Khóa luận Nghiên cứu hưởng của một số nhân tố sinh thái đến sinh trưởng của các chủng vi sinh vật sinh màng nhầy được phân lập từ các mẫu đất dưới tán rừng thông nhựa (Pinus merkusii Jungh et de Vries) ở Hoành Bồ, Quảng Ninh

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
----------  ----------  
NÔNG GIA LÂM  
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ NHÂN TỐ SINH THÁI  
ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA CÁC CHỦNG VI SINH VẬT SINH MÀNG  
NHẦY ĐƯỢC PHÂN LẬP TỪ CÁC MẪU ĐẤT DƯỚI TÁN RỪNG  
THÔNG NHỰA (PINUS MERKUSII JUNGH ET DE VRIES)  
Ở HOÀNH BỒ, QUẢNG NINH  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Khoa  
: Chính quy  
: Quản lý tài nguyên rừng  
: Lâm nghiệp  
Khóa học  
: 2015 - 2019  
Thái Nguyên, năm 2019  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
----------  ----------  
NÔNG GIA LÂM  
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ NHÂN TỐ SINH THÁI  
ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA CÁC CHỦNG VI SINH VẬT SINH MÀNG  
NHẦY ĐƯỢC PHÂN LẬP TỪ CÁC MẪU ĐẤT DƯỚI TÁN RỪNG  
THÔNG NHỰA (PINUS MERKUSII JUNGH ET DE VRIES)  
Ở HOÀNH BỒ, QUẢNG NINH  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo:  
Chuyên ngành:  
Lớp  
: Chính quy  
: Quản lý tài nguyên rừng  
: K47 - QLTNR  
: Lâm nghiệp  
Khoa  
Khóa học  
: 2015 - 2019  
Giảng viên hướng dẫn: : TS. Vũ Văn Định  
ThS. Phạm Thu Hà  
Thái Nguyên, năm 2019  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Em xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của bản thân. Các kết  
quả trình bày trong Khóa luận là trung thực. Nếu có gì sai sót, em xin hoàn  
toàn chịu trách nhiệm.  
Thái Nguyên, ngày tháng 6 năm 2019  
Giảng viên hướng dẫn  
Sinh viên  
Nông Gia Lâm  
XꢀC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN DIỆN  
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên  
đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu!  
(Ký, họ và tên)  
 
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Để hoàn thành tốt đợt thực tập tốt nghiệp này, em xin gửi lời cảm ơn  
chân thành đến Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp Trường Đại  
học Nông Lâm Thái Nguyên. Cảm ơn sự nhiệt tình giảng dạy của các thầy cô  
đã truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm thực tế để em hoàn thành tốt  
Khóa luận tốt nghiệp này. Em đặc biệt gửi lời cảm ơn đến TS. Vũ Văn Định -  
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam và ThS. Phạm Thu Hà là giảng viên  
hướng dẫn khoa học đã nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập và  
hoàn thành khóa luận.  
Em xin chân thành cám ơn Ban Lãnh đạo Trung tâm nghiên cứu Bảo vệ  
rừng - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi về  
mọi mặt để chúng em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.  
Trong quá trình thực hiện khóa luận mặc dù em đã cố gắng rất nhiều  
nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng  
góp ý kiến quý báu của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên.  
Xin chân thành cảm ơn!  
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019  
Sinh viên  
Nông Gia Lâm  
 
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ CÁC KÝ HIỆU  
Chữ viết tắt/ký hiệu Giải nghĩa đầy đủ  
BNN &PTNT  
CFU  
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn  
Đơn vị khuẩn lạc trong 1 ml hoặc 1 gam  
Công thức  
CT  
HTX  
Hợp tác xã  
VSV  
Vi sinh vật  
VK  
Vi khuẩn  
PDA  
Potato Dextrose Agar  
Tổng cục Lâm nghiệp  
Môi trường  
TCLN  
MT  
 
vi  
MỤC LỤC  
 
vii  
1
PHẦN 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Đặt vấn đề  
Vi sinh vật là những sinh vật đơn bào có kích thước nhỏ, không quan  
sát được bằng mắt thường mà phải sử dụng kính hiển vi. Thuật ngữ vi sinh vật  
không tương đương với bất kỳ đơn vị phân loại nào trong phân loại khoa học.  
Nó bao gồm cả virus, vi khuẩn, archaea, vi nấm, vi tảo, động vật nguyên sinh  
.v.v. Vi sinh vật là một thế giới sinh vật vô cùng nhỏ bé ta không thể quan sát  
thấy bằng mắt thường. Nó phân bố ở khắp mọi nơi, trong đất, trong nước,  
trong không khí, trong thực phẩm ... Nó có mặt ở dưới những độ sâu tăm tối  
của đại dương. Bào tử của nó tung bay trên những tầng cao của bầu khí  
quyển, chu du theo những đám mây. Nó sống được trên kính, trên da, trên  
giấy, trên những thiết bị bằng kim loại ...  
Vi sinh vật màng nhầy đóng vai trò vô cùng quan trọng trong thiên  
nhiên cũng như trong cuộc sống của con người. Chế phẩm vi sinh vật sinh  
màng nhầy tăng khả năng giữ nước đối với cây trồng ở vùng khô hạn, tăng  
khả năng sinh trưởng và giảm chi phí trong sản xuất Lâm nghiệp Trong đất  
nhóm vi sinh vật sinh màng nhầy (polysacarit) có vai trò quan trọng trong  
việc giữa ẩm đất và vật liệu cháy dưới tán rừng Nhóm sinh màng nhầy bao  
gồm: Lipomyces, Bacillus, Azotobacter, Beijerinckia, Enterobacter…Các  
nhóm vi sinh vật này, trong quá trình sinh trưởng phát triển, đã tiết ra  
polysacarit sinh học. Khi có mặt Ca++, các polysacarit sẽ cùng tác động tương  
hỗ trong đất, giúp gắn kết các hạt đất, các hạt cát với nhau để tạo thành một  
cấu tượng ổn định và bền vững. Do đó đất có khả năng tăng độ kết cấu, có  
khả năng giữ nước, chống rửa trôi, làm giảm sự bay hơi nước  
   
2
Xuất phát từ những thực tế đó tôi chọn đề tài “Nghiên cứu hưởng của  
một số nhân tố sinh thái đến sinh trưởng của các chủng vi sinh vật sinh  
màng nhầy được phân lập từ các mẫu đất dưới tán rừng thông nhựa (Pinus  
merkusii Jungh et de Vries) ở Hoành Bồ, Quảng Ninh ” làm đề tài khóa  
luận tốt nghiệp đại học, đó cũng là một hướng mới và rất cần thiết với thực  
tiễn, đề xuất các phương pháp phân lập, tuyển chọn các vi sinh vật màng nhầy  
có hoạt tính cao để sử dụng trong sản xuất chế phẩm sinh học tạo các chế  
phẩm sinh học phục vụ cho hoạt động sản xuất lâm nghiệp đạt được năng  
xuất cao  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
Xác định được ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến sinh trưởng  
của các chủng VSV sinh màng nhầy.  
1.3. Ý nghĩa của luận án  
1.3.1. Ý nghĩa khoa học  
- Là cơ sở khoa học để tạo chế phẩm sinh học từ một số chủng vi khuẩn  
sinh màng nhầy cải tạo đất dưới tán rừng thông nhựa.  
- Giúp sinh viên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và tăng  
các kỹ năng thực hành trong phòng thí nghiệm và ngoài hiện trường  
- Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất  
Phân lập được một số loại VSV sinh màng nhầy phân hủy nhanh vật  
liệu khô dễ cháy dưới tán rừng thông nhằm hạn chế khả năng cháy rừng.  
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn  
- Là cơ sở ban đầu nghiên cứu các điều kiện tối ưu cho sinh trưởng và  
phát triển của các vi sinh vật sinh màng nhầy  
- Là cơ sở để sản xuất chế phẩm sinh học nhằm cải tạo đât phục vụ  
trong sản xuất lâm nghiệp  
- Nâng cao chất lượng và sản lượng của sản xuất lâm nghiệp hiện tại và trong  
tương lai, góp phần nâng cao dinh dưỡng đất, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.  
       
3
PHẦN 2  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU  
2.1. Cơ sở khoa học  
Trong đất nhóm vi sinh vật sinh màng nhầy (polysacarit) có vai trò  
quan trọng trong việc giữa ẩm đất. Khi có mặt Ca++, các polysacarit sẽ cùng  
tác động tương hỗ trong đất, giúp gắn kết các hạt đất, các hạt cát với nhau để  
tạo thành một cấu tượng ổn định và bền vững. Do đó đất có khả năng tăng độ  
kết cấu, có khả năng giữ nước, chống rửa trôi, làm giảm sự bay hơi nước;  
thông qua đó độ phì của đất được cải thiện. Chế phẩm sinh học có tác dụng  
giữ nước trong đất, tăng độ ẩm trong đất từ 12-16% trên quy mô chậu vại và  
đồng ruộng. Đây là loại chế phẩm vi sinh đầu tiên sản xuất tại Việt Nam có  
tác dụng giữ ẩm cho đất được rất nhiều địa phương và nông dân quan tâm.  
Chế phẩm có tác dụng làm tăng khả năng giữ ẩm cho đất ở cả điều kiện thí  
nghiệm chậu vại và thí nghiệm đồng ruộng. Ở điều kiện thí nghiệm trong  
chậu không trồng cây độ ẩm đất bón chế phẩm tăng so với đối chứng (không  
bón chế phẩm) khoảng 8,35%. Trong chậu trồng Keo lá tràm sau 60 ngày bón  
chế phẩm độ ẩm tăng 16,6% so với đối chứng. Trong điều kiện thí nghiệm  
đồng ruộng chế phẩm sau 6 tháng bón chế phẩm độ ẩm tăng 10,63% so với  
đối chứng, lượng nước hữu hiệu ở đất có bón chế phẩm cao hơn đối chứng  
13,28-28,95g nước/1 kg đất đây là những cơ sở khoa học ban đầu để tôi thực  
hiện khóa luận nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn hiện nay đang biến đổi khí  
hậu khô hạn ngày càng nhiều và để rèn luyện các kỹ năng thực hành của sinh  
viên trước khi ra trường.  
Vi sinh vật màng nhầy đóng vai trò vô cùng quan trọng trong thiên  
nhiên cũng như trong cuộc sống của con người. Chế phẩm vi sinh vật sinh  
màng nhầy tăng khả năng giữ nước đối với cây trồng ở vùng khô hạn, tăng  
   
4
khả năng sinh trưởng và giảm chi phí trong sản xuất Lâm nghiệp Trong đất  
nhóm vi sinh vật sinh màng nhầy (polysacarit) có vai trò quan trọng trong  
việc giữa ẩm đất và vật liệu cháy dưới tán rừngNhóm sinh màngnhầy bao  
gồm: Lipomyces, Bacillus, Azotobacter, Beijerinckia, Enterobacter…Các  
nhóm vi sinh vật này, trong quá trình sinh trưởng phát triển, đã tiết ra  
polysacarit sinh học. Khi có mặt Ca++, các polysacarit sẽ cùng tác động tương  
hỗ trong đất, giúp gắn kết các hạt đất, các hạt cát với nhau để tạo thành một  
cấu tượng ổn định và bền vững. Do đó đất có khả năng tăng độ kết cấu, có  
khả năng giữ nước, chống rửa trôi, làm giảm sự bay hơi nước  
2.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước  
2.2.1. Nghiên cứu về thông  
Theo Quyết định số 3322/QĐ-BNN-TCLN của Bộ trưởng Bộ Nông  
nghiệp và Phát triển nông thôn ngày 28/7/2014 về việc công bố hiện trạng  
rừng toàn quốc năm 2013, tính đến ngày 31/12/2013 tổng diện tích rừng của  
cả nước là 13,954 triệu ha mới đạt độ che phủ 41,0% với tổng diện tích rừng  
trồng là 3.556.294 ha (Bộ NN và PTNT, 2014); trong đó diện tích rừng trồng  
các loài thông chiếm khoảng 400.000 ha. Với đặc điểm sinh lý, sinh thái của  
cây thông, một loài cây chịu hạn có thể sống và phát triển trên những lập địa  
xấu, khô hạn. Do đó trong chương trình trồng rừng 327 và chương trình trồng  
mới năm triệu hecta rừng, thông được chọn là cây trồng chính quan trọng cần  
được ưu tiên phát triển. Trong ba loài thông đang được sử dụng để khai thác  
nhựa ở nước ta thì Thông là loài cây cho nhiều nhựa nhất (khoảng 5-6  
kg/cây/năm). Mặt khác, với phương thức khai thác bằng cách đẽo máng, chu  
kỳ khai thác nhựa của loài thông này có thể kéo dài 40-50 năm. Vì vậy, mục  
đích kinh doanh chính của các rừng trồng Thông ở nước ta hiện nay chủ yếu  
là để khai thác nhựa.  
   
5
Thông là một trong những loài cây có giá trị kinh tế cao, ngoài gỗ cho  
xây dựng, làm giấy; nhựa thông còn được dùng trong nhiều ngành công  
nghiệp như sơn, vécni, vật liệu cách điện và các mặt hàng tiêu dùng khác. Về  
kinh tế, cây thông dễ trồng, sinh trưởng nhanh, biện pháp lâm sinh đơn giản,  
dễ áp dụng, trồng một lần cho thu nhập hàng năm, giá trị kinh tế cao, ổn định.  
Thân cây thông có thể sử dụng trong xây dựng, trong công nghiệp giấy, công  
nghiệp sản xuất ván nhân tạo. Về mặt xã hội, cây thông tạo công ăn việc làm,  
tăng thu nhập, cải thiện mức sống cho người dân, đặc biệt là người dân vùng  
trung du, miền núi. Cây thông còn có giá trị đặc biệt trong cơ cấu cây trồng  
vùng đồi do những đặc tính sinh thái đặc biệt thích ứng với điều kiện lập địa  
cằn cỗi mà ngoài thông ra không thể trồng loài cây nào khác. Thông là nguồn  
cung cấp tùng hương (colophan) và tinh dầu thông (turpentine oil) chủ yếu.  
Tinh dầu được sử dụng rộng rãi trong công nghệ hoá mỹ phẩm, là nguyên liệu  
để chế terpineol, terpin, borneol, camphor tổng hợp, sản xuất sơn, véc ni, xi…  
Colophan được dùng nhiều trong công nghiệp cao su, hoá dẻo, vật liệu cách  
điện, keo dán, sản xuất các chất tẩy rửa…, đặc biệt là trong công nghiệp sản  
xuất giấy. Trong y dược, tinh dầu thông được sử dụng làm thuốc chữa viêm  
thấp khớp, ho, làm thuốc kích thích, giảm mệt mỏi, thuốc diệt khuẩn, sát trùng  
… Thông là cây có giá trị kinh tế cao bao gồm một số loài thông chính như  
Thông mã vĩ Pinus massoniana Lambert, Thông nhựa Pinus merkusii Jungh  
et.de Vries, Thông 3 lá Pinus kesiya Royle ex Gordon. Ngoài các sản phẩm  
của thông như gỗ, nhựa, nguyên liệu giấy, cây thông còn được sử dụng trong  
việc phủ xanh đất trống đồi núi trọc và tạo cảnh quan môi trường... chính vì  
vậy diện tích rừng thông ngày càng được mở rộng và là một trong những cây  
trồng chính của ngành Lâm nghiệp. Thông được trồng ở các tỉnh như: Sóc  
Sơn, Hà Nội, Lạng Sơn, Hà Giang, Cao Bằng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Hà  
Tây, Hòa Bình, Tuyên Quang, Sơn La, Hải Hưng, Ninh Bình, Thanh Hóa,  
6
Nghệ An, Hà Tĩnh... Thân cây cao 40m, đường kính thân cây có thể đạt hơn  
1m. Vỏ cây mỏng, về già bong thành mảng hay nứt giống như sợi dây thừng.  
Lá cây có 2 dạng hình dải và hình kim, lá hình dải chỉ tồn tại ở cây con  
dưới 1 tuổi, mọc cách vòng thân cây non có màu xanh lá mạ với chiều dài 2-  
4cm, lá kim tăng dần theo tuổi cây và dài tối đa 15-20cm ở cây trưởng thành.  
Tán lá ở cây 5-10 tuổi hình tháp, hình trứng và hình lọng ở tuổi già.  
Thông đuôi ngựa 6-7 tuổi đã bắt đầu ra nón. Nón đơn tính cùng gốc,  
nón đực mọc cách vòng ở gốc chồi ngọn, nón cái 1-4 mọc vòng ở đỉnh chồi  
ngọn. Cây ra nón vào tháng 3-4, nón chín vào tháng 11-12 năm sau. Hạt có  
hình trái xoan dẹt, khi chín có màu nâu sẫm.  
*Thông nhựa  
Thông nhựa (Pinus merkusii jungh et de Vries) hay còn gọi là Thông  
ta, Thông 2 lá, Thông Bắc bộ là loại cây gỗ lớn cao khoảng 30 – 40m, đường  
kính có thể lên đến 90cm, thân tròn, thẳng, hình trụ , tán hình tháp. Vỏ xám  
nâu , nứt dọc hoặc bong vảy dày . Lá hình kim , có màu xanh thẫm, có bẹ bao  
quanh cành ngắn gồm nhiều lá xếp thành hình vảy trong suốt. Nón cái chín  
trong vòng 2 năm, khi chín hoá gỗ, màu nâu. Hạt hình trái xoan, hơi bẹt dài 5-  
8cm, đường kính 4mm, nâu nhạt , có cánh mỏng dài gần 2cm.  
Có 2 nòi thông nhựa, nòi Thái Lan và vùng thấp Đông Dương, sinh  
trưởng chậm (5-6m3/ha/năm) sống được nơi đất nghèo xâu, khí hậu khô. Nòi  
Indonexia và vùng cao đông dương có kích thước lớn, sinh trưởng nhanh(15-  
30m3/ha/năm) sống nơi đất tốt, thoát nước , khí hậu ẩm.  
Mùa ra nón tháng 5-6. Nón chính tháng 10-11 năm sau.  
Là loài thông nhiệt đới, ưa sáng, vùng có lượng mưa hàng năm 1200-  
2200mm, có mùa khô nóng dài 2-4 tháng, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất  
20-28 độ C, tháng lạnh nhất15-16 độ C, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối 0 độ C.  
Có khả năng chịu hạn cao, không sống được nơi úng nước.  
7
Thông nhựa thường mọc ở trên các loại đất phát triển như đá mẹ  
Granit, Sa thạch, Diệp thạch, Sa phiến thạch. Sống được trên đât nghèo xấu  
khô chua đang nị ong đá hoá hoặc đất cát thô bồi tụ viên biển.  
Sâu bệnh hại chủ yếu của thông nhựa là:  
- Bệnh đổ non  
- Bệnh khô lá  
- Sâu đục nõn, sâu róm thông, sâu đo ăn lá  
Lúc nhỏ thông nhựa mẫn cảm với lửa, lớn lên chống chịu tôt hơn.  
Thông nhựa phân bố tự nhiên ở các nước Đông Nam Á, Nam Trung  
Quốc. Ở nước ta thông nhựa phân bố từ độ cao 1200m so với mặt nước biển  
trở xuống, mọc tự nhiên thuần loài hoặc hỗn giao với cây lá rộng ở các tỉnh:  
Lâm Đồng, Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum, Phú Yên, Khánh Hoà, Sơn La và  
được gây trồng ở nhiều nơi đồi núi thấp thuộc các tỉnh : Quảng Ninh, Quảng  
Trị, Thừa Thiên, Nghệ An, Hà Tĩnh , Thanh Hoá, Bắc Giang, Quảng Bình ,  
Lạng Sơn, Bắc Cạn.  
Thông nhựa được dùng để xây dựng, làm cột điện trụ mỏ, bột giấy, dán  
lạng, lấy nhựa , lấy tinh dầu…  
2.2.2. Vi sinh vật sinh màng nhầy  
Polysaccharide là phân tử carbohydrate cao phân tử gồm nhiều chuỗi  
dài của đơn vị monosaccharide liên kết với nhau bằng mối liên kết glycosidic  
và thủy phân cung cấp cho các thành phần hoặc monosaccharide  
olihosaccharide. Chúng có cấu trúc từ tuyến tính để phân nhánh cao.Ví dụ  
như polysaccharide lưu trữ tinh bột và glycoen, polysaccharide cấu trúc như  
cellulose và chitin  
Polysaccharide thường khá đồng nhất,có chứa thay đổi nhơ của các đơn vị  
lặp đi lặp lại. Tùy thuộc vào cấu trúc, các đại phân tử có thể có những tính chất  
khác biệt với các khối cấu trúc monosaccharide của chúng. Chúng có thể vô đinh  
 
8
hình hoặc thậm chí không hòa tan trong nước. Khi tất các đơn phân của một  
polysaccharide cùng một loại được gọi là homopolysaccharide, nhưng có nhiều  
hơn hai loại monnosaccharide được gọi là heteropolysaccharide hoặc  
heteroglycans.  
Trong tự nhiên các polysaccharide được cấu tạo từ các đơn phân có  
công thức chung là (CH2O)n, trong đó n≥2. Ví dụ như glucose,  
fructose,....Polysaccharide có công thức tổng quát là Cx(H2O)y trong đó x  
thườn từ 200-2500. Ví dụ như celullose và chitin. Celullose cấu tạo nên thành  
tế bào thực vật và sinh vật khác. Nó có vai trò quan trọng trong nhiều ngành  
công nghiệp như dệt, làm giấy. Chitin có cấu trúc tương tụ nhưng có các  
nhanh chứa nito, tăng độ vững chắc. Chitin được tìm thấy trong các khớp  
xương nhỏ, trong tế bào của các loại nấm.  
2.2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới  
Trong đất nhóm vi sinh vật sinh màng nhầy (polysacarit) có vai trò  
quan trọng trong việc giữa ẩm đất và vật liệu cháy dưới tán rừng. Nhóm sinh  
màng nhầy bao gồm: Lipomyces, Bacillus, Azotobacter, Beijerinckia,  
Enterobacter…Các nhóm vi sinh vật này, trong quá trình sinh trưởng phát  
triển, đã tiết ra polysacarit sinh học.  
Ở Nhật Bản đã phân lập và tuyển chọn ra một hỗn hợp các vi sinh vật  
có ích thuộc nhóm yếm khí và hiếu khí gồm: Nấm men, vi khuẩn quang hợp,  
xạ khuẩn, vi khuẩn lactic, nấm lên men và chế tạo ra được một chế phẩm vi  
sinh hữu hiệu (EM) đã được chứng minh có tác dụng tốt ở nhiều lĩnh vực của  
đời sống và sản xuất như: trong trồng trọt, trong chăn nuôi, trong bảo vệ môi  
trường góp phần nâng cao chất lượng của đống ủ.  
Khi có mặt Ca++, các polysacarit sẽ cùng tác động tương hỗ trong đất,  
giúp gắn kết các hạt đất, các hạt cát với nhau để tạo thành một cấu tượng ổn  
định và bền vững. Do đó đất có khả năng tăng độ kết cấu, có khả năng giữ  
9
nước, chống rửa trôi, làm giảm sự bay hơi nước; thông qua đó độ phì của đất  
được cải thiện (Babieva và Gorin, 1987).  
Nấm mốc phát triển mạnh ở môi trường xốp có độ ẩm trên 70%, tối ưu  
95% và nhiệt độ ấm (24C), các loại thường gặp thuộc nấm bất toàn và  
Ascomysetes. Các loại nấm này chủ yếu thuộc các chi Aspergillus,  
Penicillium, Trichoderma, Fusarium ,…trong đó đáng chú ý là Trichoderma  
(hầu hết các loài thuộc chi Tricoderma sống hoại sinh trong đất, rác và có khả  
năng phân huỷ cellulose).  
Nấm đốm là các loại nấm phát triển sâu trong tế bào gỗ tạo thành các  
đốm màu nâu Hầu hết các loài thuộc nhóm nấm bất toàn và nấm  
Ascomysetes. Sống phụ thuộc vào độ ẩm của gỗ (khoảng 30%) và nhiệt độ 30-  
35C, quần thể nấm phát triển lúc đầu là màu xanh sau đó tạo thành màu nâu.  
Ví dụ các loài: Ceratocystis sp, Cladosporium sp, Aureobasidium sp,…  
Nấm mục: Nấm mục xốp có khoảng 300 loài thuộc các chi:  
Chaetomium, Humocola và Phialophora của nấm bất toàn và Ascomysetes, chủ  
yếu phát triển bên trong thành tế bào gỗ. Nấm mục nâu thuộc nhóm của nấm  
bất toàn vàBasidiomycetes, chúng xâm nhập vào thành tế bào gỗ và phân hủy  
chúng, nhiệt độ sinh trưởng tối ưu 22-31C, độ ẩm thấp khoảng 40-55%, các  
loài quan trọng như: Phaeolus schweiniti, Piptopous betulinus, Laetipous  
sulphureus, Sperassis srispa,… Nấm mục trắng thuộc nhóm của nấm bất toàn  
và Basidiomycetes, nhiệt độ sinh trưởng tối ưu 22-31C, tối đa không quá 44C,  
độ ẩm tối ưu có loài thấp, cao và rất cao, các loài điển hình như: Armillaria  
mellea, Fonus fomentatius, Meripilus giganteus, Fomes annosus,…  
Trên thế giới, vi sinh vật sinh màng nhầy đã được nghiên cứu và ứng  
dụng trong cải tạo đất từ những năm 80 của thế kỷ XX. Đến những năm 90, việc  
sản xuất chế phẩm thương mại đã được tiến hành; Superbio là một trong những  
sản phẩm thương mại đầu tiên được biết đến. Kết quả nghiên cứu của Babieva  
10  
(1987) cho thấy nhóm VSV sinh màng nhầy Lipomyces, Bacillus có khả năng  
giữ ẩm đất trong cải tạo đất khô hạn. Alekxandrov và cs thuộc Khoa Thổ  
nhưỡng, Đại học Tổng hợp Moskova đã nghiên cứu vi khuẩn sinh màng nhầy  
Bacillus sp. để tạo chế phẩm phân bón vi sinh giữ ẩm cho đất. Chế phẩm này đã  
được sử dụng để tăng năng xuất cây trồng ở các vùng khô hạn thuộc vùng  
Capcaz. Các nhà khoa học Trung Quốc đã sử dụng các chế phẩm vi sinh giữ ẩm  
để cải tạo đất đá vôi miền Nam Trung Quốc để trồng các cây công nghiệp.  
2.2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước  
Tống Kim Thuần (2005), [2] nấm men Lipomyces sinh màng nhầy có  
mặt ở trong tất cả các loại đất; số lượng của chúng không cao nhưng khá đa  
dạng. Các loài Lipomyces chủ yếu gặp ở đồi núi Việt Nam, chủ yếu là: L.  
tetrasporus, L. Kononenkoae, L. Lipofer và L. starkeyi. