt động thuyết phục đối tượng. Điều  
đó cho thấy trong các hoạt động đào  
tạo chưa đặc biệt quan tâm đến vấn đề  
phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên.  
Kết quả bảng 2 cho thấy, sinh viên  
thể hiện các kỹ năng thuyết phục đạt ở  
mức độ trung bình. Trong những kỹ  
năng thành phần trên, sinh viên thể  
hiện kỹ năng chủ động tiếp cận đối  
tượng ở mức độ cao nhất và kỹ năng xử  
lý tình huống khi thuyết phục đối tượng  
đạt ở mức độ thấp nhất. P<0,05 cho  
thấy sự khác biệt giữa đánh giá của  
giảng viên và sinh viên về mức độ thể  
hiện kỹ năng thuyết phục có ý nghĩa  
thống kê. Xuất phát từ kết quả khảo sát  
và phỏng vấn sâu các giảng viên trong  
3.3.2. Mức độ kỹ năng trả lời  
phỏng vấn  
Bảng 3: Thực trạng mức độ thể hiện kỹ năng trả lời phỏng vấn  
Giảng viên  
(M, SD)  
Sinh viên  
(M, SD)  
STT  
Nội dung  
P
Kỹ năng lập kế hoạch và chuẩn bị  
phỏng vấn  
1,88  
0,11  
1,81  
0,18  
2,18  
0,23  
2,01  
0,18  
2,03  
0,16  
1,91  
0,16  
1,97  
0,21  
2,31  
0,25  
2,09  
0,21  
2,06  
0,21  
1
2
3
4
5
0,000  
0,002  
0,005  
0,000  
0,006  
Kỹ năng tự tin khi phỏng vấn  
Kỹ năng điều chỉnh bản thân trong  
quá trình trả lời phỏng vấn  
Kỹ năng thuyết phục phỏng vấn viên  
Kỹ năng trình bày rõ ràng mạch lạc  
khi trả lời phỏng vấn  
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát)  
84  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
viên, có thể đưa ra nhận định sau: sinh  
viên hiểu chưa đúng về mục đích, yêu  
cầu, cách thức, phương thức trả lời  
phỏng vấn, còn lúng túng, bị động khi  
tham gia các cuộc phỏng vấn. Nguyên  
nhân là do nhà trường chưa quan tâm  
đến việc rèn luyện kỹ năng trả lời  
phỏng vấn cho sinh viên; giảng viên  
chưa vận dụng hoặc vận dụng nhưng  
chưa phù hợp, hiệu quả các phương  
pháp dạy học tích cực để phát triển kỹ  
năng mềm nói chung.  
Kết quả bảng 3 cho thấy, mức độ  
thể hiện kỹ năng trả lời phỏng vấn đạt  
mức trung bình. Trong các kỹ năng  
thành phần trên, kỹ năng điều chỉnh  
bản thân trong quá trình trả lời phỏng  
vấn được sinh viên thể hiện tốt nhất,  
còn kỹ năng lập kế hoạch và chuẩn bị  
phỏng vấn và kỹ năng tự tin khi phỏng  
vấn, mức độ sinh viên thể hiện thấp  
nhất. P< 0,05 cho thấy sự khác biệt  
giữa đánh giá của giảng viên và sinh  
viên có ý nghĩa thống kê. Kết hợp với  
phỏng vấn sâu cán bộ quản lý và giảng  
3.3.3. Mức độ kỹ năng giao tiếp  
Bảng 4: Thực trạng mức độ thể hiện kỹ năng giao tiếp  
Giảng viên Sinh viên  
STT  
Nội dung  
P
(M, SD)  
(M, SD)  
2,27  
0,14  
2,87  
0,19  
1
2
3
4
Hiểu biết về mục đích giao tiếp  
0,008  
0,002  
0,000  
0,005  
Kỹ năng gây thiện cảm với đối tượng  
giao tiếp  
2,01  
0,45  
2,11  
0,49  
2,21  
0,36  
2,36  
0,42  
Kỹ năng lắng nghe tích cực  
Kỹ năng nắm bắt đặc điểm đối tượng  
giao tiếp  
1,71  
0,19  
1,98  
0,24  
