Luận văn Nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

VIỆN HÀN LÂM  
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
————————  
HỒ THANH LAM  
NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU  
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG  
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC  
HÀ NỘI - 2016  
VIỆN HÀN LÂM  
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
————————  
HỒ THANH LAM  
NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU  
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG  
Chuyên ngành : Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm  
Mã số  
: 60.38.01.05  
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC  
GS. TS. VÕ KHÁNH VINH  
HÀ NỘI - 2016  
MỤC LỤC  
PHẠM SỞ HỮU TỪ KHÍA CẠNH NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI.........53  
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
ANTT  
BLHS  
: An ninh trật tự  
: Bộ luật hình sự  
CQTHTT  
KCN  
: Cơ quan tiến hành tố tụng  
: Khu công nghiệp  
TAND  
: Tòa án nhân dân  
TTATXH  
VKSND  
XPSH  
: Trật tự an toàn xã hội  
: Viện kiểm sát nhân dân  
: Xâm phạm sở hữu  
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Tỉnh Kiên Giang là một tỉnh nằm ven biển miền Tây của Tổ quốc,  
thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Trung tâm hành chính, thương mại, dịch vụ của  
tỉnh là thành phố Rạch Giá, cách thành phố Hồ Chí Minh 250 km về phía Tây có  
đường biên giới trên bộ giáp Campuchia. Diện tích tự nhiên 6.347,1 km², có 15  
đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 01 thành phố, 01 thị xã và 13 huyện, với dân số  
gần 1.766.921 người, có 85,5% là dân tộc Kinh, dân tộc Khmer chiếm khoảng  
12,2%, còn lại là một số dân tộc khác như dân tộc Hoa, Chăm, Tày,  
Mường… Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 518.921 người, chiếm tỷ lệ  
29,37%; dân số sống tại nông thôn đạt gần 1.248.000 người, chiếm tỷ lệ 70,63%;  
dân số nam có 888.600 người, chiếm tỷ lệ 50, 29%; dân số nữ có 878.300 người,  
chiềm tỷ lệ 49,71%. Về tôn giáo có 587.752 người theo tôn giáo, chiếm khoảng  
32,6% tổng số dân, trong đó Phật giáo chiếm tỷ lệ 25%, Thiên chúa giáo chiếm tỷ  
lệ 5,7%, còn lại là các tôn giáo khác như Cao đài, Hòa hảo, …  
Với chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước ta đã tạo điều kiện không  
nhỏ cho quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn tỉnh Kiên Giang,  
thu hút nhiều các dự án đầu tư từ nguồn vốn nước ngoài, giải quyết vấn đề việc  
làm và đời sống của người dân ngày càng được nâng cao. Trong những năm qua,  
cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, đời sống vật  
chất, tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng lên. Bên cạnh đó, dưới góc  
độ tội phạm học thì tình hình tội phạm ở nước ta cũng phát triển theo chiều hướng  
gia tăng, trong đó có các tội xâm phạm đến sở hữu của con người xảy ra ngày càng  
nhiều và diễn biến ngày càng phức tạp, một bộ phận nhân dân có đời sống kinh tế  
khó khăn, không việc làm, việc làm không ổn định; sự phân hóa giàu nghèo và sự  
xâm nhập văn hóa độc hại, lối sống thực dụng, các tệ nạn xã hội ngày càng tăng,…  
đang làm cho tình hình TTATXH hết sức phức tạp, là điều kiện thuận lợi làm phát  
sinh tội phạm nói chung và tội phạm XPSH nói riêng. Thực tế cho thấy, trên địa  
bàn tỉnh Kiên Giang, tình hình tội XPSH như cướp, trộm cắp, lừa đảo... đang có  
diễn biến phức tạp, gia tăng cả về số vụ, số đối tượng lẫn tính chất nguy hiểm.  
Theo thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, từ năm 2011 đến 2015  
đã phát hiện, xét xử 2.068 vụ án với 3.384 bị cáo phạm tội XPSH, chiếm 39,31%  
1
 
(2.068/5.261) tổng số vụ án và chiếm 35,53% (3.384/9.523) tổng số bị cáo mà Tòa  
án đã xét xử.  
Thực hiện Chỉ thị số 48 CT/TW ngày 22/10/2010 của Bộ chính trị về “Tăng  
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình  
hình mới” và Quyết định số 138/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 của Thủ tướng  
Chính phủ về phê duyệt Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm, các cơ  
quan, ban ngành, đoàn thể trên địa bàn tỉnh đã đề ra nhiều kế hoạch chỉ đạo, tập  
trung lực lượng, áp dụng nhiều biện pháp nghiệp vụ và tuyên truyền nhân dân tích  
cực tham gia phòng, chống tội phạm. Song, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà  
tình hình tội XPSH trên địa bàn vẫn không giảm, thậm chí có một số tội phạm tiếp  
tục gia tăng, gây ảnh hưởng đến quyền sở hữu về tài sản của các cá nhân, cơ quan,  
tổ chức; làm cho tình hình TTATXH hết sức phức tạp, tác động xấu đến khả năng  
thu hút đầu tư và phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, công tác đấu tranh phòng, chống  
loại tội phạm này của các cơ quan chức năng còn có nhiều bất cập, chưa có sự phối  
hợp chặt chẽ, sự hỗ trợ của quần chúng nhân dân còn chưa tích cực, nên hiệu quả  
công tác phòng, chống tội XPSH trên địa bàn tỉnh Kiên Giang còn nhiều hạn chế.  
Nhân thân người phạm tội giữ vai trò quan trọng trong cơ chế hành vi phạm  
tội. Do đó, để đấu tranh phòng, chống có hiệu quả với tình hình tội XPSH cần  
nhận thức một cách đúng đắn, sâu sắc, nghiên cứu làm rõ nhân thân người phạm  
tội XPSH nhằm xác định nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, từ đó  
có thể xây dựng các biện pháp phòng ngừa hữu hiệu tình hình tội XPSH nói riêng  
và tình hình tội phạm nói chung; giúp cho việc định tội, định khung, quyết định  
hình phạt một cách chính xác; đề ra các biện pháp giáo dục, cải tạo hiệu quả đối  
với người phạm tội.  
Trên phương diện thực tiễn, các CQTHTT tại tỉnh Kiên Giang từ lâu đã chú  
trọng sử dụng các đặc điểm nhân thân người phạm tội trong quá trình giải quyết  
các vụ án XPSH, định tội, định khung, quyết định hình phạt một cách chính xác,  
cũng như đề ra các biện pháp hữu hiệu nhằm giáo dục, cải tạo người phạm tội  
XPSH. Tuy nhiên, việc nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức độ cá nhân. Yêu cầu đấu  
tranh phòng, chống tội XPSH đòi hỏi phải nghiên cứu nhân thân người phạm tội  
XPSH ở mức độ khái quát hơn là mức độ nhóm và mức độ tình hình tội phạm.  
Nhằm hoàn thiện hệ thống lý luận về nhân thân người phạm tội XPSH, cũng như  
2
phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này trên địa bàn tỉnh Kiên  
Giang, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu  
trên địa bàn tỉnh Kiên Giang” làm đề tài luận văn thạc sỹ.  
2. Tình hình nghiên cứu  
Việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội đã được đề cập trong một số  
công trình nghiên cứu luật học tiêu biểu như:  
- Luận văn Thạc sĩ luật học: Nhân thân người phạm tội trong tội phạm học  
của Nguyễn Thị Thanh Thủy (1996), Đại học Luật Hà Nội;  
- Luận văn Thạc sĩ luật học: Phòng ngừa tội phạm cướp tài sản trên địa bàn  
tỉnh Vĩnh Long từ góc độ nhân thân người phạm tội của Nguyễn Chí Công (2013),  
Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh;  
- Luận văn Thạc sĩ luật học: Nhân thân người phạm tội trên địa bàn Quận  
7, thành phố Hồ Chí Minh của Phạm Uyên Thy (2015), Học viện khoa học xã hội;  
- Luận văn Thạc sĩ luật học: Đặc điểm nhân thân người phạm tội hiếp dâm  
trẻ em trên địa bàn tỉnh Đồng Nai dưới góc độ tội phạm học của Ngô Minh Hải  
(2015), Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh;  
- Luận án Tiến sĩ luật học: Nhân thân người phạm tội trong trong luật hình  
sự Việt Nam của Nguyễn Thị Thanh Thủy, năm 2005;  
- Bài viết: “Nhân thân người phạm tội: Một số vấn đề lý luận cơ bản” của  
tác giả GS.TS. Lê Cảm, Tạp chí Toà án, số 10/2001, tr.7-11 và Số 11/2001, tr. 5-8;  
- Bài viết: “Nhân thân bị can và một số khái niệm kề cận” của tác giả TS.  
Bùi Kiên Điện, Tạp chí Luật học, số 6/2001, tr. 14-18;  
- Bài viết: “Một số vấn đề về nhân thân người phạm tội” của tác giả Nguyễn  
Thị Thanh Thuỷ, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 5/2001, tr. 46-53;  
- Bài viết: “Nhân thân người phạm tội với việc quy trách nhiệm hình sự”  
của tác giả Nguyễn Thị Thanh Thuỷ, Tạp chí Toà án, số 8/2001, tr. 2-7;  
- Bài viết: “Nhân thân người phạm tội một căn cứ để quyết định hình phạt”  
của tác giả Trần Văn Sơn, Tạp chí Luật học, số 1/1997, tr. 41-43;  
- Bài viết: “Nhân thân người phạm tội một căn cứ cần cân nhắc khi quyết  
định hình phạt” của tác giả Trịnh Tiến Việt, Tạp chí Kiểm sát, số 1/2003, tr. 21-23;  
3
- Bài viết: “Cần có biện pháp để thống nhất khi áp dụng tình tiết đã bị xử  
phạt hành chính trong Bộ luật hình sự” của tác giả Lê Đức Tùng, Tạp chí Kiểm  
sát, số 5/2005, tr. 34-36;  
- Bài viết: “Vấn đề nhân thân người phạm tội trong thực tiễn quyết định  
hình phạt” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Thuỷ, Tạp chí Toà án nhân dân, số  
19/2005, tr. 3-9;  
- Bài viết: “Vấn đề nhân thân người phạm tội trong thực tiễn truy cứu trách  
nhiệm hình sự” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Thuỷ, Tạp chí Kiểm sát, số  
17/2005, tr. 32-35;  
- Bài viết: “Các tình tiết định khung tăng nặng trong tội giết người phản  
ánh mức độ lỗi và các đặc điểm về nhân thân người phạm tội” của tác giả Đỗ Đức  
Hồng Hà, Tạp chí Toà án nhân dân, số 18/2005, tr. 17- 20;  
- Bài viết: “Một số đặc điểm chú ý về nhân thân của người phạm tội về ma  
tuý ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Tuyết Mai, Tạp chí Luật học, số 11/2006, tr.  
