Luận văn Nghiên cứu khả năng giải thích của mô hình Long Chen và Lu Zhang cho tỷ suất sinh lợi trên thị trường chứng khoán Việt Nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM  
----------  ----------  
LÊ NGUYỄN QUỲNH TIÊN  
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG GIẢI THÍCH CỦA MÔ HÌNH  
LONG CHEN VÀ LU ZHANG CHO TỶ SUẤT SINH LỢI  
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM  
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng  
Mã số : 60340201  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
TS. TRẦN THỊ HẢI LÝ  
TP.Hồ Chí Minh - Năm 2014  
MỤC LỤC  
Trang phụ bìa  
Lời cam đoan  
Mục lục  
Danh mục bảng biểu  
Danh mục từ viết tắt  
1. Giới thiệu.................................................................................................................2  
2. Tổng quan các nghiên cứu trước đây......................................................................4  
2.1 Mô hình định giá tài sản vốn CAPM ....................................................................4  
2.2 Mô hình 3 nhân tố của Fama- French ( 1993).......................................................4  
2.3 Bằng chứng thực nghiệm về tính hiệu lực của mô hình CAPM và Fama French  
trên thế giới. ................................................................................................................5  
2.4 Mô hình 3 nhân tố của Long Chen – Lu Zhang....................................................9  
3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu.....................................................................16  
3.1 Dữ liệu nghiên cứu..............................................................................................16  
3.2 Phương pháp nghiên cứu.....................................................................................16  
4. Kết quả nghiên cứu ...............................................................................................24  
4.1 Mô tả dữ liệu .......................................................................................................24  
4.2 Kiểm tra tính dừng của chuỗi dữ liệu..................................................................29  
4.3 Tương quan giữa các nhân tố giải thích..............................................................32  
4.4 Kết quả kiểm định ...............................................................................................33  
5. Kết luận .................................................................................................................56  
Tài liệu tham khảo  
Phụ lục  
DANH MỤC BẢNG BIỂU  
Bảng 4.1: Quy mô trung bình và BE/ ME trung bình của danh mục vào mỗi năm.24  
Bảng 4.2: Quy mô trung bình và I/A trung bình của danh mục theo năm................26  
Bảng 4.3: Quy mô trung bình và ROA trung bình của danh mục theo năm.............27  
Bảng 4.4: Thống kê mô tả của các biến giải thích ....................................................28  
Bảng 4.5: Thống kê mô tả của các danh mục theo quy mô-BE/ME.........................29  
̉
̃
̣
Bảng 4.6: Kiêm tra tinh dưng cac chuôi dư liêu .......................................................31  
̀
́
̃
́
Bảng 4.7: Ma trận tương quan giữa rm-rf , SMB, HML , rINV, rROA ..........................32  
Bảng 4.8 : Hồi quy TSSL vượt trội của 6 danh mục theo quy mô – BE/ME với nhân  
tố thị trường...............................................................................................................34  
̣
Bảng 4.9: Kết qua hồi quy TSSL vượt trội 6 danh muc theo quy mô – BE/ME với ba  
̉
nhân tố rm-rf, SMB, HML..........................................................................................37  
Bảng 4.10 : Phần bù rủi ro của các nhân tố rm-rf, SMB, HML .................................41  
Bảng 4.11: So sánh R2 điều chỉnh của mô hình CAPM với mô hình Fama – French  
...................................................................................................................................42  
̣
Bảng 4.12 : Kết qua hồi quy TSSL vư ợt trội 6 danh muc theo quy mô – BE/ME với  
̉
ba nhân tố rm-rf, rINV, rROA .........................................................................................43  
Bảng 4.13: Phần bù rủi ro của các nhân tố rm-rf, rINV, rROA.......................................47  
Bảng 4.14: So sánh R2 điều chỉnh của mô hình CAPM , mô hình Fama – French và  
mô hình Long Chen – Lu Zhang...............................................................................48  
̣
Bảng 4.15 : Kết qua hồi quy TSSL vư ợt trội 6 danh muc theo quy mô – BE/ME với  
̉
năm nhân tố rm-rf, rINV, rROA, SMB, HML.................................................................49  
Bảng 4.16: Phần bù rủi ro của các nhân tố rm-rf, rINV, rROA, , SMB, HML ...............53  
Bảng 4.17 : So sánh R2 điều chỉnh của 4 mô hình....................................................54  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
BE/ME  
CAPM  
OLS  
: tỷ số giá trị sổ sách trên giá trị thị trường  
: mô hình định giá tài sản vốn  
: ordinary least squares (bình phương nhỏ nhất)  
: sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh  
: tỷ suất sinh lợi  
HOSE  
TSSL  
SGDCK  
FF  
: sở giao dịch chứng khoán  
: Fama - French  
LL  
: Long Chen – Lu Zhang  
1
Tóm tắt  
Bài nghiên cứu kiểm định khả năng giải thích của mô hình Long Chen – Lu Zhang  
(2010) cho TSSL của các cổ phiếu trên sàn HOSE giai đoạn 2008 – 2013.  
