Luận văn Nghiên cứu kiểm kê khí thải từ hoạt động đốt trấu, rơm rạ vùng Tây Nam Bộ

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI  
LUẬN VĂN THẠC SĨ  
NGHIÊN CỨU KIỂM KÊ KHÍ THẢI TỪ HOẠT ĐỘNG ĐỐT  
TRẤU, RƠM RẠ VÙNG TÂY NAM BỘ  
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG  
NGUYỄN CHIẾN THẮNG  
HÀ NỘI, NĂM 2018  
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI  
LUẬN VĂN THẠC SĨ  
NGHIÊN CỨU KIỂM KÊ KHÍ THẢI TỪ HOẠT ĐỘNG  
ĐỐT TRẤU, RƠM RẠ VÙNG TÂY NAM BỘ  
NGUYỄN CHIẾN THẮNG  
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG  
MÃ SỐ: 8440301  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC  
TS. ĐÀO THÀNH DƯƠNG  
TS. PHẠM THỊ MAI THẢO  
HÀ NỘI, NĂM 2018  
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI  
Cán bộ hướng dẫn 1  
Cán bộ hướng dẫn 2  
: TS. Đào Thành Dương  
: TS. Phạm Thị Mai Thảo  
Cán bộ chấm phản biện 1: TS. Hoàng Thu Hương  
Cán bộ chấm phản biện 2: TS Nguyễn Thu Huyền  
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại:  
HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI  
Ngày 03 tháng 10 năm 2018  
LỜI CAM ĐOAN  
Đề tài này là một phần trong đề tài: “Nghiên cứu xác định hệ số phát thải khí  
nhà kính từ hoạt động đốt hở các phụ phẩm nông nghiệp (trấu, rơm rạ) vùng Tây Nam  
Bộ do TS. Phạm Thị Mai Thảo làm chủ nhiệm đề tài. Tôi xin cam đoan các nội dung,  
số liệu, kết quả nêu trong luận văn là công sức của cá nhân tôi, hoàn toàn trung thực  
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình này.  
TÁC GIẢ LUẬN VĂN  
Nguyễn Chiến Thắng  
i
 
LỜI CẢM ƠN  
Để hoàn thành luận văn này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới TS.  
Phạm Thị Mai Thảo và TS. Đào Thành Dương là người trực tiếp hướng dẫn khoa  
học, tận tình giúp đỡ và định hướng giúp tôi hoàn thành luận văn của mình.  
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới cô giáo Phạm Hồng Phương, cô giáo Trịnh Thị  
Thắm, thầy giáo Lê Văn Sơn, thầy giáo Nguyễn Thành Trung và các thành viên  
trong nhóm nghiên cứu đã hỗ trợ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu.  
Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường, tôi đã nhận được sự  
hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của tập thể các Thầy, Cô giáo trong Khoa Môi trường  
thuộc Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội. Tôi xin ghi nhận và biết  
ơn sự giúp đỡ quý báu của các Thầy, Cô.  
Tôi xin trân trọng cám ơn người dân tỉnh An Giang đã nhiệt tình hỗ trợ, hợp  
tác và giúp đỡ tôi thực hiện luận văn.  
Trong thời gian nghiên cứu và làm luận văn, tôi cũng đã nhận được sự hỗ  
trợ, tạo điều kiện và giúp đỡ từ phòng thí nghiệm Khoa Môi trường, Trường Đại  
học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Trung tâm Quan trắc Môi trường tỉnh An  
Giang, tôi xin trân trọng cám ơn.  
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới đề tài: “Nghiên cứu xác định hệ số phát thải khí  
nhà kính từ hoạt động đốt hở các phụ phẩm nông nghiệp (trấu, rơm rạ) vùng Tây  
Nam Bộ” – Mã số Mã số: TNMT. 2017.05.18 đã hỗ trợ kinh phí để tôi hoàn thành  
luận văn.  
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các đồng nghiệp, bạn bè, gia đình  
đã động viên, chia sẻ và tạo điều kiện tốt nhất giúp tôi hoàn thành luận văn  
của mình.  