32-37;  
- Bài viết: “Các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự liên quan đến nhân  
thân người phạm tội” của tác giả Đinh Văn Quế, Tạp chí Toà án, số 13/2009, tr.  
23- 27 và số 14,tr. 19-28;  
- Bài viết: “Một số vấn đề nhân thân người phạm tội” của tác giả Nguyễn  
Quang Hạnh, Tạp chí Nghề luật, số 1/2013, tr. 52-57;  
- Bài viết: “Đặc điểm nhân thân người phạm tội và phương thức thực hiện  
tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Gia Lai” của tác giả Lê Văn Định, Tạp chí  
Kiểm sát, số 6/2015, tr. 47-53  
Các tác giả trong các công trình nghiên cứu trên đã phân tích làm rõ vai trò  
của nhân thân người phạm tội trong quyết định hình phạt, trong định tội danh hoặc  
trong quy định liên quan đến các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự. Một số  
tác giả đã tập trung đi sâu phân tích đặc điểm nhân thân người phạm tội gắn với  
một số loại tội phạm cụ thể, như tội giết người, tội trộm cắp tài sản, các tội phạm  
về ma tuý… Một số công trình cũng đã có những nghiên cứu có hệ thống về nhân  
thân người phạm tội trên một địa bàn nhất định, như địa bàn tỉnh Vĩnh Long, tỉnh  
Đồng Nai hay trên địa bàn Quận 7 Thành Phố Hồ Chí Minh. Những kết quả của  
4
các công trình nghiên cứu này cũng là những tri thức, hiểu biết quan trọng mà tác  
giả sẽ kế thừa có chọn lọc trong quá trình nghiên cứu làm đề tài của mình. Tuy  
nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về nhân thân người  
phạm tội XPSH từ thực tiễn tỉnh Kiên Giang. Vì vậy, trên cơ sở kế thừa những tri  
thức lý luận nền tảng, cũng như những tri thức về nhân thân người phạm tội trong  
các công trình nghiên cứu mà mình tiếp cận được, tác giả sẽ vận dụng đi sâu  
nghiên cứu về nhân thân người phạm tội XPSH trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.  
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu  
3.1. Mục đích nghiên cứu  
Trên cơ sở làm rõ những đặc điểm nhân thân người phạm tội XPSH xảy ra  
trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, nghiên cứu phân tích các yếu tố tác động đến sự hình  
thành các đặc điểm nhân thân xấu ở người phạm tội, luận văn hướng đến mục đích  
đề xuất các giải pháp thiết thực, đồng bộ để tăng cường phòng ngừa tình hình tội  
XPSH trên địa bàn tỉnh Kiên Giang trong giai đoạn hiện nay từ khía cạnh nhân  
thân người phạm tội.  
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu  
Để đạt được mục tiêu nêu trên, đề tài đi sâu giải quyết các nhiệm vụ cơ bản  
sau:  
- Thứ nhất, hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về nhân thân người  
phạm tội XPSH;  
- Thứ hai, nghiên cứu phân tích làm rõ các đặc điểm nhân thân người phạm  
tội XPSH và các yếu tố tác động đến sự hình thành nhân thân người phạm tội  
XPSH trên địa bàn tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2011 - 2015;  
- Thứ ba, kiến nghị việc hoàn thiện giải pháp phòng ngừa các tội xâm phạm  
sở hữu từ khía cạnh nhân thân người phạm tội.  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
4.1. Đối tượng nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nhân thân người phạm tội XPSH trên địa  
bàn tỉnh Kiên Giang. Để nghiên cứu về nhân thân người phạm tội XPSH trên địa  
bàn tỉnh Kiên Giang, tác giả dựa trên các số liệu thống kê xét xử hình sự sơ thẩm  
5
của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2011 – 2015, cũng như trên  
cơ sở kết quả nghiên cứu 100 bản án xét xử sơ thẩm của TAND các cấp tỉnh Kiên  
Giang giai đoạn 2011 – 2015 được thu thập một cách ngẫu nhiên và tiến hành thực  
hiện 300 phiếu điều tra xã hội học nhằm đánh giá vai trò của giáo dục trong gia  
đình và nhà trường đối với người chưa thành niên.  
4.2. Phạm vi nghiên cứu  
- Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu nhân thân người phạm tội  
XPSH dưới góc độ tội phạm học và phòng ngừa tội phạm trên địa bàn tỉnh Kiên  
Giang.  
- Phạm vi về thời gian: Từ năm 2011 đến năm 2015.  
- Phạm vi về tội danh: Đề tài chỉ nghiên cứu các tội về XPSH quy định tại  
chương XIVcủa BLHS, gồm Tội cướp tài sản (Điều 133), Tội bắt cóc nhằm chiếm  
đoạt tài sản (Điều 134), Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 135), Tội cướp giật tài sản  
(Điều 136), Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137), Tội trộm cắp tài sản  
(Điều 138), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139), Tội lạm dụng tín nhiệm  
chiếm đoạt tài sản (Điều 140), Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 141), Tội sử  
dụng trái phép tài sản (Điều 142), Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản  
(Điều 143), Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà  
nước (Điều 144), Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145).  