Kết quả nghiên cứu mô hình 3 nhân tố của Long Chen – Lu Zhang cho thấy nhân tố  
thị trường giải thích tốt cho TSSL của thị trường chứng khoán. Trong khi đó nhân  
tố đầu tư và ROA giải thích không đáng kể cho TSSL. Khi tiến hành so sánh khả  
năng giải thích của mô hình Long Chen – Lu Zhang với mô hình CAPM và Fama –  
French tôi nhận thấy mô hình Fama – French có khả năng giải thích tốt nhất cho  
TSSL của chứng khoán trên sàn HOSE giai đoạn 2008 – 2013, tiếp đến là mô hình  
3 nhân tố của Long Chen – Lu Zhang và cuối cùng là mô hình CAPM.  
Ngoài ra, khi tiến hành xem xét ảnh hưởng của cả 5 nhân tố (nhân tố thị trường,  
nhân tố quy mô, nhân tố giá trị, nhân tố đầu tư và nhân tố tỷ suất sinh lợi trên tài  
sản), thì 4 trong 5 nhân tố (rm- rf, SMB, HML, rINV) giải thích cho TSSL trung bình.  
Từ khoá: TSSL: tỷ suất sinh lợi, HOSE:sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí  
Minh, SMB: phần bù quy mô, HML: phần bù giá trị, rINV: phần bù đầu tư.  
2
1. Giới thiệu  
Ngày nay thị trường chứng khoán là một trong những thị trường quan trọng đối với  
các quốc gia trên thế giới, phản ánh sự phát triển của một quốc gia cũng như dự báo  
trước diễn biến nền kinh tế của quốc gia đó. Đối với các doanh nghiệp, đó là một  
trong những kênh huy động vốn quan trọng, còn đối với nhà đầu tư các nhân, đó là  
một trong những kênh đầu tư bên cạnh những kênh đầu tư truyền thống trước đây.  
Chính vì là một kênh đầu tư quan trọng trong nền kinh tế, hấp dẫn đối với nhiều nhà  
đầu tư nên việc nghiên cứu các mô hình định giá trên thị trường chứng khoán cũng  
trở nên rất quan trọng. Do đó, đã có nhiều mô hình định giá tài sản được ra đời.  
Mặc dù có những đóng góp quan trọng về mặt lý thuyết, mô hình định giá tài sản  
vốn (CAPM) của Shape (1964) và Lintner (1965) gặp phải những phản biện về mặt  
thực nghiệm.  
Năm 1992, Fama-French nghiên cứu dữ liệu trên thị trường chứng khoán Mỹ và  
nhận thấy TSSL trung bình ít có mối quan hệ với beta trong mô hình CAPM. Hai  
ông nhận thấy có một số nhân tố khác có khả năng giải thích TSSL trung bình như  
quy mô, đòn bẩy, thu nhập/ giá, giá trị sổ sách trên giá trị thị trường (BE/ME). Cuối  
cùng ông phát hiện thêm hai nhân tố là nhân tố quy mô, nhân tố giá trị. Năm 1993  
hai tác giả này đề xuất mô hình ba nhân tố để giải thích cho TSSL cổ phiếu. Mô  
hình này sau đó được kiểm định ở nhiều thị trường chứng khoán phát triển, cũng  
như mới nổi : Ở Mỹ có Nima Billou (2004) hay các nghiên cứu của Michael  
A.O’Brien (2007), Elhaj Mabrouk Walid, Elahai Mohamed Ahlem (2007), Souad  
Ajili (2005) đối với thị trường chứng khoán phát triển như Úc, Nhật, Pháp… và một  
số nghiên cứu khác đối với thị trường các nước đang phát triển.  
Gần đây, hai tác giả Long Chen và Lu Zhang (2010) cho rằng mô hình 3 nhân tố  
của Fama- French không giải thích được mối quan hệ cùng chiều giữa TSSL trung  
bình với TSSL của kì trước trong ngắn hạn cũng như mối quan hệ tương quan  
ngược chiều giữa TSSL trung bình với tình trạng kiệt quệ tài chính, phát hành cổ  
phần mới cũng như tăng trưởng tài sản. Trong khi mô hình CAPM, Fama – French  
đã được kiểm định ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam thì mô hình của  
3
Long Chen- Lu Zhang hầu như chưa được kiểm định thực nghiệm ở các thị trường.  
Chính vì lý do đó, bài nghiên cứu này tiến hành kiểm định mô hình ba nhân tố của  
Long Chen và Lu Zhang ở thị trường Việt Nam nhằm nghiên cứu khả năng giải  
thích của ba nhân tố: thị trường, đầu tư, tỷ suất sinh lợi trên tài sản. Căn cứ vào  
những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu khả năng giải thích của  
mô hình Long Chen – Lu Zhang cho tỷ suất sinh lợi trên thị trường  
chứng khoán Việt Nam” để nghiên cứu trong luận văn của mình.  
Mục tiêu của luận văn là đưa ra kết quả nghiên cứu thực nghiệm về tác động các mô  
hình cho tỷ suất sinh lợi trên thị trường chứng khoán.  
Dựa vào một số kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đây, đặc biệt là bài nghiên  
cứu của tác giả Long Chen – Lu Zhang (2010), câu hỏi nghiên cứu đặt ra là:”Các  
nhân tố trong mô hình của Long Chen-Lu Zhang có giải thích cho tỷ suất sinh lợi ở  
thị trường chứng khoán Việt Nam tốt hơn mô hình của CAPM và Fama-French hay  
không ?”.  