Hà Nội, ngày tháng năm 2018  
Học viên cao học  
Nguyễn Chiến Thắng  
ii  
 
MỤC LỤC  
iii  
 
THÔNG TIN LUẬN VĂN  
Họ và tên học viên: Nguyễn Chiến Thắng  
Lớp: CH2BMT Khóa: 2016-2018  
Cán bộ hướng dẫn 1: TS. Đào Thành Dương  
Cán bộ hướng dẫn 2: TS. Phạm Thị Mai Thảo  
Tên đề tài: Nghiên cứu kiểm kê khí thải từ hoạt động đốt trấu, rơm rạ vùng Tây  
Nam Bộ  
Tóm tắt luận văn:  
Mở đầu:  
Rơm rạ, trấu là phụ phẩm từ hoạt động sản xuất lúa gạo. Rơm rạ vấn thường  
được ghép chung trong cách gọi những phần loại bỏ của cây lúa sau khi thu hoạch  
hạt. Tuy nhiên rơm (tiếng Anh: rice straw) là phần thân của cây lúa đã được phơi khô  
sau khi thu hoạch, còn rạ (tiếng Anh: rice stubble) là phần là gốc cây lúa còn lại sau  
khi gặt và cắt phần thân. Trấu (hay còn gọi là vỏ trấu, tiếng Anh: rice hulls) là phần  
vỏ cứng bao bên ngoài hạt gạo. Ngoài việc bảo vệ hạt gạo trong mùa sinh trưởng, vỏ  
trấu cũng có thể dùng làm vật liệu xây dựng, phân bón, vật liệu cách nhiệt trong xây  
dựng hay nhiên liệu.  
Rơm rạ thường được người dân tận dụng để đun nấu, làm thức ăn cho gia súc,  
lợp nhà, lót chuồng, làm phân bón... Tuy nhiên, với lượng rơm rạ lớn như vậy phần  
được sử dụng rất nhỏ so với lượng phát sinh nên cần phải xử lý khi bắt đầu mùa vụ  
mới. Phương pháp xử lý phổ biến là đốt trực tiếp trên đồng ruộng lấy tro để bón cho  
ruộng. Việc đốt rơm rạ sẽ phát sinh ra khói, bụi không chỉ gây tác động đến môi  
trường không khí mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe người dân xung quanh, lượng khí  
thải phát sinh cũng góp phần làm tăng hiệu ứng nhà kính và biến đổi khí hậu.  
Ngoài rơm rạ, trấu cũng là phụ phẩm chính phát sinh trong quá trình chế biến  
gạo. Trấu chiếm 20% khối lượng lúa được xay xát [1]. Hiện nay, trấu được dùng để  
sấy lúa, sản xuất củi trấu, bán cho các nhà máy sản xuất gạch, sử dụng trong đun nấu  
tại các cơ sở tiểu thủ công nghiệp và hộ gia đình. Tuy nhiên với lượng phát sinh lớn  
v
nên các chủ nhà máy xay xát vẫn phải đốt bỏ như là hình thức xử lý khi không còn  
khả năng dự trữ. Hoạt động đốt trấu cũng phát sinh các chất ô nhiễm môi trường  
không khí tương tự như rơm rạ.  
Tây Nam Bộ là vùng sản xuất lúa gạo với diện tích và sản lượng cao nhất nước. Đây  
cũng là địa phương có hoạt động đốt rơm rạ, trấu rất phổ biến. Chính vì lý do đó, tôi  
thực hiện đề tài “Nghiên cứu kiểm kê khí thảí từ hoạt động đốt trấu, rơm rạ vùng  
Tây Nam Bộ” nhằm kiểm kê lượng phát thải các chất ô nhiễm và đánh giá mức độ ô  
nhiễm môi trường từ hoạt động đốt rơm rạ, trấu đến môi trường và người dân sống  
xung quanh khu vực. Phạm vi vùng Tây Nam Bộ bao gồm 13 tỉnh, thành phố, đặc  
điểm thời tiết khí hậu có sự tương đồng và do hạn chế về thời gian nên nghiên cứu  
này chỉ lựa chọn An Giang là tỉnh đại diện để tiến hành kiểm kê và đánh giá.  
1. Mục tiêu nghiên cứu  
Kiểm kê, đánh giá ô nhiễm môi trường không khí từ hoạt động đốt hở trấu,  
rơm rạ tại An Giang và đề xuất giải pháp giảm thiểu phù hợp.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Nghiên cứu tình hình sản xuất lúa tại tỉnh An Giang và vùng Tây Nam Bộ  
Nghiên cứu về tình hình diện tích, sản lượng lúa của tỉnh An Giang và vùng  
Tây Nam Bộ từ các nguồn số liệu và công bố của Tổng cục thống kê và Cục Thống  
kê tỉnh An Giang.  