Kỹ năng phối hợp phương tiện giao  
tiếp  
2,09  
0,32  
2,17  
0,38  
5
6
0,004  
0,000  
Kỹ năng kiềm chế cảm xúc trong giao  
tiếp  
2,32  
0,19  
2,42  
0,11  
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát)  
Kết quả bảng 4 cho thấy, mức độ  
nhau giữa đánh giá của giảng viên và  
tự đánh giá của sinh viên về mức độ  
thể hiện, điều đó cho thấy kỹ năng giao  
tiếp của sinh viên chưa thể hiện rõ nét  
hiểu biết về mục đích giao tiếp, kỹ  
năng lắng nghe tích cực, kỹ năng kiềm  
chế cảm xúc trong giao tiếp, có sự khác  
85  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
và đồng đều. Ngoài ra, kỹ năng nắm  
bắt đặc điểm đối tượng giao tiếp, sinh  
viên còn thể hiện rất yếu. Với p<0,05,  
cho thấy sự khác biệt giữa đánh giá của  
giảng viên và sinh viên có ý nghĩa  
thống kê. Từ số liệu trên kết hợp với  
phỏng vấn sâu cán bộ quản lý, giảng  
viên, có thể rút ra các nhận định sau:  
sinh viên có hiểu được mục đích giao  
tiếp, biết vận dụng các kỹ năng trong  
giao tiếp. Tuy nhiên, nắm bắt đặc điểm  
của đối tượng và phối hợp các phương  
tiện trong giao tiếp còn lúng túng, khi  
điều kiện thay đổi thì còn mất ổn định,  
mắc lỗi.  
3.3.4. Mức độ kỹ năng đàm phán,  
ký kết hợp đồng của sinh viên  
Bảng 5: Thực trạng mức độ thể hiện kỹ năng đàm phán, ký kết hợp đồng của sinh viên  
Giảng viên  
(M, SD)  
2,27  
Sinh viên  
(M, SD)  
2,39  
STT  
Nội dung  
P
Kỹ năng xác định mục tiêu đàm  
1
2
3
4
0,004  
0,000  
0,003  
0,006  
phán  
0,19  
0,21  
1,99  
2,18  
Kỹ năng xác định nội dung đàm  
phán  
0,32  
0,36  
2,25  
2,42  
Kỹ năng lắng nghe tích cực  
Kỹ năng thuyết phục  
0,34  
0,37  
1,68  
1,79  
0,11  
0,18  
Kỹ năng nắm bắt các văn bản, quy  
phạm pháp luật về đàm phán và hợp  
đồng kinh tế  
1,97  
0,21  
2,11  
0,18  
5
0,002  
2,29  
0,25  
1,71  
0,34  
1,48  
0,13  
2,31  
0,27  
1,89  
0,37  
1,55  
0,19  
Kỹ năng kiềm chế cảm xúc, tạo hòa  
khí và thiện cảm trong đàm phán  
6
7
8
0,001  
0,000  
0,001  
Kỹ năng trình bày quan điểm một  
cách lưu loát  
Kỹ năng đưa ra yêu cầu đối với đối  
tác một cách chủ động, thuyết phục  
Kỹ năng soạn thảo hợp đồng kinh tế  
và tổ chức thực hiện ký kết hợp  
đồng  
2,02  
0,45  
2,18  
0,48  
9
0,005  
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát)  
86  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
cán bộ quản lý, giảng viên có thể đi  
đến nhận định sau: kỹ năng đàm phán  
và ký kết hợp đồng của sinh viên ở  
mức độ trung bình thấp. Sinh viên hiểu  
biết được mục tiêu, lựa chọn phương  
án, tổ chức đàm phán, ký kết hợp đồng  
kinh tế. Tuy nhiên, còn nhiều hạn chế  
trong việc xác định nội dung đàm  
phán, ký kết hợp đồng kinh tế còn lúng  
túng, phạm lỗi. Nguyên nhân là nội  
dung, chương trình đào tạo chưa có  
môn học này (hoặc có thì nặng tính hàn  
lâm, ít thực hành).  