Luận văn sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian của 288 công ty được thu thập trong giai  
đoạn 01/2008 đến 31/12/2013 và phương pháp OLS để có thể kiểm định khả năng  
giải thích của các nhân tố cho tỷ suất sinh lợi của danh mục.  
Phần còn lại của luận văn gồm các phần sau:  
Phần 2: Tổng quan những nghiên cứu trước đây, gồm những nghiên cứu về mặt lý  
thuyết và thực nghiệm.  
Phần 3: Phương pháp nghiên cứu, gồm có mô hình nghiên cứu, phương pháp nghiên  
cứu và dữ liệu nghiên cứu.  
Phần 4: Kết quả nghiên cứu  
Phần 5: Kết luận.  
4
2. Tổng quan các nghiên cứu trước đây  
Mô hình 3 nhân tố của Long Chen - Lu Zhang là một mô hình cạnh tranh với mô  
hình 3 nhân tố của Fama-French và mô hình CAPM. Vì thế trong phần này tôi sẽ  
trình bày mô hình CAPM, Fama – French. Sau đó là mô hình Long Chen – Lu  
Zhang để có thể thấy được diễn tiến của các mô hình định giá tài sản.  
2.1 Mô hình định giá tài sản vốn CAPM  
Mô hình CAPM cho thấy mối quan hệ giữa TSSL và beta chứng khoán (William  
Sharpe (1964), Jack Treynor,John Litner (1965)).  
ri- rf = βim * ( rm – rf)  
Trong đó ri :tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của tài sản i  
rf : tỷ suất sinh lợi phi rủi ro  
rm : tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của danh mục thị trường  
βim: hệ số beta thị trường của tài sản i  
Mô hình định giá tài sản vốn mô tả mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng.  
Trong mô hình này, lợi nhuận kỳ vọng của một chứng khoán bằng lợi nhuận phi rủi  
ro (risk free) cộng với một khoản bù đắp rủi ro (risk premium) dựa trên cơ sở rủi ro  
hệ thống của chứng khoán đó. Còn rủi ro phi hệ thống không được xem xét trong  
mô hình này do nhà đầu tư có thể xây dựng danh mục đầu tư đa dạng hoá để loại bỏ  
loại rủi ro này.  
2.2 Mô hình 3 nhân tố của Fama- French (1993)  
Khi nghiên cứu trên thị trường chứng khoán Mỹ thấy được TSSL trung bình ít có  
mối quan hệ với β trong mô hình CAPM. Mặc khác, một số nhân tố khác không có  
trong mô hình lại có khả năng giải thích TSSL trung bình theo kinh nghiệm bao  
gồm: quy mô (ME, giá cố phiếu nhân số lượng cổ phiếu), đòn bẩy, thu nhập / giá  
(E/P) và giá trị sổ sách trên vốn hóa thị trường (BE/ME). [theo Banz (1981),  
Bhandari (1988), Basu (1983) và Rosenberg, Reid và Lanstein (1985)].  
5
Fama và French sử dụng cách tiếp cận hồi quy chuỗi thời gian của Black, Jensen và  
Scholes (1972), đưa ra mô hình:  
ri – rf = αi + βim.[rm – rf] + βSMB,i SMB + βHML,i HML + ε  
Trong đó:  
rf  
ri  
rm  
: lãi suất phi rủi ro ( theo kỳ quan sát tháng)  
: tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của danh mục tài sản i  
: TSSL kỳ vọng của danh mục thị trường  
SMB : phần bù quy mô, được tính là TSSL trung bình hàng tháng của 3  
danh mục có vốn hoá thị trường nhỏ (S/L, S/M, S/H) trừ cho TSSL trung  
bình của 3 danh mục có vốn hoá thị trường lớn (B/L, B/M, B/H).  
HML : phần bù giá trị, chênh lệch TSSL bình quân hàng tháng của hai danh  
mục có BE/ME cao (S/H và B/H) trừ cho TSSL bình quân của hai danh  
mục có BE/ME thấp (S/L và B/L).  
βim  
: hệ số hồi quy thị trường.  
βSMB,I : hệ số hồi quy nhân tố SMB.  
βHML,I : hệ số hồi quy nhân tố HML.  
ε  
α  
: sai số ngẫu nhiên của mô hình  
: hệ số chặn của mô hình, cũng chính là chênh lệch giữa TSSL thực tế  
và TSSL kỳ vọng theo mô hình ba nhân tố.  
2.3 Bằng chứng thực nghiệm về tính hiệu lực của mô hình CAPM và Fama  
French trên thế giới.  
Nghiên cứu tại Mỹ của Nima Billou (2004).  
Tại Mỹ, trong bài nghiên cứu “Kiểm định mô hình CAPM và mô hình ba nhân tố  
Fama French” năm 2004, tác giả Nima Billou đã so sánh và kiểm tra tính hiệu quả  
của hai mô hình FF và CAPM. Với khoảng thời gian nghiên cứu từ 7/1963 đến  
12/2003, αCAPM = 0.3 , αFF = 0.13, ngoài ra với độ tin cậy 95% thì R2 của CAPM là  
72% còn R2 của FF là 89%, chứng tỏ mô hình Fama French vẫn hiệu quả hơn so với  
CAPM. Sau khi Nima Billou mở rộng mẫu nghiên cứu ra từ 7/1926 đến 12/2003 thì  
6
αCAPM = 0.23, αFF = 0.19, R2 của CAPM là 77% và R2 của Fama French là 88%. Kết  
quả cho thấy hai nhân tố quy mô và giá trị rất có ảnh hưởng trên thị trường chứng  
khoán Mỹ, do đó mô hình Fama French vẫn tỏ ra hiệu quả hơn CAPM trong việc  
giải thích tỷ suất sinh lợi của chứng khoán.  
