Luận văn Tác động phong cách lãnh đạo tích hợp đến động lực phụng sự công của công chức tại địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH  
TRẦN THỊ THANH VÂN  
TÁC ĐỘNG PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO TÍCH HỢP  
ĐẾN ĐỘNG LỰC PHỤNG SỰ CÔNG CỦA CÔNG CHỨC  
TẠI ĐỊA BÀN TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2018  
i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH  
TRẦN THỊ THANH VÂN  
TÁC ĐỘNG PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO TÍCH HỢP  
ĐẾN ĐỘNG LỰC PHỤNG SỰ CÔNG CỦA CÔNG CHỨC  
TẠI ĐỊA BÀN TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU  
Chuyên nghành: Quản lý công  
Mã số: 8340403  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NHDKH: TS. NGUYỄN HỮU LAM  
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2018  
ii  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Tác động phong cách lãnh đạo  
tích hợp đến động lực phụng sự công của công chức tại địa bàn tỉnh  
Bà Rịa-Vũng Tàu” là kết quả của quá trình nghiên cứu thực sự và  
nghiêm túc từ những kiến thức có được trong quá trình học tập tại trường  
Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả thu thập số liệu được  
thực hiện trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, sau đó được thực hiện  
nghiên cứu từng bước để hoàn chỉnh và viết báo cáo dưới sự hướng dẫn  
khoa học của thầy TS. Nguyễn Hữu Lam.  
Nội dung nghiên cứu có tham khảo và sử dụng những thong tin từ  
các tài liệu trong và ngoài nước, các tài liệu tham khảo được liệt kê đầy đủ  
trong phần danh mục tài liệu tham khảo. Trong quá trình nghiên cứu còn  
nhiều hạn chế, kính mong quý thầy/cô và các bạn đọc bỏ qua cho những  
thiếu sót và xin chân thành nhận những góp ý để bài nghiên cứu hoàn  
chỉnh hơn.  
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 04 năm 2018  
Tác giả  
Trần Thị Thanh Vân  
iii  
LỜI CẢM ƠN  
***  
Luận văn được hoàn thành bởi sự nổ lực của bản thân, sự giúp đỡ tận  
tình của các thầy cô, bạn bè, các anh chị đồng nghiệp và những người thân  
trong gia đình.  
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô Trường Đại  
học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh đã tận tâm truyền đạt kiến thức và tạo điều  
kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình Cao học ngành Quản lý Công.  
Xin chân thành cảm ơn và kính trọng sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn  
Hữu Lam, người thầy đã nhiệt tình chỉ dẫn tôi trong suốt quá trình xây dựng  
đề cương và giúp tôi thực hiện hoàn thành luận văn này.  
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều  
kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp.  
Học viên  
Trần Thị Thanh Vân  
iv  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
: Khu vực công  
: Cán bộ công chức  
KVC  
CBCC  
v
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH  
Hình 2.1. Mô hình nghiên cứu  
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu  
Hình 4.1: Biểu đồ P – P plot của hôi quy phần dư chuẩn hóa  
Hình 4.2 Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn  
vi  
DANH MỤC BẢNG BIỂU  
Bảng 2.1 Nhóm yếu tố duy trì và nhóm yếu tố động lực của Herzberg  
Bảng 2.2 Mối quan hệ giữa mô hình: “10 yếu tố động viên liên quan đến  
thuộc tính công việc của Kovach” và “Thuyết hai yếu tố của Frederick  
Herzberg”  
Bảng 3.1. Thang nghiên cứu  
Bảng 3.2 Ý nghĩa giá trị của Cronback Alpha  
Bảng 4.1 Đặc điểm mẫu khảo sát  
Bảng 4.2: Kiểm định độ tin cậy Cronbach alpha  
Bảng 4.3: Phân tích nhân tố với các biến độc lập  
Bảng 4.4: Kết quả phân tích nhân tố EFA cho thang đo thuộc nhân tố Động  
lực phụng sự công  