Kết quả bảng 5 cho thấy, đánh giá  
của giảng viên và tự đánh giá của sinh  
viên không đồng nhất về việc thể hiện  
kỹ năng xác định mục tiêu đàm phán  
và kỹ năng lắng nghe tích cực, sinh  
viên cho rằng mức độ thể hiện của họ ở  
mức độ cao, nhưng giảng viên chỉ đánh  
giá mức độ thể hiện trung bình. Ngoài  
ra, các kỹ năng thành phần còn lại  
được giảng viên đánh giá và sinh viên  
tự đánh giá mức độ thể hiện trung bình.  
Với p<0,05, thể hiện đánh giá của  
giảng viên và tự đánh giá của sinh viên  
có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê.  
Từ kết quả đánh giá và phỏng vấn sâu  
3.3.5. Mức độ kỹ năng lập kế hoạch  
và tổ chức công việc  
Bảng 6: Thực trạng thể hiện kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc  
Giảng viên  
(M, SD)  
2,21  
Sinh viên  
(M, SD)  
2,32  
STT  
Nội dung  
P
Kỹ năng xác định mục tiêu của kế  
hoạch  
1
2
3
0,001  
0,000  
0,003  
0,54  
0,57  
1,96  
2,03  
Kỹ năng xác định quy trình, các  
hoạt động thực hiện kế hoạch  
0,57  
0,54  
2,24  
2,31  
Kỹ năng quản lý thời gian, CSVC  
hiệu quả  
0,34  
0,37  
Kỹ năng cập nhật, chỉnh sửa kế  
hoạch kịp thời khi điều kiện thay  
đổi  
2,23  
0,16  
2,34  
0,19  
4
5
0,008  
0,000  
2,18  
0,23  
2,31  
0,24  
Kỹ năng đánh giá kết quả thực hiện  
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát)  
trình, các hoạt động thực hiện kế  
hoạch, sinh viên thể hiện ở mức độ  
thấp nhất. P<0,05 cho thấy đánh giá  
của giảng viên và tự đánh giá của sinh  
viên có sự khác nhau mang ý nghĩa  
thống kê. Xuất phát từ kết quả khảo sát  
Kết quả bảng 6 cho thấy, giảng  
viên đánh giá và sinh viên tự đánh giá  
mức độ thể hiện kỹ năng lập kế hoạch  
và tổ chức công việc đạt mức trung  
bình. Trong các kỹ năng thành phần  
được thể hiện, kỹ năng xác định quy  
87  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
và phỏng vấn sâu cán bộ quản lý, giảng  
viên, có thể đưa ra nhận định sau: Thực  
trạng kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức  
công việc của sinh viên ở mức độ thấp.  
Sinh viên hiểu và thực hiện được các  
hoạt động về lập kế hoạch và tổ chức  
công việc, tuy nhiên còn lúng túng  
trong việc tổ chức thực hiện, cập nhật,  
chỉnh sửa kế hoạch khi điều kiện thay  
đổi, hoạt động thiếu ổn định, còn mắc  
lỗi. Nguyên nhân việc lồng ghép, tích  
hợp vào nội dung bài học (đặc biệt là  
bài học thực hành) để phát triển kỹ  
năng này cho sinh viên còn nhiều hạn  
chế, các hoạt động ngoại khóa chưa  
thường xuyên, tổ chức chưa hiệu quả.  
3.4. Thực trạng phát triển kỹ năng  
mềm cho sinh viên thông qua các hoạt  
động của nhà trường theo tiếp cận  
chuẩn đầu ra  
Bảng 7: Thực trạng phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên thông qua các hoạt động  
của nhà trường theo tiếp cận chuẩn đầu ra  
Giảng viên  
(M, SD)  
2,47  
Sinh viên  
(M, SD)  
2,39  
STT  
1
Kỹ năng  
Kỹ năng thuyết phục  
Kỹ năng trả lời phỏng vấn  
Kỹ năng giao tiếp  
P
0,006  
0,001  
0,005  
0,000  
0,002  
0,004  
0,002  
0,000  
0,005  
0,002  
0,18  
0,21  
2,11  
0,23  
2,09  
0,27  
2
2,37  
0,34  
2,35  
0,37  
3
2,46  
0,13  
2,41  
0,15  
4
Kỹ năng làm việc nhóm  
Kỹ năng đàm phán và ký kết hợp  
đồng  
1,66  
0,34  
1,61  
0,31  
5
Kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức  
công việc  
2,38  
0,13  
2,35  
0,16  
6
2,21  
0,06  
2,14  
0,11  
7
Kỹ năng tư duy sáng tạo  
Kỹ năng giải quyết vấn đề  
2,36  
0,11  
2,38  
0,12  
8
Kỹ năng xác định giá trị và gìn giữ  
giá trị đã lựa chọn  
1,76  
0,22  
1,79  
0,21  
9
Kỹ năng lãnh đạo bản thân và hình  
ảnh cá nhân  
2,01  
0,18  
2,09  
0,23  
10  
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả khảo sát)  
chuẩn đầu ra. Tuy nhiên xét về từng kỹ  
năng mềm được phản ánh trong chuẩn  
Kết quả bảng 7 cho thấy, 10 kỹ  
năng mềm đều được phản ánh trong  
88  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
đầu ra các chuyên ngành thuộc khối  
ngành ngoài sư phạm thì chưa đầy đủ.  