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu  
5.1. Phương pháp luận  
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa  
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà  
nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn  
TTATXH; các tri thức khoa học pháp lý của tội phạm học, pháp luật hình sự, khoa  
học điều tra hình sự.  
5.2. Phương pháp nghiên cứu  
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù của tội phạm học,  
cụ thể:  
6
- Phương pháp nghiên cứu lý luận, phân tích, so sánh, bình luận… được sử  
dụng để làm rõ những vấn đề lý luận chung về nhân thân người phạm tội XPSH.  
- Phương pháp nghiên cứu lý luận, phân tích, quy nạp, hệ thống, diễn  
dịch, thống kê, đối chiếu, suy luận logic, nghiên cứu bản án, điều tra xã hội học…  
được sử dụng để làm rõ các đặc điểm nhân thân người phạm tội XPSH và các yếu  
tố tác động đến sự hình thành nhân thân người phạm tội XPSH trên địa bàn tỉnh  
Kiên Giang giai đoạn 2011 – 2015.  
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm, phân tích, suy luận logic… được sử  
dụng để nhằm đưa ra kiến nghị việc hoàn thiện các giải pháp phòng ngừa tình hình  
tội XPSH từ góc độ nhân thân người phạm tội.  
Để có thêm chất liệu nghiên cứu, tác giả đã sử dụng phương pháp điều tra  
xã hội học bằng phiếu hỏi với mục đích để khảo sát, tình hiểu quan điểm của người  
chưa thành niên đối với phương pháp giáo dục trong gia đình và nhà trường. Đối  
tượng khảo sát là những người trong độ tuổi từ 14 đến dưới 18 tại tỉnh Kiên Giang.  
Tác giả đã thực hiện 300 phiếu điều tra. Kết quả khảo sát được tác giả sử dụng  
trong các nội dung của luận văn.  
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn, yếu tố mới cần đạt được  
6.1. Ý nghĩa lý luận của đề tài  
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần bổ sung, hoàn thiện hệ thống  
lý luận tội phạm học nói chung và lý luận phòng, chống tội XPSH nói riêng,  
đồng thời dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, học tập của các cơ sở  
đào tạo luật.  
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài  
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được vận dụng vào thực tiễn công  
tác phòng, chống tội phạm nói chung và tội XPSH nói riêng trên địa bàn tỉnh  
Kiên Giang trong thời gian tới.  
- Những điểm mới của đề tài: Luận văn là công trình khoa học đầu tiên  
nghiên cứu nhân thân người phạm tội XPSH từ thực tiễn tỉnh Kiên Giang giai  
đoạn 2011 – 2015, làm rõ các đặc điểm nhân thân người phạm tội XPSH và các  
yếu tố tác động đến sự hình thành nhân thân người phạm tội XPSH trên địa bàn  
tỉnh Kiên Giang một cách có hệ thống, toàn diện và sâu sắc, từ đó đưa ra một số  
7
giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội  
XPSH trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.  
7. Cơ cấu của luận văn  
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của  
luận văn được cấu trúc thành ba chương:  
Chương 1. Những vấn đề lý luận về nhân thân người phạm tội xâm phạm sở  
hữu  
Chương 2. Thực trạng nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu trên địa  
bàn tỉnh Kiên Giang  
Chương 3. Hoàn thiện giải pháp phòng ngừa các tội xâm phạm sở hữu từ khía  
cạnh nhân thân người phạm tội  
8
Chương 1  
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI XÂM  
PHẠM SỞ HỮU  
1.1. Khái niệm, ý nghĩa của nhân thân người phạm tội xâm phạm sở  
hữu  
1.1.1. Khái niệm nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu  
Xét về mặt ngôn ngữ, khái niệm nhân thân người phạm tội được hình thành  
từ khái niệm “nhân thân” và khái niệm “người phạm tội” [48, tr.147]. Do vậy, để  
làm sáng tỏ khái niệm nhân thân người phạm tội, phải dựa vào và xuất phát từ các  
luận điểm của triết học Mác – Lênin về bản chất của con người nói chung với tư  
cách là một phạm trù lịch sử - xã hội [62, tr.129].  
Bản chất của con người bao gồm những nội dung về sinh học và xã hội. Con  
người là sản phẩm của tự nhiên nên trước hết mang đặc tính sinh học. Đặc tính  
sinh học trong con người quyết định sự hình thành những hiện tượng, quá trình  
tâm, sinh lý của con người. Mặt khác, con người muốn tồn tại đòi hỏi phải có quá  
trình hoạt động để phục vụ nhu cầu sinh học của mình như ăn, uống, nghỉ ngơi,...  
Đồng thời, trong bất kỳ xã hội nào, con người không bao giờ sống tách rời, riêng lẻ  
mà luôn luôn có mối quan hệ với nhau trong quá trình sản xuất cũng như trong quá  
trình sinh hoạt khác. Vì thế, con người luôn mang đặc tính xã hội. Nhân thân con  
người là sự thống nhất giữa các đặc tính xã hội và đặc tính sinh học, trong đó đặc  
tính xã hội có ý nghĩa quyết định, nhưng đặc tính sinh học cũng có ý nghĩa riêng.  