Bảng 4.5: Sự khác biệt về Động lực phụng sự công theo các nhóm giới tính  
Bảng 4.6: Sự khác biệt về Động lực phụng sự công theo tuổi  
Bảng 4.7: Phân tích POST HOC TEST với kiểm định Bonferroni và  
Dunnett theo độ tuổi  
Bảng 4.8: Sự khác biệt về Động lực phụng sự công theo các nhóm trình độ  
học vấn  
Bảng 4.9: Sự khác biệt về Động lực phụng sự công theo thời gian công tác  
Bảng 4.10: Phân tích POST HOC TEST với kiểm định Bonferroni và  
Dunnett theo thời gian công tác  
Bảng 4.11. Kết quả kiểm định Pearson’s mối tương quan giữa biến phụ  
thuộc và các biến độc lập  
Bảng 4.12: Kết quả phân tích hồi quy đa biến  
Bảng 4.13: Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến  
Bảng 4.14: Tóm tắt kiểm định các giả thiết nghiên cứu  
Bảng 5.1 Yếu tố lãnh đạo theo nhiệm vụ  
Bảng 5.2 Yếu tố lãnh đạo theo quan hệ  
Bảng 5.3 Yếu tố lãnh đạo theo định hướng thay đổi  
vii  
Bảng 5.4 Yếu tố lãnh đạo định hướng đa dạng  
Bảng 5.5 Yếu tố lãnh đạo theo định hướng liêm chính  
viii  
MỤC LỤC  
TRANG PHỤ BÌA  
LỜI CAM ĐOAN  
LỜI CẢM ƠN  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH  
DANH MỤC BẢNG BIỂU  
ix  
x
xi  
1
CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU  
1.1. Vấn đề chọn đề tài nghiên cứu:  
Tạo động lực làm việc cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà  
nước là một trong những yếu tố quan trọng trong việc nâng cao năng suất,  
hiệu quả công việc cho cá nhân và tổ chức. Đồng thời, việc tạo động lực  
làm việc cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước có ý nghĩa  
quan trọng góp phần xây dựng bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu lực,  
hiệu quả, là từng bước đưa đất nước đi đến tăng trưởng và phát triển. Xã hội  
ngày càng phát triển, nguồn nhân lực có vai trò ngày càng cao.  
Hiện nay nước ta đang thực hiện cải cách hành chính từ trung ương  
tới địa phương nên yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực là yêu cầu cần  
thiết và quan trọng nhất quyết định đến sự thành bại của công cuộc cải cách  
hành chính. Cán bộ công chức là những người tiên phong, chủ chốt và là  
nguồn lực thực hiện mọi chính sách theo yêu cầu của Đảng, Nhà Nước,…và  
họ chính là những người trực tiếp thực thi nhiệm vụ trên. Vì vậy việc nâng  
cao năng lực, trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức có một ý nghĩa hết  
sức quan trọng và cần thiết hiện nay. Chính vì vậy để nâng cao hơn nữa  
hiệu quả làm việc của cán bộ công chức thì công tác tạo động lực cho người  
lao động cần phải được quan tâm để tạo động lực làm việc cho cán bộ công  
chức.  
Chúng ta thấy rằng, động lực chính là nhân tố là đòn bẩy kích thích  
con người hăng say làm việc, phát huy hết khả năng làm việc và nâng cao  
hiệu suất, hiệu quả công việc được giao. Động lực làm việc của mỗi nhân  
viên là khác nhau, có người vì thu nhập, có người vì đam mê công việc, có  
người vì làm việc đúng sở thích, chuyên môn,… nhưng chung quy lại động  
lực chính là sức mạnh tiềm ẩn trong mỗi người lao động, khi tác động trúng  
động lực làm việc của người lao động thì họ sẵn sàng làm việc hết mình,  
   
2
hoàn thành xuất sắc công việc được giao. Mỗi người mỗi vị trí khác nhau  
nên động lực làm việc cũng khác nhau do đó cần có những yếu tố tạo động  
lực phù hợp để phát huy năng lực làm việc của nhân viên.  
Khi người lao động có động lực làm việc thì họ sẽ phát huy óc sáng  
tạo trong công việc, họ cảm thấy thoải mái, say mê và đam mê với công  
việc. Vì vậy sự sáng tạo trong công việc được khai thác một cách hiệu quả,  
tạo ra sự đột phá và những kết quả ngoài mong đợi, giúp mang lại hiệu quả  
cao cho tổ chức.  