Kỹ năng mềm được phản ánh với điểm  
trung bình cao là: kỹ năng thuyết phục;  
kỹ năng làm việc nhóm; kỹ năng giao  
tiếp; kỹ năng giải quyết vấn đề; kỹ  
năng lập kế hoạch và tổ chức công  
việc. 4 kỹ năng có điểm trung bình  
thấp là: kỹ năng xác định giá trị và giữ  
gìn giá trị đã lựa chọn; kỹ năng trả lời  
phỏng vấn, kỹ năng tư duy sáng tạo;  
đặc biệt kỹ năng đàm phán và ký kết  
hợp đồng có điểm trung bình thấp nhất.  
chưa tích hợp kỹ năng mềm, đề cương  
chi tiết môn học chưa thể hiện việc rèn  
luyện, phát triển kỹ năng mềm trong  
hình thức tổ chức dạy học, phương pháp  
dạy học, đặc biệt không được phản ánh  
trong tiêu chí đánh giá môn học.  
Như vậy, từ kết quả khảo sát và  
phân tích trên có thể đưa ra nhận định:  
Một số kỹ năng mềm đã được tích hợp  
trong chuẩn đầu ra của các ngành ngoài  
sư phạm. Tuy nhiên, các kỹ năng mềm  
tích hợp trong chuẩn đầu ra chưa đầy  
đủ, chỉ tập trung phát triển các kỹ năng  
mềm cho sinh viên phục vụ các hoạt  
động giáo dục và đào tạo, chưa thực sự  
quan tâm đến những kỹ năng mềm bổ  
trợ hoạt động nghề nghiệp.  
Để tìm hiểu thêm, tác giả nghiên  
cứu thêm một số chương trình đào tạo  
các chuyên ngành thuộc khối ngành  
ngoài sư phạm của trường Đại học  
Đồng Nai, nhận thấy: kỹ năng mềm  
phản ánh trong chuẩn đầu ra của  
chương trình đào tạo còn mang tính  
chung chung, chưa được phản ánh một  
cách rõ ràng, cụ thể. Chuẩn đầu ra các  
môn học thuộc chương trình đào tạo  
3.5. Các yếu tố ảnh hưởng tới quá  
trình phát triển kỹ năng mềm cho  
sinh viên  
3.5.1. Các yếu tố khách quan  
1. Đặc điểm truyền thống văn hóa dân  
tộc và văn hóa vùng, miền  
2. Môi trường gia đình  
3. Môi trường xã hội  
4. Chính sách giáo dục và đào tạo của  
nhà nước  
5. Sinh hoạt cộng đồng nơi cư trú  
6. Sự phát triển kinh tế xã hội  
7. Quan hệ bạn bè  
8. Giáo dục nhà trường  
9. Chương trình đào tạo  
10. Nội dung, hình thức phát triển kỹ  
năng mềm  
11. Phương pháp giảng dạy của giảng  
viên  
12. Thực hành, thực tập, trải nghiệm  
Biểu đồ 2: Các yếu tố khách quan ảnh hưởng quá trình phát triển kỹ năng mềm  
cho sinh viên  
89  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
nghiệm. Xuất phát từ kết quả khảo sát,  
có thể thấy: Yếu tố khách quan có ảnh  
hưởng tới quá trình phát triển kỹ năng  
mềm của sinh viên ở mức độ cao; đặc  
biệt các nhân tố thuộc nhóm liên quan  
đến giáo dục và đào tạo ảnh hưởng  
quan trọng và quyết định đến việc  
phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên.  