Nghiên cứu tại Nhật của Elhaj Walid và Elhaj Ahlem (2007)  
Ở Nhật, trong bài nghiên cứu “Những bằng chứng về khả năng áp dụng của mô  
hình Fama French lên thị trường chứng khoán Nhật Bản” (2007), hai tác giả Elhaj  
Walid và Elhaj Ahlem đã sử dụng mẫu gồm tỷ suất sinh lợi hàng tháng của tất cả  
chứng khoán trên Sở giao dịch chứng khoán Tokyo (TSE) trong khoảng thời gian từ  
1/2002 đến 9/2007. Kết quả nghiên cứu cho thấy ở Nhật Bản nhân tố quy mô công  
ty và tỷ suất sinh lợi có quan hệ nghịch biến, còn nhân tố giá trị và tỷ suất sinh lợi  
thì đồng biến. Nhân tố quy mô thể hiện rõ nét ở những chứng khoán có mức vốn  
hóa thị trường nhỏ. Mô hình Fama French vẫn tỏ ra hiệu quả hơn so với CAPM, chỉ  
trừ những danh mục các chứng khoán có giá trị vốn hóa thị trường thấp. R2 trung  
bình của Fama French lả 78.2% lớn hơn so với R2 trung bình của CAPM là 70.5%.  
Nghiên cứu tại New Zealand của Hadrian Djajadikerta và Gilbert  
Nartea (2005)  
Tại New Zealand, trong bài nghiên cứu “Nhân tố quy mô, giá trị và mô hình Fama  
French trong thị trường nhỏ - Những phát hiện ở New Zealand” (2005), hai tác giả  
là đã sử dụng dữ liệu từ 284 chứng khoán trong khoản thời gian 1994 đến 2002.  
Nghiên cứu hành nhằm mục đích thêm vào những bằng chứng xác định những ảnh  
hưởng của phần bù giá trị và qui mô và mô hình 3 nhân tố trong nền kinh tế với thị  
trường chứng khoán nhỏ. Bài nghiên cứu xác định phần bù giá trị ảnh hưởng ít,  
trong khi đó phần bù qui mô ảnh hưởng đáng kể đến mô hình. Tuy nhiên kết quả  
này không phù hợp với những nghiên cứu trước. Bryant và Eleswaparu (1997), sử  
dụng dữ liệu thị trường chứng khoán New Zealand trong khoảng thời gian 1971 tới  
1993, xác định ảnh hưởng mạnh của phần bù giá trị và yếu của phần bù qui mô. Vos  
7
và Pepper (1997), sử dụng mẫu nhỏ hơn, từ năm 1991 đến 1995 kết luận rằng cả 2  
phần bù này có ảnh hưởng đáng kể đến thị trường chứng khoán. Sự không đồng  
nhất này bởi vì công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán New Zealand thì quá  
ít và tỷ suất sinh lợi có tính biến động cao. Qui mô mẫu nhỏ sẽ gây ra khó khăn  
trong việc hình thành những danh mục được đa dạng hóa tốt và điều này ảnh hưởng  
đáng kể đến việc kiểm định kết quả của mô hình. Mặc dù beta không thể giải thích  
tất cả biến động trong tỷ suất sinh lợi của danh mục, nhưng nó vẫn là nhân tố giải  
thích chủ đạo trong mô hình FF. Tuy nhiên, SMB là nhân tố cũng có ý nghĩa và phù  
hợp với mô hình FF ở Mỹ và Úc. Trong khi đó, HML cũng có ý nghĩa giải thích  
trong mô hình, nó cũng giống như kiểm định ở Úc nhưng đối lập với Mỹ. Nói tóm  
lại, FF (R2 44%) có ý nghĩa hơn so với CAPM (R2 36%) trong việc giải thích tỷ suất  
sinh lợi ở New Zealand.  
Nghiên cứu tại Ấn Độ của Gregory Connor, và Sanjay Sehgal (2001)  
Ở Ấn Độ, mô hình CAPM và FF được hai tác giả Gregory Connor and Sanjay  
Sehgal nghiên cứu với tựa đề “Kiểm định mô hình hình Fama và French ở thị  
trường Ấn Độ”. Bài nghiên cứu này cho thấy mô hình FF chỉ phù hợp ở hai phát  
hiện này so với thị trường chứng khoán Mỹ. Thứ nhất, các nhân tố thị trường, quy  
mô và giá trị thì phổ biến trong tỷ suất sinh lợi của chứng khoán. Thứ hai, có mối  
quan hệ tuyến tính giữa cố phiếu và những nhân tố trên trong việc giải thích độ  
phân tán của tỷ suất sinh lợi trung bình. Trong khi đó, các nhân tố thị trường, quy  
mô và giá trị không ảnh hưởng phổ biến đến tỷ lệ tăng trưởng thu nhập, do đó  
không ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu. Điều này đối lập với thị trường  
chứng khoán Mỹ. Bài nghiên cứu này lấy dữ liệu từ tỷ suất sinh lợi cuối tháng của  
364 cổ phiếu từ tháng 6/1989 đến tháng 3/1999. R2 trung bình trong mô hình FF là  
84.22% còn trong mô hình CAPM là 75%. Nghiên cứu này cho thấy, việc chạy mô  
hình hồi qui tuyến tính của hai mô hình này có thể giải thích và dự đoán được tỷ  
suất sinh lợi của các chứng khoán và danh mục của chứng khoán tại thị trường  
8
chứng khoán ở Ấn Độ. Với mức ý nghĩa này nhà đầu tư có thể cân nhắc và vận  
dụng hai mô hình này để việc kinh doanh chứng khoán đầu tư hiệu quả hơn.  