Thực tế đã có nhiều nghiên cứu chứng minh rằng tai nạn nghề  
nghiệp, đạo đức nghề nghiệp, tỷ lệ vi phạm lao động và bỏ việc có mối  
quan hệ tỷ lệ nghịch với động lực làm việc. Chính vì vậy việc tạo động lực  
cho người lao động rất cần thiết và quan trọng. Nó giúp cho tổ chức giảm  
thiểu tai nạn lao động trong quá trình làm việc, giảm thiểu việc bỏ việc và  
vi phạm trong lao động.  
Ngoài ra động lực làm việc giúp cho bầu không khí làm việc trong tổ  
chức được vui vẻ, thoải mái, người lao động cảm thấy thân thiện, dễ dàng  
trao đổi chia sẻ thông tin với đồng nghiệp, lãnh đạo và giảm thiểu sự đố kỵ,  
tranh chấp và gây gổ trong công việc.  
Đối với cán bộ công chức, viên chức thì động lực làm việc giúp cho  
cán bộ công chức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, giúp họ hoàn  
thành tốt việc cung cấp dịch vụ công, tạo thái độ vui vẻ với người dân khi  
thực hiện giao dịch. Hiện nay cán bộ công chức tại Việt Nam nói chung và  
công chức tại địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nói riêng vẫn còn tình trạng  
lãng phí thời gian làm việc tại đơn vị, cơ quan. Tình trạng này diễn ra  
thường xuyên và liên tục, đặc biệt trong thời gian vừa qua còn có tình trạng  
cán bộ công chức bỏ việc cơ quan đi lễ chùa vào các dịp lễ lớn gây ảnh  
3
hưởng không nhỏ tới uy tín của cán bộ công chức Nhà Nước và ảnh hưởng  
tới chất lượng phục vụ của các đơn vị sự nghiệp.  
Xuất phát từ lý do cấp thiết đó, tôi chọn đề tài: “Tác động phong  
cách lãnh đạo tích hợp đến động lực phụng sự công của công chức tại  
địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của tác  
giả với mục tiêu chính là xác định phong cách lãnh đạo tích hợp đến công  
chức tại địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, tìm ra những hạn chế, nguyên nhân  
và đề xuất giải pháp hoàn thiện.  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về động lực phụng sự công trong đơn vị  
hành chính sự nghiệp  
- Xác định nhân tố phong cách lãnh đạo tích hợptác động đến động  
lực phụng sự công của công chức tại địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.  
- Đề xuất một số gợi ý chính sách nhằm nâng cao động lực phụng sự  
công của công chức tại địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.  
1.3. Câu hỏi nghiên cứu  
- Thực trạng động lực phụng sự công của công chức tại địa bàn tỉnh  
Bà Rịa-Vũng Tàu hiện nay như thế nào?  
- Các nhân tố phong cách lãnh đạo tích hợp nào có tác động đến động  
lực phụng sự công của công chức tại địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu?  
- Các gợi ý nào góp phần nâng cao động lực phụng sự công của công  
chức tại địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu?  
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
- Đối tượng nghiên cứu: Tác động phong cách lãnh đạo tích hợp đến  
động lực phụng sự công của công chức tại địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu  
     
4
- Đối tượng khảo sát: cán bộ, công chức tại địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng  
Tàu.  
- Phạm vi không gian nghiên cứu: các cơ quan nhà nước tại địa bàn  
tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.  
- Khung thời gian thu thập dữ liệu sơ cấp: Tháng 03/2018-04/2018  
1.5. Cấu trúc luận văn  
Cấu trúc luận văn gồm 5 chương với nội dung chính như sau  
Chương 1:Phần mở đầu  
Chương 2: Cơ sở lý thuyết  
Chương 3:Phương pháp nghiên cứu  
Chương 4: Kết quả nghiên cứu  
Chương 5: Kết luận và kiến nghị  
 
5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC  
Chương 1 đã trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu. Trong chương  
2 sẽ tiếp tục trình bày những lý thuyết liên quan đến nghiên cứu như lý  
thuyết về phong cách lãnh đạo tích hợp, lý thuyết về động lực phụng sự  
công và giá trị sứ mạng của tổ chức công. Từ cơ sở lý thuyết đó, đưa ra mô  
hình phục vụ cho nghiên cứu và các giả thuyết cần kiểm định.  