2.2. Nghiên cứu hiện trạng sử dụng và thải bỏ trấu, rơm rạ theo mùa  
-
Điều tra, phỏng vấn hiện trạng, phương thức sử dụng rơm, rạ cho các mục  
đích khác nhau, tính lượng rơm rạ được thải bỏ và đốt trên đồng ruộng  
Điều tra, phỏng vấn hiện trạng, phương thức sử dụng trấu cho các mục đích  
-
khác nhau, tính lượng trấu được thải bỏ và đốt tại các nhà máy xay xát  
2.3. Kiểm kê lượng khí thải từ việc đốt trấu, rơm rạ ngoài đồng ruộng theo  
mùa vụ  
-
-
Xác định lượng rơm rạ đốt ngoài đồng ruộng theo mùa vụ tại tỉnh An Giang  
Xác định lượng rơm rạ đốt ngoài đồng ruộng tại Tây Nam Bộ  
vi  
-
Tính toán lượng khí ô nhiễm phát sinh từ hoạt động đốt trấu, rơm rạ dựa vào  
hệ số phát thải đối với các thông số PM10, PM2,5, CO, CO2, NO2, SO2 (hệ số phát thải  
kế thừa từ các nghiên cứu khác)  
2.4. Đánh giá mức độ ô nhiễm không khí từ hoạt động đốt trấu, rơm rạ  
Khảo sát xác định địa điểm lấy mẫu và xây dựng chương trình quan trắc chất  
lượng môi trường không khí xung quanh khu vực có hoạt động đốt hở trấu, rơm rạ  
đối với các thông số PM10, PM2,5, CO2, CO, NO2, SO2, nhiệt độ, độ ẩm, hướng gió,  
tốc độ gió...  
2.5. Đề xuất giải pháp giảm thiểu sự phát thải các chất khí gấy ô nhiễm  
-
-
Đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp  
Đề xuất các giải pháp công nghệ  
3. Đối tượng và phạm vi  
Đối tượng: Lượng khí thải phát sinh từ hoạt động đốt hở phụ phẩm nông nghiệp (trấu,  
rơm rạ) tại vùng Tây Nam Bộ.  
Phạm vi nghiên cứu: tỉnh An Giang thuộc vùng Tây Nam Bộ.  
4. Thời gian nghiên cứu  
Nghiên cứu bắt đầu từ tháng 12/2017 đến tháng 08/2018.  
5. Phương pháp nghiên cứu  
5.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp  
Số liệu thứ cấp là nguồn dữ liệu đã được xử lý qua và được thu thập từ các cơ  
quan, đơn vị, cá nhân, tập thể có liên quan đến đối tượng nghiên cứu.  
5.2. Phương pháp khảo sát thực địa  
Tiến hành quan sát tại thực địa nhằm thu thập và ghi lại các tài liệu trực quan,  
hình ảnh liên quan tới đối tượng nghiên cứu, xác định vị trí lấy mẫu các chât khí ô  
nhiễm, hoạt động đốt rơm rạ trên đồng ruộng, hoạt động đốt trấu...  
5.3. Phương pháp điều tra xã hội học  
Phương pháp này nhằm thu thập các số liệu sơ cấp, chưa qua xử lý bằng cách  
phỏng vấn trược tiếp các đối tượng bằng phiếu điều tra hoặc các câu hỏi đã chuẩn bị  
sẵn nhằm thu thập được số liệu từ câu trả lời của đối tượng phỏng vấn.  
vii  
5.4. Phương pháp quan trắc phân tích.  
Sử dụng thiết bị đo nhanh khí thải Testo 350 XL và thiết bị đo bụi Sibata GT  
331 để đo nhanh các thông số: PM10, PM2,5, CO, CO2, NO2, SO2 của khói thải từ hoạt  
động đốt trấu, rơm rạ  
5.5. Phương pháp kiểm kê  
Lượng khí phát thải được kiểm kê bằng lượng rơm rạ đem đốt và hệ số phát thải  
tương ứng của mỗi chất khí.  