Nghiên cứu tại Hàn Quốc của Kyong Shik Eom và Jong-Ho Park  
Kyong Shik Eom và Jong-Ho Park chạy mô hình hồi qui tuyến tính với dữ liệu từ  
868 cổ phiếu trong khoảng thời gian từ 7/1981 đến tháng 12/2007 với đề tài nghiên  
cứu “Bằng chứng mô hình ba nhân tố tại Hàn Quốc”. Nhóm tác giả này cho thấy  
rằng trong khoảng thời gian (1984-1994) mô hình ba nhân tố Fama - French thì  
không phù hợp để giải thích tỷ suất sinh lợi của chứng khoán mà chỉ có mô hình  
CAPM tỏ ra phù hợp. Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy mô hình Fama - French chỉ  
phù hợp để dự báo tỷ suất sinh lợi trong thị trường chứng khoán Hàn Quốc trong  
khoảng thời gian ngắn nhưng không phù hợp trong khoảng thời gian dài (26.5 năm).  
Kết quả này chỉ ra rằng R2 mô hình ba nhân tố là 2.52% với khoảng tin cậy là 99%.  
Với mức ý nghĩa thấp này chứng tỏ biến thị trường, qui mô và giá trị không giải  
thích và dự báo được tỷ suất sinh lợi của chứng khoán và danh mục của nó. Thêm  
vào đó, nhóm tác giả cũng mở rộng mô hình và tìm ra nhân tố chính ảnh hưởng đến  
mô hình để giải thích tỷ suất sinh lợi là tính thanh khoản, sự công bố thông tin và sự  
lan rộng của việc cấp tín dụng.  
Nghiên cứu tại Thái Lan của Nopbhanon Homsud (2009)  
Ở Thái Lan, bài nghiên cứu “Một nghiên cứu về mô hình ba nhân tố Fama và  
French này sử dụng số liệu trên thị trường chứng khoán Thái Lan từ tháng 7/2002  
đến tháng 5/2007, bao gồm 421 cổ phiếu chia làm 6 nhóm: BH, BM, BL, SH, SM,  
SL. Kết quả là mô hình ba nhân tố giải thích tốt hơn mô hình CAPM cho 4 các cổ  
phiếu thuộc 4 nhóm là SH, BH, BM, SL. Kết quả bài nghiên cứu cho thấy việc thêm  
vào các biến quy mô công ty và biến giá trị vào mô hình CAPM để trở thành mô  
hình Fama French cho thấy khả năng giải thích tỷ suất sinh lợi vượt trội hàng tháng  
của các danh mục tốt hơn mô hình CAPM. Mặc dù mô hình Fama French thích hợp  
với thị trường chứng khoán Thái Lan hơn mô hình CAPM nhưng mô hình Fama  
9
French lại không là lý thuyết tài chính hỗ trợ tốt cho việc giải thích tầm ảnh hưởng  
của các biến đến tỷ suất sinh lợi vì có những biến giải thích khác thích hợp hơn so  
với biến quy mô và biến giá trị. Kết quả mô hình là R2 hiệu chỉnh trung bình của 6  
danh mục trong mô hình Fama French là 62.42%, cao hơn mô hình CAPM là  
29.47%.  
Tuy nhiên tất cả các nghiên cứu trên không giải thích được mối quan hệ cùng chiều  
TSSL trung bình với TSSL của kì trước trong ngắn hạn cũng như mối quan hệ  
ngược chiều TSSL trung bình với tình trạng kiệt quệ tài chính, phát hành cổ phần  
cũng như tăng trưởng tài sản.  
2.4 Mô hình 3 nhân tố của Long Chen – Lu Zhang  
2.4.1 Lý thuyết Q của James Tobin  
Nền tảng để xây dựng mô hình 3 nhân tố dựa trên lý thuyết Tobin’s Q.  
giá trị th ị trường  
푀퐸  
퐵퐸  
푞 =  
=
Giá trị vốn góp của công ty  
Nếu q > 1 công ty nên đầu tư thêm vì đầu tư sẽ mang lại lợi nhuận cao hơn chi phí  
bỏ ra.  
Nếu q < 1 công ty nên bán bớt tài sản vì chúng không tạo ra lợi nhuận và không đạt  
đến mức hữu dụng tối đa.  
Nếu q=1 là trạng thái cân bằng đầu tư và công ty không cần thay đổi gì nữa.  
2.4.2 Mô hình 3 nhân tố của Long Chen – Lu Zhang  
Long Chen – Lu Zhang đã phát triển giả thiết từ lý thuyết của Tobin’s Q từ đó để  
đưa ra phương trình tổng quát là cơ sở để phát triển các giả thuyết có thể kiểm  
chứng được cho TSSL.  
j1 1  
(1)  
rj   
1a I / A  
j0
  
j0  
Π
푗1  
: TSSL trên tài sản  
10  
1 − 훿  
: giá trị thanh lý biên của vốn  
:chi phí đầu tư biên  
1
a(Ij0/Aj0) : chi phí điều chỉnh biên  
Phương trình trên nói rằng lợi ích biên của đầu tư khi chiết khấu về thời điểm 0 phải  
bằng chi phí biên của đầu tư. Một cách tương đương, tỷ suất sinh lợi của đầu tư,  
được định nghĩa là tỷ số lợi ích biên của đầu tư ở thời kỳ 1 trên chi phí biên của đầu  
tư ở ngày 0, phải bằng tỷ lệ chiết khấu, như Cochrane (1991).  
Dựa trên phương trình tổng quát tác giả đã đưa ra các giả thuyết về đầu tư, tỷ suất  
sinh lợi trên tài sản:  
Giả thuyết đầu tư  
- Với ROA dự kiến cho trước, tỷ suất sinh lợi kỳ vọng thấp khi đầu tư trên tài  
sản cao. Cơ chế này dẫn đến các mối quan hệ ngược chiều của tỷ suất sinh  
lợi trung bình với phát hành cổ phần ròng, tăng trưởng tài sản, các chỉ số  
định giá, tăng trưởng doanh số dài hạn trong quá khứ, và tỷ suất sinh lợi dài  
hạn ở giai đoạn trước.  
- Các công ty đầu tư nhiều hơn khi NPV cao (giá trị hiện tại ròng của dòng  
tiền tương lai được tạo ra từ một đơn vị vốn tăng thêm). Với ROA dự kiến  
hoặc dòng tiền dự kiến cho trước, tỷ lệ chiết khấu thấp làm NPV tăng và tăng  
đầu tư, tỉ lệ chiết khấu cao làm NPV giảm và đầu tư giảm. Với dòng tiền dự  
kiến cho trước, chi phí vốn cao hàm ý hiện giá thuần của dự án mới thấp và  
đầu tư thấp, và chi phí vốn thấp ngụ ý hiện giá thuần của dự án mới cao và  
đầu tư cao.  
- Trong nghiên cứu của tác giả chi phí sử dụng vốn là đồng nhất, có nghĩa là  
không có sự khác biệt giữa chi phí sử dụng vốn của dự án và chi phí sử dụng  
vốn của công ty.  
Giả thuyết tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA)  
- Với đầu tư trên tài sản cho trước, các công ty với ROA kỳ vọng cao sẽ có  
được TSSL cao hơn các công ty với ROA kỳ vọng thấp. Mối tương quan  
dương giữa ROA và TSSL kỳ vọng dẫn đến mối tương quan dương của  
11  
TSSL trung bình với TSSL ngắn hạn trước đó và thu nhập bất ngờ, cũng như  
tương quan âm giữa TSSL trung bình với kiệt quệ tài chính.  
- Phương trình (1) cho rằng TSSL kỳ vọng bằng ROA kỳ vọng chia gia tăng  
đầu tư trên tài sản. ROA kỳ vọng cao với đầu tư thấp có nghĩa là lãi suất  
chiết khấu cao. Lãi suất chiết khấu cao là cần thiết để bù đắp ROA dự kiến  
cao nhằm làm giảm hiện giá thuần của vốn mới thấp, do đó đầu tư thấp. Nếu  
tỉ lệ chiết khấu không đủ cao để chống lại ROA dự kiến cao,các công ty sẽ  
quan sát vào hiện giá thuần của vốn mới cao và đầu tư nhiều hơn. Tương tự  
như vậy, ROA dự kiến thấp đi đôi với đầu tư cao có nghĩa là tỷ lệ chiết khấu  
thấp. Nếu tỉ lệ chiết khấu không đủ thấp để ngăn tác động của ROA dự kiến  
thấp thì các công ty thay vào đó sẽ đánh giá hiện giá ròng (NPV) của vốn cổ  
phẩn mới thấp và do đó đầu tư ít hơn.  
Với những lập luận về ảnh hưởng của 2 nhân tố: đầu tư và ROA, Long Chen – Lu  
Zhang hàm ý mô hình 3 nhân tố sau:  
Mô hình 3 nhân tố Long Chen – Lu Zhang  
ri – rf = αi + βMKT.[rm – rf] + βINV rINV + βROA rROA + ε  
Trong đó  
rf  
ri  
rm  
: lãi suất phi rủi ro  
: tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của danh mục tài sản i  
: TSSL kỳ vọng của danh mục thị trường  
rINV : phần bù đầu tư  
rROA : phần bù TSSL trên tổng tài sản  
βMKT : hệ số hồi quy thị trường.  
βINV : hệ số hồi quy nhân tố đầu tư.  
βROA : hệ số hồi quy nhân tố ROA.  