2.1.Các khái niệm  
2.1.1.Lãnh đạo  
Xã hội loài người hình thành đã kéo theo sự xuất hiện của hoạt động  
lãnh đạo và trở thành một trong những nhân tố có vai trò quan trọng quyết  
định trong sự phát triển xã hội loài người. Do đó, nó luôn nhận được sự  
quan tâm của tất cả mọi người. Đặc biệt, trong giai đoạn hướng đến công  
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Ngày nay, lãnh đạo trở thành một chủ đề  
được quan tâm đặc biệt. Trong bối cảnh một xã hội đầy biến động như hiện  
nay, thì sự lãnh đạo đang phải đối mặt với những cơ hội cũng như những  
thử thách vô cùng to lớn cùng với sự tồn tại và phát triển của các cộng đồng  
và các tổ chức. Để khai thác tốt những cơ hội và xử lý thỏa đáng những thử  
thách cho sự phát triển của các cộng đồng, các tổ chức đòi hỏi những năng  
lực lãnh đạo mạnh mẽ đầy thuyết phục.  
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về lãnh đạo, mỗi quan niệm có  
những cách tiếp cận khác nhau. Theo Terry (1972), “Lãnh đạo là một hoạt  
động gây ảnh hưởng đến con người nhằm phấn đấu một cách tự nguyện cho  
mục tiêu của nhóm”; hoặc theo Kotter (1998), lãnh đạo là một quá trình  
thúc đẩy nhóm gồm nhiều cá nhân tiến triển theo cùng một hướng bằng  
những cách thức không mang tính ép buộc. Lãnh đạo hiệu quả được định  
nghĩa là lãnh đạo tạo ra được những bước tiến triển mang tính lợi ích cao  
nhất và lâu dài của tập thể.  
     
6
Theo Stogdill (1974): “Nhà lãnh đạo phải luôn được định nghĩa cùng  
với sự ràng buộc của tính cách ,cách ứng xử, ảnh hưởng đối với người khác,  
các chuỗi hoạt động tương tác, quan hệ, vị trí quản lý, và nhìn nhận của  
người khác về tính hợp pháp của quyền lực và sự tạo dựng ảnh hưởng”  
House(2004): “Định nghĩa rằng nhà lãnh đạo là cá nhân có khả năng  
gây ảnh hưởng, kích thích và khuyến khích người khác đóng góp vào các  
hoạt động có hiệu quả và thành công của tổ chức họ trực thuộc. Lãnh đạo là  
một chức năng cơ bản của quản trị, nếu các nhà quản trị không nắm được  
yếu tố con người trong các họat động của họ và không biết lãnh đạo con  
người để đạt được các kết quả như mong muốn thì tất cả các chức năng của  
quản trị sẽ không hoàn thành tốt”.  
Theo Đỗ Quốc Sam, (2007): “Lãnh đạo là chỉ đường, vạch lối, nhìn  
xa trong rộng, hướng tới mục tiêu cuối cùng,quan tâm đến những vấn đề  
chiến lược, những mục tiêu dài hạn, dùng biện pháp động viên, thuyết phục  
gây ảnh hưởng, dựa vào đạo lý là chính. Lãnh đạo tác động đến ý thức của  
con người, lãnh đạo thuộc về phạm trù tư tưởng, lý luận và đạo đức, không  
có tính cưỡng chế. Lãnh đạo thường được hiểu là xác định phương hướng,  
mục tiêu dài hạn, lựa chọn chủ trương chiến lược, điều hòa, phối hợp các  
mối quan hệ và động viên, thuyết phục con người. Trong những tình huống  
có nhiều biến động, thường cần có bàn tay lãnh đạo, để xử lý và ứng phó  
với những rủi ro có tính chiến lược. Khi công việc phức tạp, đụng chạm đến  
nhiều người tham gia, mục đích không rõràng, nhiệm vụ khó khăn, nhân tố  
ảnh hưởng nhiều thì cần làm rõ mục tiêu, điều tiết các mối quan hệ, động  
viên thuyết phục nên phải có bàn tay lãnh đạo”.  
Theo Trương Hòa Bình và Võ Thị Tuyết (2010): “Lãnh đạo là quá  
trình tác động đến con người sao cho họ cố gắng một cách tự nguyện và  
nhiệt tình phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức. Người lãnh đạo  
7
không đứng đằng sau để thúc đẩy hay thúc giục, họ đặt mình lên trước,  
động viên mọi người hoàn thành các mục tiêu đã đề ra. Bất kể một người  
quản lý lập kế hoạch, tổ chức và kiểm tra kết quả có tốt đến đâu, người đó  
vẫn phải hỗ trợ những hoạt động đó bằng cách đưa ra những chỉ dẫn cho  
mọi người, thông tin đầy đủ và lãnh đạo tốt. Việc lãnh đạo phải dựa trên sự  
hiểu biết về động cơ của con người là gì và điều gì làm cho họ thỏa mãn khi  
họ góp sức vào việc hoàn thànhcác mục tiêu của tổ chức.”  
Có rất nhiều lý thuyết lãnh đạo đề xuất rằng lĩnh vực này có vẻ rất  
hỗn loạn. Tuy nhiên, những lý thuyết này không phải là sự giải thích mâu  
thuẫn của quá trình lãnh đạo, nhưng hầu hết là bổ sung và hướng tới các  
khía cạnh khác nhau của cùng một hiện tượng. Một mô hình đơn giản được  
đề xuất trong bài viết này để xây dựng một lý thuyết lãnh đạo thống nhất  
hoặc tích hợp, chỉ bằng cách đặt lại các vấn đề khó qiải quyết. Lý thuyết  
phong cách lãnh đạo được đề xuất dựa trên thực tế là một quá trình liên  
quan đến người lãnh đạo, người đi theo và bối cảnh. Tất cả ba quan điểm  
nên được thêm vào để xác định một hình ảnh tốt hơn.  
Thoạt nhìn, thế giới của lý thuyết lãnh đạo có vẻ rất khó hiểu và phức  
tạp. Có nhiều lý thuyết mới được thêm gần như mỗi năm cho một số lượng  
lớn lý thuyết đã được đề xuất, tạo ra một hình ảnh khó hiểu. Tuy nhiên,  
thực tế là tất cả các lý thuyết lãnh đạo có thể được phân thành hai nhóm  
chính hoặc loại, không độc quyền nhưng bổ sung. Các lý thuyết lãnh đạo có  
thể được phân thành các lý thuyết hướng tới lãnh đạo như là cá nhân và các  
lý thuyết hướng tới mối quan hệ giữa lãnh đạo và người theo. Yukl (2006)  
gợi ý rằng các lý thuyết lãnh đạo hiện tại cũng có thể được phân loại như  
các lý thuyết mang tính mô tả so với các quy tắc và các lý thuyết phổ quát  
so với ngẫu nhiên. Tuy nhiên, các nhà lý thuyết dẫn đầu so với các nhà tâm  
8
lý học làm trung tâm thể hiện sự phân loại tốt các lý thuyết lãnh đạo và một  
cách hiệu quả để tổ chức nghiên cứu của họ.  
Các lý thuyết hướng tới lãnh đạo (theories oriented to the leader)  
được đặc trưng bởi việc tập trung vào lãnh đạo, giả định rằng lãnh đạo chủ  
yếu là chất lượng cá nhân. Chúng bao gồm:  
- Các lý thuyết về tính trạng: Trong Thế chiến II, nhiều nhà nghiên  
cứu quan tâm đến việc xác định các đặc điểm cá nhân của các nhà lãnh đạo  
hiệu quả. Những nghiên cứu này dựa trên ý tưởng rằng các nhà lãnh đạo  
không chỉ có những đặc điểm chung nhưng những đặc điểm này khác với  
những người không phải là những nhà lãnh đạo. Do đó, việc xác định các  
đặc điểm lãnh đạo sẽ giúp xác định được các cá nhân có tiềm năng lãnh đạo  
và phát triển chúng như các nhà lãnh đạo trong quân đội và các tổ chức  
khác. Tuy nhiên, Stogdill (1948) đã xem xét hơn 100 bài báo viết về lý  
thuyết tính trạng và kết luận rằng một người không trở thành một nhà lãnh  
đạo bằng cách sở hữu những đặc điểm nhất định. Tính cách nhân cách  
không đủ để trở thành một nhà lãnh đạo, như Stogdill đã tìm ra, nhưng một  
số đặc điểm là cần thiết theo Avolio (2011). Avolio ước tính rằng khoảng  
30% sự phát triển lãnh đạo là do tính năng nhân tạo bẩm sinh. Do đó, mặc  
dù lý thuyết tính trạng không được chấp nhận ngày nay như nó đã được đề  
xuất ban đầu nó vẫn còn một phần hợp lệ theo nghĩa là các nhà lãnh đạo  
thực sự cần một số tính cách cá tính để có hiệu quả.  