Biểu đồ 2 cho thấy, yếu tố khách  
quan ảnh hưởng đến quá trình phát  
triển kỹ năng mềm cho sinh viên được  
giảng viên và sinh viên đánh giá có tỷ  
lệ cao đó là: quan hệ bạn bè; giáo dục  
nhà trường; chương trình đào tạo; nội  
dung, hình thức phát triển kỹ năng  
mềm; phương pháp giảng dạy của  
giảng viên; thực hành, thực tập, trải  
3.5.2. Các yếu tố chủ quan  
1. Nhận thức của sinh viên  
2. Động cơ, hứng thú của sinh viên  
3. Thái độ của sinh viên  
100.00%  
50.00%  
0.00%  
1
2
3
GV SV  
Biểu đồ 3: Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng quá trình phát triển kỹ năng mềm  
cho sinh viên  
4.1. Phát triển chương trình đào  
Số liệu khảo sát cho thấy, các yếu  
tạo chuyên ngành thuộc khối ngành  
tố chủ quan ảnh hưởng tới quá trình  
Kinh tế theo tiếp cận chuẩn đầu ra có  
phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên  
tích hợp kỹ năng mềm  
rất cao. Sinh viên là đối tượng giáo dục  
và đào tạo của nhà trường mang tính  
chủ động, sáng tạo. Vì vậy để việc phát  
triển kỹ năng mềm cho sinh viên đạt  
hiệu quả thì yếu tố chủ quan của sinh  
viên: nhận thức, động cơ, hứng thú,  
thái độ phấn đấu rèn luyện của sinh  
viên là rất quan trọng và mang tính  
quyết định.  
Bước 1: Phân tích, đánh giá bối  
cảnh, nhu cầu đào tạo chuyên ngành,  
xác định hồ sơ nghề nghiệp và môi  
trường làm việc của sinh viên sau khi  
tốt nghiệp.  
Bước 2: Xác định hồ sơ năng lực  
của sinh viên tốt nghiệp (chuẩn đầu ra)  
bao gồm: Năng lực cốt lõi? Năng lực  
chung? Năng lực bổ trợ (trong đó có  
nhấn mạnh đến hệ thống kỹ năng mềm  
mà sinh viên cần đạt được); Xây dựng  
chương trình đào tạo xác định các  
4. Một số biện pháp phát triển kỹ  
năng mềm cho sinh viên các ngành  
ngoài sư phạm theo tiếp cận chuẩn  
đầu ra có tích hợp kỹ năng mềm  
90  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
năng lực thành phần của từng năng lực  
nêu trên.  
dựng các tiểu module, tài liệu cần giúp  
giảng viên hiểu về module, tiểu module  
dạy học kỹ năng mềm và cách lắp ráp  
các tiểu module với nhau nhằm đạt  
được mục tiêu dạy học; hướng dẫn  
cách xác định hệ vào của module;  
hướng dẫn xây dựng thân module;  
hướng dẫn xây dựng hệ ra của module;  
hướng dẫn xây dựng hệ thống thông tin  
phản hồi và hệ thống bài tập thực hành  
rèn luyện kỹ năng mềm cho sinh viên  
và các biện pháp, kỹ thuật dạy học theo  
module, những điểm giảng viên cần  
lưu ý trong quá trình tổ chức thực hiện.  
Bước 3: Xác định các module kiến  
thức đáp ứng năng lực thành phần từ  
module kiến thức tổ hợp các môn học  
đáp ứng năng lực đã mô tả.  
Bước 4: Xác định các môn học nền  
tảng, môn học cơ sở, môn học cốt lõi,  
môn học tự chọn trong chương trình  
đào tạo. Lập chương trình khung và kế  
hoạch đào tạo.  
Bước 5: Biên soạn chương trình đào  
tạo, đề cương chi tiết các môn học trong  
đó có môn học kỹ năng mềm.  
- Hướng dẫn giảng dạy các module  
kỹ năng mềm.  
Bước 6: Triển khai và hoàn thiện  
chương trình đào tạo.  