“Chính quá trình thỏa mãn các nhu cầu sinh học chiếm vị trí quan trọng trong ý  
thức và quy định lợi ích cũng như khuynh hướng phát triển của con người” [56,  
tr.97]. Nhân thân con người là tất cả các đặc điểm sinh học, tâm lý và xã hội có  
liên quan đến một con người, thể hiện bản chất riêng của họ. Nói cách khác, nhân  
thân con người là tổng hợp những đặc điểm, dấu hiệu thể hiện bản chất của con  
người tham gia vào các mối quan hệ xã hội.  
“Đối tượng nghiên cứu của tội phạm học là con người phạm tội chứ không  
phải là con người nói chung. Người phạm tội là người thực hiện hành vi nguy hiểm  
cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm” [48, tr.149]. Người phạm tội  
cũng là con người của xã hội, cho dù tội phạm mà họ thực hiện có nghiêm trọng  
9
   
đến đâu. Vì vậy, khi đề cập đến nhân thân người phạm tội là nói đến các đặc điểm  
của nhân thân con người nói chung và cả những đặc điểm đặc trưng của nhân thân  
người phạm tội, chính những đặc điểm, dấu hiệu này thể hiện tính nguy hiểm cho  
xã hội của họ. Dấu hiệu đặc trưng trong nhân thân người phạm tội khác với nhân  
thân con người bình thường trước hết ở chỗ trong nhân thân của họ bao gồm tất cả  
các dấu hiệu mà luật hình sự quy định về chủ thể của tội phạm nói chung. Có nghĩa  
rằng, tại thời điểm thực hiện tội phạm họ có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ  
tuổi theo luật định và đặc biệt là họ đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.  
Ngoài ra, nhân thân người phạm tội còn có dấu hiệu, đặc điểm liên quan đến sự  
việc phạm tội như tâm lí, tính cách, thói quen, sở thích, quan điểm, thái độ đối với  
xã hội, ý thức pháp luật…[48, tr.151].  
Cũng như nhân thân con người, nhân thân người phạm tội bao gồm hệ  
thống các đặc điểm tâm, sinh lý. Các đặc điểm tâm, sinh lý phụ thuộc vào những  
điều kiện sống, của sự giáo dục, của những mối quan hệ… nhất định. Chính các  
đặc điểm đó dưới sự tác động của các điều kiện và hoàn cảnh bên ngoài, của tình  
huống cụ thể, tạo thành động lực thúc đẩy việc thực hiện tội phạm.  
Như vậy, nhân thân người phạm tội là tổng hợp những đặc điểm, dấu hiệu  
thể hiện bản chất xã hội của con người và các đặc điểm, dấu hiệu này kết hợp với  
các điều kiện, hoàn cảnh nhất định đã dẫn đến con người đó thực hiện hành vi  
phạm tội [62, tr.131].  
Trên cơ sở khái niệm nhân thân người phạm tội có thể rút ra định nghĩa  
nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu như sau:  
Nhân thân người phạm tội XPSH là tổng hợp những đặc điểm, dấu hiệu thể  
hiện bản chất xã hội của con người và các đặc điểm, dấu hiệu này kết hợp với các  
điều kiện, hoàn cảnh nhất định đã dẫn đến người đó thực hiện hành vi phạm tội  
xâm phạm sở hữu được quy định tại chương XIVcủa BLHS hiện hành.  
1.1.2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội xâm phạm  
sở hữu  
Nhân thân người phạm tội là vấn đề quan trọng được nhiều ngành khoa học  
nghiên cứu như tội phạm học, khoa học luật hình sự, tâm lý học tư pháp… Tuy  
10  
nhiên do mỗi ngành khoa học có mục đích nghiên cứu khác nhau cho nên phạm vi  
và nhiệm vụ nghiên cứu về nhân thân người phạm tội cũng khác nhau.  
Khoa học luật hình sự nghiên cứu nhân thân người phạm tội với mục đích  
xác định và đánh giá hành vi phạm tội, trách nhiệm hình sự và quyết định biện  
pháp xử lý hình sự đối với người phạm tội theo luật hình sự [64, tr.193]. Tâm lý  
học tư pháp nghiên cứu người phạm tội với mục đích xác định năng lực trách  
nhiệm hình sự và xử lí những người phạm tội là người mắc các bệnh về tâm lí, tâm  
thần [48, tr.145].  
Tội phạm học với tư cách là một khoa học chuyên nghiên cứu về tội phạm  
và người phạm tội cùng những nguyên nhân và điều kiện của nó để đề ra các biện  
pháp phòng ngừa, cho nên vấn đề nhân thân người phạm tội nói chung và nhân  
thân người phạm tội XPSH nói riêng được nghiên cứu một cách khá toàn diện và  
mang lại nhiều ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Trong phạm vi luận  
văn này, tác giả xin đề cập đến việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội XPSH  
với các ý nghĩa chính sau:  
Thứ nhất, nghiên cứu làm rõ nhân thân người phạm tội XPSH, góp phần  
làm cho quá trình định tội, định khung và quyết định hình phạt được chính xác.  