- Cách tiếp cận hành vi: Lewin và Lippet (1938) đã làm việc theo một  
hướng khác nhau từ lý thuyết tính trạng, tìm kiếm sự thích hợp hành vi để  
trở thành một nhà lãnh đạo giỏi. Các tác giả này cho rằng các nhà lãnh đạo  
đã hoặc là độc đoán hoặc dân chủ, và sau đó Tannebaum và Schmidt (1958)  
gợi ý rằng một sự kết hợp của cả hai phong cách là có thể và mong muốn  
tùy thuộc về hoàn cảnh tổ chức. Blake and Mouton (1985) đề xuất một cách  
9
tiếp cận hơi khác, phân tích khi nào các nhà lãnh đạo nên chú ý nhiều hơn  
đến công việc hoặc cho người dân tùy theo bối cảnh.  
- Lý thuyết ngẫu nhiên: Fiedler (1954) là người tiên phong trong lĩnh  
vực các lý thuyết ngẫu nhiên về lãnh đạo. Mặc dù phần nào tương tự các  
cách tiếp cận hành vi, Fiedler và những người theo ông quan tâm đến việc  
cho thấy một hành vi nhất định không luôn luôn quyết định sự lãnh đạo  
hiệu quả, vì phong cách nên phù hợp với tình hình. Lorsch (2010) đã bảo vệ  
tính hợp lệ của lý thuyết ngẫu nhiên về lãnh đạo và đặc biệt là các ý tưởng  
của Fiedler về ảnh hưởng của đội ngũ các yếu tố như mối quan hệ của nhà  
lãnh đạo với cấp dưới và quyền lực của nhà lãnh đạo, cũng như lập luận của  
ông rằng thay vào đócủa nhà lãnh đạo thay đổi phong cách của mình theo  
tình hình là dễ dàng hơn để lựa chọn các nhà lãnh đạo có phong cách tốt  
hơn phù hợp với một tình huống cụ thể.  
- Lãnh đạo đạo đức: Trong giai đoạn hiện tại của nghiên cứu lãnh  
đạo, người ta thường chấp nhận rằng các nhà lãnh đạo nên: được xác  
thực,hoạt động như họ, không bắt chước ai (George, Sims, McLean, &  
Mayer, 2007); có đạo đức hành vi, để mọi người có thể tin tưởng họ  
(Mendenhall, et al, 2013); có trách nhiệm, ra quyết định kinh doanh mà  
không chỉ quan tâm đến lợi ích của cổ đông, mà còn cả các bên liên quan  
khác như nhân viên, khách hàng, môi trường, cộng đồng và các thế hệ  
tương lai (Waldman & Balden, 2014); có thể giải quyết khủng hoảng và tồn  
tại với họ (George, 2009); thể hiện khả năng thích ứng, áp dụng tính sáng  
tạo vào quá trình ra quyết định trong mộtbối cảnh bất ngờ để đối phó với sự  
phức tạp (Bennis và Thomas, 2002, Heifetz, Linsky & Grashow, 2009).  
- Lý thuyết Lãnh đạo Phụ nữ: Ibarra, Ely và Kolb (2013) lập luận  
rằng có nhiều rào cản đối với phụ nữ là lãnh đạo, nhưng đơn giản xác định  
những định kiến hiện có có thể giúp nam giới và phụ nữ hiểu điều gì sẽ xảy  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 125 trang yennguyen 19520 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Tác động phong cách lãnh đạo tích hợp đến động lực phụng sự công của công chức tại địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_tac_dong_phong_cach_lanh_dao_tich_hop_den_dong_luc.pdf