4.3. Tổ chức dạy học tích hợp phát  
triển kỹ năng mềm cho sinh viên  
4.2. Biên soạn tài liệu hướng dẫn  
giảng dạy kỹ năng mềm cho giảng viên  
- Thiết kế bài học theo hướng tích  
hợp kỹ năng mềm: Tương ứng với từng  
nội dung kiến thức của bài học, giảng  
viên phải thiết kế hoạt động để sinh viên  
trải nghiệm rèn luyện các kỹ năng mềm  
thông qua việc phối hợp các phương  
pháp, biện pháp, kỹ thuật dạy học.  
- Hướng dẫn thiết kế chương trình  
môn học có tích hợp kỹ năng mềm.  
- Hướng dẫn giảng viên thiết kế bài  
giảng có tích hợp kỹ năng mềm gồm:  
mục tiêu; nội dung, hình thức, phương  
pháp, biện pháp, kỹ thuật dạy học;  
kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học; đồ  
dùng phương tiện, học liệu và những  
yêu cầu cần có đối với giảng viên trong  
dạy học tích hợp kỹ năng mềm.  
- Tổ chức dạy học theo hướng tích  
hợp kỹ năng mềm: giảng viên nêu rõ mục  
tiêu kiến thức kỹ năng chuyên môn và các  
kỹ năng mềm mà sinh viên cần rèn luyện  
qua bài học; giảng viên có thể sử dụng các  
biện pháp kỹ thuật hiện đại nhằm tạo môi  
trường học tập, rèn luyện cho sinh viên; tổ  
chức các tình huống dạy học để hình thành  
- Tài liệu hướng dẫn thiết kế  
module dạy học kỹ năng mềm gồm:  
hướng dẫn cách xây dựng các module  
dạy học kỹ năng mềm; hướng dẫn xây  
91  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
tri thức, kỹ năng chuyên môn và kỹ năng  
mềm cho sinh viên.  
năng mềm, tính thành thục của kỹ năng  
mềm và tính linh hoạt của kỹ năng mềm.  
4.4. Tổ chức dạy học kỹ năng mềm  
theo hướng tiếp cận module  
4.5. Tăng cường tổ chức các hoạt  
động ngoài giờ lên lớp nhằm rèn luyện  
kỹ năng mềm cho sinh viên  
Cấu trúc của module dạy học kỹ  
năng mềm gồm: Hệ vào, thân module,  
hệ ra.  
- Tổ chức các lớp ngoại khóa về rèn  
luyện các kỹ năng mềm theo chủ đề.  
- Hệ vào của module dạy học kỹ  
năng mềm: Thể hiện chức năng đánh  
giá, kiểm tra điều kiện tiên quyết của  
sinh viên khi lĩnh hội kiến thức mới,  
giúp giảng viên nắm được sinh viên đã  
có kiến thức kỹ năng mềm nào, mức độ  
đạt được của từng kỹ năng mềm để  
quyết định các thức tổ chức dạy học  
phù hợp với đối tượng.  
Cấu trúc của một chủ đề:  
Chủ đề: KỸ NĂNG….  
+ Mục tiêu: Kiến thức, kỹ năng,  
thái độ và các năng lực cần đạt.  
+ Thông điệp.  
+ Tài liệu, phương tiện.  
+ Hướng dẫn tổ chức hoạt động.  
Giảng viên giới thiệu mục tiêu thông  
điệp của chủ đề, sử dụng các phương  
pháp tích cực như: Động não, nghiên  
cứu tình huống, thảo luận nhóm…  
- Thân module dạy học kỹ năng  
mềm: Chứa đựng đầy đủ các nội dung  
sinh viên cần phải học, tập luyện, rèn  
luyện, kèm theo những chỉ dẫn về  
phương pháp học tập, phương tiện dạy  
học nhằm giúp sinh viên tự học, tự rèn  
luyện để phát triển kỹ năng mềm.  
+ Hoạt động 1: Làm cho sinh viên  
hiểu được kỹ năng… là gì?  