Nhân thân người phạm tội tuy không phải là một trong những yếu tố cấu  
thành tội phạm nhưng các đặc điểm của nhân thân người phạm tội có ý nghĩa quan  
trọng trong việc xác định các vấn đề: Truy cứu trách nhiệm hình sự, quyết định  
hình phạt, yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt,… Theo khoa học luật hình  
sự: “nhân thân người phạm tội được hiểu là tổng thể tất cả các đặc điểm có ý  
nghĩa về mặt xã hội của người thực hiện tội phạm được cân nhắc để giải quyết  
những vấn đề của trách nhiệm hình sự (cá thể hóa hình phạt, miễn trách nhiệm  
hình sự, miễn và giảm hình phạt)” [64, tr.194]. Chính vì vậy, pháp luật tố tụng  
hình sự quy định, các đặc điểm nhân thân người phạm tội phải được các cơ quan  
tiến hành tố tụng thu thập đầy đủ trong hồ sơ vụ án và phải được thể hiện trong bản  
Kết luận điều tra của Cơ quan điều tra, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát và Bản án  
của Tòa án.  
Các đặc điểm nhân thân người phạm tội XPSH có ý nghĩa trong việc định  
tội và định khung hình phạt đối với các tội XPSH, như: Động cơ và mục đích tư lợi  
11  
là yếu tố định tội của hầu hết các tội XPSH tại Chương XIV của Bộ luật hình sự;  
đặc điểm “tái phạm nguy hiểm” được quy định là yếu tố định khung một số tội  
XPSH (điểm c khoản 2 của Điều 133, Điều 134, Điều 135, Điều 136, Điều 137,  
Điều 138, Điều 139; điểm đ khoản 2 Điều 140; điểm d khoản 2 Điều 142; điểm e  
khoản 2 Điều 143 của BLHS); đặc điểm “tái phạm tội” là yếu tố định tội được quy  
định tại khoản 1 của Điều 137, Điều 138, Điều 139, Điều 140, Điều 142 và Điều  
143 của BLHS; đặc điểm nghề nghiệp là yếu tố định tội được quy định tại Điều  
144 và yếu tố định khung tại khoản 2 của Điều 139, Điều 140 và Điều 142;... Khi  
đã định tội và định khung một cách chính xác sẽ giúp cho việc quyết định hình  
phạt đối với người phạm tội XPSH đúng đắn, phù hợp với tính chất và mức độ  
nguy hiểm do hành vi phạm tội gây ra, từ đó góp phần giáo dục và cải tạo có hiệu  
quả người phạm tội XPSH, ngăn ngừa phạm tội mới và giáo dục người khác.  
Thứ hai, nghiên cứu làm rõ nhân thân người phạm tội XPSH, giúp xác định  
nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội XPSH (nguyên nhân từ phía người  
phạm tội và nguyên nhân từ phía xã hội).  
Việc nhận thức, phân tích các nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội  
XPSH không thể thiếu việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội XPSH, bản chất,  
các đặc điểm và quá trình hình thành nó. “Việc phân tích các nguyên nhân và điều  
kiện của tội phạm cụ thể chỉ ra rằng không thể nhận thức, hiểu biết được các  
nguyên nhân và điều kiện đó nếu thiếu việc cân nhắc nhân thân người phạm tội”  
[62, tr.127]. Nhân thân người phạm tội XPSH với tổng thể các đặc điểm có tác  
động chi phối hành vi phạm tội và cũng chính là kết quả của sự tác động qua lại  
giữa người phạm tội và môi trường xã hội của người phạm tội XPSH. Bằng những  
nghiên cứu tổng quát về nhân thân người phạm tội XPSH và những số liệu về các  
loại tội XPSH góp phần làm rõ những tác động tiêu cực của môi trường gia đình,  
nhà trường, môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội vĩ mô đến sự hình thành các đặc  
điểm nhân thân tiêu cực của người phạm tội XPSH. Nghiên cứu cụ thể về các đặc  
điểm và những yếu tố tác động đến quá trình hình thành các đặc điểm tiêu cực của  
nhân thân người phạm tội XPSH sẽ cho thấy rõ những nguyên nhân và điều kiện  
làm phát sinh hành vi phạm tội XPSH.  
Thứ ba, nghiên cứu làm rõ nhân thân người phạm tội XPSH, giúp đề ra các  
biện pháp phòng ngừa tội XPSH nói riêng và tội phạm nói chung.  
12  
“Hành vi phạm tội là kết quả không mong đợi của quá trình tương tác giữa  
các yếu tố tiêu cực thuộc môi trường sống với các yếu tố tâm – sinh lý tiêu cực bên  
trong cá nhân chủ thể hành vi đã dẫn tới việc thực hiện hành động hoặc không  
hành động mà pháp luật hình sự xem là phạm tội” [4, tr.101]. Nghiên cứu nhân  
thân người phạm tội XPSH có thể xác định được những yếu tố tiêu cực từ phía  
người phạm tội và những yếu tố tiêu cực từ môi trường xã hội trong sự tác động  
qua lại với nhau hình thành nguyên nhân của tội XPSH. Từ đó, có những giải pháp  
phòng ngừa tội XPSH hiệu quả bằng cách tác động làm hạn chế hoặc loại trừ các  
tác động tiêu cực từ môi trường sống, qua đó góp phần hạn chế hay loại trừ các đặc  
điểm nhân thân tiêu cực của con người, góp phần quan trọng trong phòng ngừa tội  
phạm.  
Thứ tư, nghiên cứu làm rõ nhân thân người phạm tội XPSH, giúp đề ra các  
biện pháp giáo dục, cải tạo người phạm tội XPSH.  
Nghiên cứu nhân thân người phạm tội XPSH để có các hình thức, phương  
pháp giáo dục, quản lý người phạm tội XPSH… một cách phù hợp và hiệu quả.  