5.6. Phương pháp tổng hợp, phân tích, xử lý số liệu và viết báo cáo  
Số liệu sau khi thu thập được tổng hợp và xử lý bằng các phần mềm tin học  
(word, excel...) để viết báo cáo.  
6. Tóm tắt kết quả đạt được  
Tại An Giang, lượng rơm rạ phát sinh năm 2016 tại vụ Đông Xuân là 4067  
nghìn tấn, vụ Hè Thu là 4074 nghìn tấn, vụ Thu Đông là 3147 nghìn tấn rơm rạ, lượng  
trấu phát sinh là 794,95 nghìn tấn. Trong đó 62% số nông hộ có sử sụng rơm cho các  
mục đích khác nhau như cho gia súc ăn, bán, ủ phân... 38% số hộ còn lại không sử  
dụng rơm, phương thức xử lý chính là đốt. Tỉ lệ rơm rạ sử dụng tại vụ Đông xuân là  
63,64%, vụ Hè Thu là 50,68% và vụ Thu đông là 60%. Lượng rơm rạ đem đốt năm  
2016 vụ Đông xuân là 1213 nghìn tấn, vụ Hè Thu là 1647 nghìn tấn, vụ Thu Đông là  
1031 nghìn tấn. Đối với gốc rạ, 100% được để phơi khô tự nhiên và đốt trực tiếp  
ngoài đồng ruộng. 100% người dân được phỏng vấn nhận thức được các tác động từ  
đốt rơm rạ đên môi trường và sức khỏe và là nguyên nhân dẫn đến các bệnh phổ biến  
như: cay mắt, mờ mắt, tức ngực, khó thở, ngạt mũi… phát thải CO2 từ hoạt động đốt  
rơm rạ là cao nhất (trung bình vụ Đông xuân 1,7 triệu tấn, vụ Hè Thu 2,4 triệu tấn,  
vụ Thu Đông 1,5 triệu tấn), tiếp đến là CO (trên 41 nghìn tấn vụ Đông Xuân, 55 nghìn  
tấn vụ Hè Thu, 30 nghìn tấn vụ Thu Đông). Tiếp theo lần lượt là PM2,5, PM10, SO2 và  
thấp nhất là NO2  
Vùng Tây Nam Bộ, năm 2016 lượng rơm rạ phát sinh là 73 triệu tấn, Tổng lượng  
trấu phát sinh là 4,8 triệu tấn, lượng rơm rạ đem đốt là: 25,1 triệu tấn. Tổng lượng khí  
viii  
thải CO2 phát sinh lớn nhất (36,7 triệu tấn), tiếp đó là CO (872,62 nghìn tấn), PM2,5  
(325,66 nghìn tấn), PM10 (93,05 nghìn tấn), SO2 (50,3 nghìn tấn) và thấp nhất là NO2  
với 1,76 nghìn tấn.  
Đánh giá lan truyền các chất khí ô nhiễm, tại khoảng cách 5m từ vị trí đốt, nồng  
độ PM10 lớn nhất đo được là 452,2 µg/m3, nồng độ PM2,5 lớn nhất là 316,3 µg/m3,  
nồng độ CO2 lớn nhất là 954 mg/m3, nồng độ CO lớn nhất là 12779 µg/m3, 1522,8  
µg/m3 gấp hơn 8 lần so với quy chuẩn cho phép, nồng độ SO2 cao nhất là 5030 µg/m3  
gấp hơn 14 lần so với quy chuẩn cho phép. Khoảng cách an toàn để tránh những ảnh  
hưởng của khói thải là 250m. 100% người dân nhận thức được các tác động từ đốt  
rơm rạ đên môi trường và sức khỏe. Chính vì vậy việc áp dụng các giải pháp khoa  
học công nghệ để tăng tỷ lệ sử dụng rơm, rạ là rất cần thiết.  
ix  
DANH MỤC BẢNG  
x
 
DANH MỤC HÌNH  
xi  
 
xii  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
BC  
Các bon đen  
ĐBSCL  
ĐBSH  
ĐHQGHN  
KH & CN  
KKNT  
KNK  
Đồng bằng sông Cửu Long  
Đồng bằng sông Hồng  
Đại học Quốc gia Hà Nội  
Khoa học và công nghệ  
Kiểm kê nguồn thải  
Khí nhà kính  
MCE  
Hiệu suất cháy  
NXB  
Nhà xuất bản  
OC  
Các bon hữu cơ  
QCVN  
TTXVN  
UBND  
VT  
Quy chuẩn Việt Nam  
Thông tấn xã Việt Nam  
Ủy ban nhân dân  
Vị trí  
xiv  
 
MỞ ĐẦU  
Rơm rạ, trấu là phụ phẩm từ hoạt động sản xuất lúa gạo. Rơm rạ vấn thường  
được ghép chung trong cách gọi những phần loại bỏ của cây lúa sau khi thu hoạch  
hạt. Tuy nhiên rơm (tiếng Anh: rice straw) là phần thân của cây lúa đã được phơi khô  
sau khi thu hoạch, còn rạ (tiếng Anh: rice stubble) là phần là gốc cây lúa còn lại sau  
khi gặt và cắt phần thân. Trấu (hay còn gọi là vỏ trấu, tiếng Anh: rice hulls) là phần  
vỏ cứng bao bên ngoài hạt gạo. Ngoài việc bảo vệ hạt gạo trong mùa sinh trưởng, vỏ  
trấu cũng có thể dùng làm vật liệu xây dựng, phân bón, vật liệu cách nhiệt trong xây  
dựng hay nhiên liệu.  
Rơm rạ thường được người dân tận dụng để đun nấu, làm thức ăn cho gia súc,  
lợp nhà, lót chuồng, làm phân bón... Tuy nhiên, với lượng rơm rạ lớn như vậy phần  
được sử dụng rất nhỏ so với lượng phát sinh nên cần phải xử lý khi bắt đầu mùa vụ  
mới. Phương pháp xử lý phổ biến là đốt trực tiếp trên đồng ruộng lấy tro để bón cho  
ruộng. Việc đốt rơm rạ sẽ phát sinh ra khói, bụi không chỉ gây tác động đến môi  
trường không khí mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe người dân xung quanh, lượng khí  
thải phát sinh cũng góp phần làm tăng hiệu ứng nhà kính và biến đổi khí hậu.  
Ngoài rơm rạ, trấu cũng là phụ phẩm chính phát sinh trong quá trình chế biến  
gạo. Trấu chiếm 20% khối lượng lúa được xay xát [1]. Hiện nay, trấu được dùng để  
sấy lúa, sản xuất củi trấu, bán cho các nhà máy sản xuất gạch, sử dụng trong đun nấu  
tại các cơ sở tiểu thủ công nghiệp và hộ gia đình. Tuy nhiên với lượng phát sinh lớn  
nên các chủ nhà máy xay xát vẫn phải đốt bỏ như là hình thức xử lý khi không còn  
khả năng dự trữ. Hoạt động đốt trấu cũng phát sinh các chất ô nhiễm môi trường  
không khí tương tự như rơm rạ.  
Tây Nam Bộ là vùng sản xuất lúa gạo với diện tích và sản lượng cao nhất nước.  
Đây cũng là địa phương có hoạt động đốt rơm rạ, trấu rất phổ biến. Chính vì lý do đó,  
tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu kiểm kê khí thảí từ hoạt động đốt trấu, rơm rạ  
vùng Tây Nam Bộ” nhằm kiểm kê lượng phát thải các chất ô nhiễm và đánh giá mức  
độ ô nhiễm môi trường từ hoạt động đốt rơm rạ, trấu đến môi trường và người dân  
1
 
sống xung quanh khu vực. Phạm vi vùng Tây Nam Bộ bao gồm 13 tỉnh, thành phố,  
đặc điểm thời tiết khí hậu có sự tương đồng và do hạn chế về thời gian nên nghiên  
cứu này chỉ lựa chọn An Giang là tỉnh đại diện để tiến hành kiểm kê và đánh giá.  
Đề tài này là 1 phần nội dung từ nội dung 3 đến nội dung 7 trong đề tài:  
“Nghiên cứu xác định hệ số phát thải khí nhà kính từ hoạt động đốt hở các phụ phẩm  
nông nghiệp (trấu, rơm rạ) vùng Tây Nam Bộ. Sơ đồ nghiên cứu tổng thể của cả đề  
tài được thể hiện trong hình dưới đây:  
(1): Nghiên cứu xác định hệ số phát thải các chất khí  
gây ô nhiễm môi trường không khí do hoạt động đốt hở  
trấu vùng Tây Nam Bộ  
(2): Nghiên cứu xác định hệ số phát thải các chất khí  
gây ô nhiễm môi trường không khí do hoạt động đốt rơm  
rạ trên đồng ruộng vùng Tây Nam Bộ  
NGHIÊN CỨU  
XÁC ĐỊNH HỆ  
SỐ PHÁT THẢI  
(3): Điều tra, khảo sát về lượng phát sinh theo mùa và  
KHÍ NHÀ KÍNH  
phương thức sử dụng trấu cho các mục đích khác nhau  
TỪ HOẠT  
tại các tỉnh/thành phố vùng Tây Nam Bộ phục vụ kiểm  
ĐỘNG ĐỐT HỞ  
kê khí nhà kính  
CÁC PHỤ  
PHẨM NÔNG  
NGHIỆP (TRẤU,  
RƠM RẠ) VÙNG  
TÂY NAM BỘ  
(4): Điều tra, khảo sát về lượng phát sinh theo mùa và  
phương thức sử dụng rơm rạ cho các mục đích khác  
nhau tại các tỉnh/thành phố vùng Tây Nam Bộ phục vụ  
kiểm kê khí nhà kính  
Mã số: TNMT.  
2017.05.18  
(5): Kiểm kê lượng khí thải phát sinh từ việc đốt rơm  
rạ trên đồng ruộng và đốt trấu tại các nhà máy xay xát  
vào các mùa vụ khác nhau tại 13 tỉnh thành vùng đồng  
bằng sông Cửu Long  
(6): Đánh tác động ô nhiễm môi trường không khí do  
hoạt động đốt trấu xung quanh khu vực thải của nhà máy  
xay xát  
(7): Đánh tác động ô nhiễm môi trường không khí do  
hoạt động đốt rơm rạ trên đồng ruộng  
2
1. Mục tiêu nghiên cứu  
Kiểm kê, đánh giá ô nhiễm môi trường không khí từ hoạt động đốt hở trấu, rơm  
rạ tại An Giang và đề xuất giải pháp giảm thiểu phù hợp.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Nghiên cứu tình hình sản xuất lúa tại tỉnh An Giang và vùng Tây Nam Bộ  
Nghiên cứu về tình hình diện tích, sản lượng lúa của tỉnh An Giang và vùng  
Tây Nam Bộ từ các nguồn số liệu và công bố của Tổng cục thống kê và Cục Thống  
kê tỉnh An Giang.  
2.2. Nghiên cứu hiện trạng sử dụng và thải bỏ trấu, rơm rạ theo mùa  
- Điều tra, phỏng vấn hiện trạng, phương thức sử dụng rơm, rạ cho các mục đích  
khác nhau, tính lượng rơm rạ được thải bỏ và đốt trên đồng ruộng  
- Điều tra, phỏng vấn hiện trạng, phương thức sử dụng trấu cho các mục đích  
khác nhau, tính lượng trấu được thải bỏ và đốt tại các nhà máy xay xát  
2.3. Kiểm kê lượng khí thải từ việc đốt trấu, rơm rạ ngoài đồng ruộng theo mùa  
vụ  
-
-
-
Xác định lượng rơm rạ đốt ngoài đồng ruộng theo mùa vụ tại tỉnh An Giang  
Xác định lượng rơm rạ đốt ngoài đồng ruộng tại Tây Nam Bộ  
Tính toán lượng khí ô nhiễm phát sinh từ hoạt động đốt trấu, rơm rạ dựa vào hệ  
số phát thải đối với các thông số PM10, PM2,5, CO, CO2, NO2, SO2 (hệ số phát  
thải kế thừa từ các nghiên cứu khác)  
2.4. Đánh giá mức độ ô nhiễm không khí từ hoạt động đốt trấu, rơm rạ  
Khảo sát xác định địa điểm lấy mẫu và xây dựng chương trình quan trắc chất  
lượng môi trường không khí xung quanh khu vực có hoạt động đốt hở trấu, rơm rạ  
đối với các thông số PM10, PM2,5, CO2, CO, NO2, SO2, nhiệt độ, độ ẩm, hướng gió,  
tốc độ gió...  
3
           
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 116 trang yennguyen 16980 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Nghiên cứu kiểm kê khí thải từ hoạt động đốt trấu, rơm rạ vùng Tây Nam Bộ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_nghien_cuu_kiem_ke_khi_thai_tu_hoat_dong_dot_trau_r.pdf