Mục tiêu  
- Hệ ra của module dạy học kỹ  
năng mềm: Thể hiện chức năng tổng  
kết kiến thức, kỹ năng, thái độ mà sinh  
viên đã đạt được trong quá trình học  
module, hệ ra của module nhằm kiểm  
tra, đánh giá sinh viên có đạt được các  
mục tiêu về kỹ năng mềm đã đặt ra  
không? Thực hiện hệ ra của module  
dạy học kỹ năng mềm được đánh giá  
theo tiêu chí: tính đúng đắn của kỹ  
Cách tiến hành  
Kết luận  
+ Hoạt động 2: Làm cho sinh  
viên nắm được cách thức hình thành  
kỹ năng…  
Mục tiêu  
Cách tiến hành  
Kết luận  
92  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
+ Tổng kết, thông tin phản hồi.  
hướng theo kết quả; được xây dựng  
dựa trên chuẩn đầu ra và có tích hợp kỹ  
năng mềm; phân hóa được trình độ và  
năng lực của sinh viên; bao hàm đánh  
giá cả khả năng giao tiếp, hợp tác, ký  
kết hợp đồng, thuyết phục, đàm phán...  
- Tổ chức các hoạt động của Đoàn  
Thanh niên, Hội Sinh viên có tích hợp  
nội dung phát triển kỹ năng mềm.  
- Khuyến khích thành lập các câu  
lạc bộ sinh viên trong nhà trường.  
5. Kết luận  
- Tổ chức sinh viên đi thực tập, trải  
nghiệm lao động nghề nghiệp tại các  
doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh.  
Bài viết làm rõ thực trạng mức độ  
kỹ năng mềm của sinh viên khoa Kinh  
tế trường Đại học Đồng Nai, cho thấy  
các kỹ năng mềm chúng tôi khảo sát,  
đánh giá đã được nhà trường quan tâm  
và đã có chuẩn đầu ra, tuy nhiên đối với  
trường thì chưa đầy đủ, kỹ năng mềm  
chỉ mới được tích hợp trong chuẩn đẩu  
ra chương trình đào tạo các chuyên  
ngành ở cấp độ một, còn ở cấp độ môn  
học và bài học thì kỹ năng mềm chưa  
được quan tâm thể hiện rõ nét. Chúng  
tôi đề xuất một số biện pháp phát triển  
kỹ năng mềm cho sinh viên. Tuy nhiên  
do khuôn khổ bài viết hạn chế nên tác  
giả chưa thể hiện được thực trạng giáo  
dục kỹ nang mềm trong nhà trường.  
Đây có thể xem là tiền đề để phát triển  
kỹ năng mềm cho sinh viên.  
4.6. Đổi mới đánh giá kết quả học  
tập của sinh viên theo tiếp cận năng lực  
- Giảng viên cần xây dựng công  
cụ đánh giá kiến thức, kỹ năng và  
trình độ vận dụng của sinh viên; coi  
trọng đánh giá quá trình, đánh giá  
thường xuyên, đánh giá kết quả học  
tập của cá nhân, kết quả hoạt động  
nghiên cứu thực tiễn...  
- Giảng viên phải thiết kế được hệ  
thống các bài tập định hướng năng lực  
để tổ chức tập luyện và đánh giá năng  
lực của sinh viên, hệ thống bài tập định  
hướng năng lực phải đảm bảo các yêu  
cầu sau: mức độ khó khác nhau, mô tả  
rõ kiến thức, kỹ năng, yêu cầu, định  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Đại học Quốc gia Hà Nội (2010), Quy chế đào tạo đại học ở Đại học Quốc gia  
Hà Nội, QĐ số 3079/QĐ-ĐHQGHN tháng 10/2010  
93  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 06 - 2017  
ISSN 2354-1482  
DEVELOPING SKILLS FOR ECONOMIC STUDENTS OF DONGNAI  
UNIVERSITY ACCORDING TO STANDARDIZATION  
ABTRACT  
The development of soft skills for college students is an issue that needs  
attention. The paper examines the soft skills owned by students at the Economics  
Department of Dong Nai University and suggested measures to develop these skills  
in accordance with the outcome standards.  
Keywords: soft skills, outcome standards  
(Received: 1/8/2017, Revised: 15/9/2017, Accepted for publication: 24/10/2017)  
94  
pdf 15 trang yennguyen 10460 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên khoa Kinh tế trường Đại học Đồng Nai theo tiếp cận chuẩn đầu ra", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphat_trien_ky_nang_mem_cho_sinh_vien_khoa_kinh_te_truong_dai.pdf