Cần phải dựa vào đặc điểm nhân thân của người phạm tội XPSH để phân loại  
người phạm tội XPSH nhằm áp dụng các biện pháp giáo dục, cải tạo phù hợp với  
từng nhóm người với các đặc điểm nhân thân khác nhau nhằm cải thiện hoặc loại  
trừ các đặc điểm nhân thân tiêu cực có vai trò quan trọng đối với việc phát sinh tội  
XPSH, từ đó có thể giáo dục, cải tạo họ thành người tốt, không tái phạm tội.  
Nghiên cứu các đặc điểm nhân thân người phạm tội cũng giúp cho việc tư vấn cho  
phạm nhân việc học nghề, chuẩn bị tốt nhất cho quá trình tái hòa nhập.  
Thứ năm, nghiên cứu làm rõ nhân thân người phạm tội XPSH còn góp phần  
cung cấp những thông tin hữu ích cho các ngành khoa học pháp lý khác: Khoa học  
luật Tố tụng hình sự, khoa học Điều tra hình sự.  
Khoa học luật Tố tụng hình sự dựa vào những thông tin phản ánh về nhân  
thân người phạm tội XPSH như độ tuổi, giới tính, dân tộc, tiền án, tiền sự, nghề  
nghiệp, trình độ học vấn,... để nghiên cứu đưa ra những quy phạm pháp luật quy  
định về trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành  
án đối với người phạm tội XPSH nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.  
13  
Khoa học Điều tra hình sự dựa trên những thông tin về nhân thân người  
phạm tội XPSH như một trong những căn cứ để đề ra, xác định phương pháp,  
phương hướng, chiến thuật điều tra nhằm thu thập chứng cứ, chứng minh tội phạm  
và người phạm tội. Trong hoạt động điều tra vụ án, thông tin phản ánh về nhân  
thân người phạm tội XPSH giúp cho việc sàng lọc đối tượng, phát hiện nhanh  
chóng, chính xác tội phạm và người phạm tội, áp dụng các biện pháp ngăn chặn  
cho phù hợp với từng đối tượng phạm tội, khám xét thu giữ vật chứng và sử dụng  
những biện pháp tác động tâm lý, cảm hoá đối tượng trong lấy lời khai, hỏi cung,  
đối chất…  
1.2. Các đặc điểm của nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu  
Mỗi nhân thân người phạm tội cụ thể đều có những đặc điểm, dấu hiệu  
chung trong từng nhóm người phạm tội hay trong tất cả người phạm tội và nó còn  
có những đặc điểm, dấu hiệu đặc thù của nhân thân người phạm tội đó. Trong  
phạm vi luận văn này, tác giả chỉ đề cập đến các đặc điểm của nhân thân người  
phạm tội XPSH. Hệ thống các đặc điểm của nhân thân người phạm tội XPSH cũng  
có các đặc điểm của nhân thân người phạm tội nói chung nhưng cũng có các đặc  
điểm riêng, có thể chia làm ba nhóm sau:  
- Các đặc điểm nhân chủng học xã hội của người phạm tội xâm phạm sở hữu  
- Các đặc điểm tâm lý học xã hội của người phạm tội xâm phạm sở hữu;  
- Các đặc điểm pháp lý hình sự của người phạm tội xâm phạm sở hữu.  
1.2.1. Các đặc điểm nhân chủng học xã hội của người phạm tội xâm phạm  
sở hữu  
Các đặc điểm nhân chủng học xã hội của người phạm tội xâm phạm sở hữu,  
bao gồm: Giới tính, lứa tuổi, nơi cư trú, dân tộc, địa vị xã hội, nghề nghiệp, quốc  
tịch, hoàn cảnh gia đình, trình độ học vấn…[62, tr.144]. Những đặc điểm này bản  
thân chúng không đặc trưng cho con người với tư cách là người phạm tội, bởi  
chúng tồn tại trong nhân thân bất kỳ người nào. Tuy nhiên, các đặc điểm nhân  
chủng học xã hội tác động qua lại với các điều kiện hình thành nhân cách con  
người, với nhu cầu và lợi ích, vị trí và mối quan hệ giao tiếp của người đó trong xã  
hội nên nó cung cấp thông tin để chúng ta hiểu trọn vẹn về nhân thân người phạm  
14  
 
tội và có ý nghĩa quan trọng trong việc đề ra và thực hiện các biện pháp quản lý,  
giáo dục, cải tạo người phạm tội nói chung và tội XPSH nói riêng.  