ε  
α  
: sai số ngẫu nhiên của mô hình  
: hệ số chặn của mô hình  
12  
2.4.3 Xây dựng các nhân tố giải thích  
Long Chen – Lu Zhang kiểm định giả thuyết đầu tư và giả thuyết ROA bằng cách  
sử dụng phương pháp danh mục của Fama-French. Các nhân tố mới dựa vào đầu tư  
trên tài sản và ROA được xây dựng tương tự như Fama và French (1993, 1996) xây  
dựng nhân tố quy mô và giá trị. Tác giả cũng xem xét nhân tố thị trường, và sử dụng  
kết quả mô hình ba nhân tố mới này để mô tả chi tiết tỷ suất sinh lợi.  
Nhân tố đầu tư  
Đầu tư trên tài sản (I/A) là sự thay đổi hàng năm trong bất động sản, nhà xưởng,  
máy móc, thiết bị cộng với sự thay đổi hàng năm của hàng tồn kho chia giá trị sổ  
sách của tài sản năm trước.  
∆ Đầ푢 푡ư 푇푆퐶Đ + ∆ 퐻à푛ꢀ 푡ồ푛 푘ℎ표  
푡
푡
I/A =  
푇ổ푛ꢀ 푡à푖 푠ả푛  
푡−1  
Nhân tố đầu tư, rINV, được xây dựng bằng cách sắp xếp dựa trên quy mô và I/A.  
- 3 nhóm theo I/A :vào tháng 6 mỗi năm, chia cổ phiếu NYSE, AMEX, và  
NASDAQ thành ba nhóm I/A dựa trên các điểm ngắt 30% thấp (L), 40%  
trung bình (M), và 30% cao (H).  
- 2 nhóm theo quy mô: sử dụng trung vị giá trị thị trường NYSE của vốn cổ  
phần (giá cổ phiếu nhân với cổ phiếu đang lưu hành) để chia cổ phiếu NYSE,  
Amex, và NASDAQ thành hai nhóm quy mô (Nhỏ-L và Lớn-B).  
- Qua đó Long Chen – Lu Zhang đã xây dựng nên 6 danh mục với các ký hiệu:  
S/L, S/M, S/H, B/L, B/M, B/H. (S,M lần lượt là danh mục các cổ phiếu có  
quy mô nhỏ, quy mô lớn. L, M, H lần lượt là danh mục tỷ lệ I/A thấp, trung  
bình, cao). Với TSSL mỗi chứng khoán trong danh mục được tính bằng  
TSSL hàng tháng nhân với trọng số vốn hóa mỗi chứng khoán của danh mục.  
- Nhân tố đầu tư (rINV) là sự chênh lệch giữa tỷ suất sinh lợi trung bình hàng  
tháng của hai nhóm danh mục I/A-thấp và hai nhóm danh mục I/A-cao.  
13  
Nhân tố ROA  
ROA là thu nhập trước các khoản mục bất thường chia cho tổng tài sản của quý gần  
nhất. Cũng tương tự như phương pháp xây dựng INV tác giả cũng xây dựng thành 6  
danh mục.  
- 3 nhóm theo ROA: Mỗi tháng từ tháng 1 năm 1972 đến tháng 12 năm 2006,  
tác giả phân loại cổ phiếu NYSE, AMEX và NASDAQ thành ba nhóm dựa  
trên các điểm ngắt cho 30% thấp, trung bình 40%, và 30% của giá trị được  
xếp hạng của ROA của quý gần nhất.  
- 3 nhóm theo quy mô : Tác giả sử dụng trung vị NYSE mỗi tháng để chia cổ  
phiếu NYSE, AMEX và NASDAQ thành hai nhóm.  
- Từ đó hình thành sáu danh mục đầu tư từ các giao điểm của 2 nhóm quy mô  
và ba nhóm ROA.  
-
Qua đó Long Chen – Lu Zhang đã xây dựng nên 6 danh mục với các ký  
hiệu: S/L, S/M, S/H, B/L, B/M, B/H. (S,M lần lượt là danh mục các cổ phiếu  
có quy mô nhỏ, quy mô lớn. L, M, H lần lượt là tỷ lệ ROA thấp, trung bình,  
cao). Tỷ suất sinh lợi hàng tháng theo tỷ trọng vốn hoá thị trường. Để mô  
phỏng sự thay đổi chung trong tỷ suất sinh lợi liên quan đến ROA cấp độ  
công ty.  
14  
- Nhân tố ROA (rROA) là chênh lệch giữa trung bình đơn giản của tỷ suất sinh  
lợi 2 danh mục ROA cao và trung bình đơn giản của tỷ suất sinh lợi 2 danh  
mục ROA thấp.  
Kết quả mô hình của Long Chen – Lu Zhang đưa ra mối quan hệ ngược chiều giữa  
TSSL mong đợi với đầu tư trên tài sản – I/A, đồng thời tác giả cũng đưa ra mối  
quan hệ cùng chiều giữa TSSL mong đợi và ROA mong đợi.  
Các kiểm định thực nghiệm của mô hình Long Chen – Lu Zhang (2009)  
Mẫu dữ liệu được lấy theo tháng từ tháng 1/1972 đến tháng 12/2006 dựa trên các  
sàn cổ phiếu NYSE, AMEX, và NASDAD từ trung tâm nghiên cứu giá cổ phiếu  
(CPRS).  
Long Chen – Lu Zhang sử dụng chuỗi thời gian đơn giản để đánh giá mô hình mới  
bằng cách kiểm định danh mục được hình thành trên các biến bất thường.  
Tác giả lần lượt hồi quy TSSL các danh mục phân loại theo quy mô và xu hướng  
(chia 5 nhóm theo quy mô và 5 nhóm theo xu hướng - 25 danh mục); khả năng rơi  
vào kiệt quệ tài chính (10 danh mục dựa trên đo lường xác suất phá sản của  
Campell (2008) và 10 danh mục dựa trên O-Score của Ohlson (1980)); phát hành cổ  
phiếu ròng ( sắp xếp các cổ phiếu NYSE, AMEX, và NASDAD vào 10 nhóm dựa  
15  
trên phát hành cổ phiếu ròng vào cuối năm tài chính); tăng trưởng tài sản (chia  
thành 10 danh mục dựa trên tăng trưởng tài sản); thu nhập bất ngờ ( dựa trên sự thay  
đổi thu nhập hàng quý của cổ phiếu so với giá trị của nó 4 quý trước chia cho độ  
lệch chuẩn của sự thay đổi trong thu nhập hàng quý của 8 quý trước  
); BE/ME (5 danh mục); ngành công nghiệp, beta CAPM và giá trị thị trường của  
vốn cổ phần theo ba nhân tố mới xây dựng trong mô hình của mình. Các kết quả thu  
được cho thấy α giảm đi đáng kể so với kết quả hồi quy theo CAPM, mô hình  
Fama-French cho thấy tính hiệu quả của mô hình đồng thời các hệ số nhân tố βMKT  
,
βINV, βROA phần lớn là có ý nghĩa thống kê với giá trị |t| khá lớn, có thể bác bỏ giả  
thiết Ho là các hệ số nhân tố = 0.  
Qua nghiên cứu lý thuyết về mô hình định giá tài sản vốn CAPM, mô hình 3 nhân  
tố Fama – French và mô hình 3 nhân tố của Long Chen – Lu Zhang, ta thấy được  
tầm ảnh hưởng của nhân tố thị trường, nhân tố quy mô, nhân tố giá trị, nhân tố đầu  
tư và nhân tố tỷ suất sinh lợi trên tài sản lên TSSL của chứng khoán, là cơ sở để tiến  
hành kiểm định và so sánh mô hình 3 nhân tố của Long Chen – Lu Zhang với mô  
hình 3 nhân tố của Fama – French, mô hình định giá tài sản vốn CAPM, ở thị  
trường chứng khoán Việt Nam, mà cụ thể là chứng khoán niêm yết trên sở giao dịch  
chứng khoán TPHCM trong phần tiếp theo.  
16  
3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu  
3.1 Dữ liệu nghiên cứu  
Bài nghiên cứu sử dụng mẫu là toàn bộ các công ty phi tài chính được niêm yết trên  
SGDCK TPHCM (HOSE). Bài nghiên cứu chỉ sử dụng các công ty phi tài chính do  
các công ty tài chính có đặc điểm đòn bẩy cao nhưng có thể không có hàm ý rủi ro  
kiệt quệ (Fama – French (1993)). Đồng thời theo phương pháp Fama – French nên  
tác giả chỉ chọn những công ty phi tài chính có vốn cổ phần không âm trên sàn  
SGDCK TPHCM để xây dựng các danh mục. Số lượng công ty trong mẫu 288  
công ty được thu thập trong giai đoạn 01/2008 đến 31/12/2013.  
Giá cổ phiếu: là giá đóng cửa đã điều chỉnh cuối mỗi tuần giao dịch (giá đã được  
điều chỉnh cổ tức cổ phiếu, cổ phiếu thưởng, cổ tức tiền mặt). Giá cổ phiếu này  
được thu thập từ website http://vietstock.vn/ và https://vndirect.com.vn/portal/  
Báo cáo tài chính quý và báo cáo tài chính năm của các công ty cũng lấy từ website  
http://vietstock.vn/ hầu hết các báo cáo đều đã được soát xét đối với BCTC giữa  
niên độ và kiểm toán đối với các BCTC năm.  
Lãi suất phi rủi ro: là lãi suất của tài sản phi rủi ro. Bài nghiên cứu sử dụng lãi suất  
trái phiếu chính phủ kỳ hạn 12 tháng do Kho bạc nhà nước phát hành. Nguồn dữ  
liệu trái phiếu chính phủ lấy từ trang web : http://thomsonreuters.com/ .  
Tỷ suất sinh lợi thị trường được tính dựa vào chỉ số giá VN-Index.  
3.2 Phương pháp nghiên cứu  
3.2.1 Phương pháp xử lý dữ liệu  
Tỷ suất sinh lợi theo tuần của danh mục  
Dựa vào giá đóng cửa cuối tuần của cổ phiếu và giá này là giá đã điều chỉnh cổ tức  
cổ phiếu, cổ phiếu thưởng, cổ tức tiền mặt.  
giá đóng cửa cuối tuần t  
푇푆푆퐿 푡푢ầ푛 푐ủ푎 푐ổ 푝ℎ푖ế푢 = 푙푛  
ꢀ푖á đó푛ꢀ 푐ử푎 푐푢ố푖 푡푢ầ푛 푡 − 1  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 79 trang yennguyen 12280 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Nghiên cứu khả năng giải thích của mô hình Long Chen và Lu Zhang cho tỷ suất sinh lợi trên thị trường chứng khoán Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_nghien_cuu_kha_nang_giai_thich_cua_mo_hinh_long_che.pdf