1.2.1.1. Đặc điểm lứa tuổi  
Nghiên cứu đặc điểm lứa tuổi của người phạm tội XPSH cho phép xác định  
tính chất, mức độ, đặc điểm tội phạm của từng lứa tuổi và ảnh hưởng của lứa tuổi  
đến việc thực hiện tội phạm. Mỗi lứa tuổi có những đặc điểm riêng về sự phát triển  
thể chất, tinh thần, tâm, sinh lý, hiểu biết xã hội… Có thể chia người phạm tội  
XPSH thành 03 nhóm: Dưới 18 tuổi, từ 18 đến 30 tuổi, từ trên 30 tuổi. Nhóm tội  
XPSH là nhóm tội không có những đòi hỏi đặc biệt về độ tuổi, nhất là các tội trộm  
cắp tài sản, cướp giật tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản... Những năm gần đây,  
những người phạm nhóm tội XPSH đang có xu hướng trẻ hóa về độ tuổi. Nhóm  
người phạm tội có độ tuổi dưới 18 đang có xu hướng gia tăng. Nghiên cứu đặc  
điểm lứa tuổi giúp ích cho việc sắp xếp thứ tự ưu tiên trong đấu tranh phòng ngừa  
tội XPSH đối với từng lứa tuổi cho phù hợp. [56, tr.106]  
1.2.1.2. Đặc điểm giới tính  
Nghiên cứu đặc điểm giới tính của người phạm tội XPSH giúp chúng ta xác  
định tỷ lệ người phạm tội XPSH giữa nam và nữ, ảnh hưởng của giới tính đến việc  
thực hiện các tội XPSH. Trong thực tế hiện nay, thông thường tỷ lệ nam giới phạm  
tội XPSH cao hơn so với nữ giới. Điều này cho thấy nam giới dễ bị tác động bởi  
những yếu tố tiêu cực của môi trường sống và dễ phát sinh tâm lý tiêu cực hơn nữ  
giới. Tuy nhiên, trong những năm gần đây số liệu về cơ cấu giới tính của người  
phạm tội XPSH đang có sự thay đổi. Tỷ lệ nữ giới phạm tội XPSH trong tổng số  
tội XPSH đang có khuynh hướng tăng lên và các loại tội XPSH do họ thực hiện  
ngày càng đa dạng. [48, tr.155]  
1.2.1.3. Đặc điểm trình độ học vấn  
Trình độ học vấn là một trong các yếu tố phản ánh trình độ sự nhận thức,  
hiểu biết về thế giới xung quanh, về các mối quan hệ xã hội, khả năng nhận thức,  
hiểu biết pháp luật… của con người. Trình độ học vấn ảnh hưởng rất lớn đến cách  
thức lựa chọn hành vi ứng xử của con người trong các mối quan hệ xã hội nói  
chung và hành vi phạm tội nói riêng. Khác với một số nhóm tội đòi hỏi phải có học  
vấn nhất định mới thực hiện được hành vi phạm tội, như nhóm tội phạm công nghệ  
15  
cao, nhóm tội phạm chức vụ... nhóm tội XPSH không đòi hỏi người phạm tội phải  
có trình độ học vấn cao mới có thể thực hiện được hành vi phạm tội. Các nghiên  
cứu của các nhà tội phạm học cho thấy, trình độ học vấn của người phạm tội  
XPSH thường thấp hơn so với những người không phạm tội cùng lứa tuổi và  
những người phạm tội ở mỗi loại tội phạm XPSH khác nhau cũng có trình độ học  
vấn khác nhau. Dựa vào đặc điểm trình độ học vấn, người phạm tội XPSH được  
chia thành 04 nhóm: Người không biết chữ, người có trình độ tiểu học và trung  
học cơ sở, người có trình độ trung học phổ thông, người có trình độ trung cấp trở  
lên.  
1.2.1.4. Đặc điểm địa vị xã hội và nghề nghiệp  
Địa vị xã hội và nghề nghiệp là một trong những đặc điểm trong nhân thân  
người phạm tội. Nghiên cứu địa vị xã hội và nghề nghiệp cho chúng ta biết được  
nhóm người làm việc ở những ngành, lĩnh vực nào trong xã hội dễ thực hiện tội  
phạm và loại tội phạm họ thực hiện [62, tr.145]. Một số nhóm tội, như nhóm tội  
phạm tham nhũng, nhóm tội xâm phạm trật tự quản lí kinh tế... các đặc điểm nghề  
nghiệp và địa vị xã hội có ảnh hưởng khá lớn đến hành vi phạm tội. Tuy nhiên,  
nhóm tội XPSH, địa vị xã hội cũng có ảnh hưởng nhưng mức độ ảnh hưởng không  
nhiều. Theo số liệu thống kê tội phạm thì đa số người phạm tội XPSH là người  
không có nghề nghiệp hoặc nghề nghiệp không ổn định, do đó vị trí trong xã hội  
của họ rất thấp. Đặc biệt các trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm thì tỷ lệ này  
thường rất cao. Dựa vào đặc điểm nghề nghiệp, người phạm tội XPSH được chia  
thành 03 nhóm: Không nghề nghiệp, nghề nghiệp không ổn định, nghề nghiệp ổn  
định. Dựa vào địa vị xã hội, có thể chia thành người có địa vị xã hội cao (giữ các  
vị trí, chức vụ cao), người có địa vị xã hội thấp…  
1.2.1.5. Đặc điểm hoàn cảnh gia đình  
Những đặc điểm và sự thay đổi của hoàn cảnh gia đình có ảnh hưởng sâu  
sắc đến sự hình thành nhân cách của con người, ở một mức nhất định chúng cũng  
tác động đến tính định hướng và sự kiên định thực hiện tội phạm [62, tr.146].  
Nghiên cứu đặc điểm hoàn cảnh gia đình trong nhân thân người phạm tội XPSH là  
nghiên cứu ở các khía cạnh: Quan hệ gia đình và hoàn cảnh kinh tế gia đình với  
những tác động của chúng tới người phạm tội XPSH.  
16  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 91 trang yennguyen 12100 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Nhân thân người phạm tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Kiên Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_nhan_than_nguoi_pham_toi_xam_pham_so_huu_tren_dia_b.pdf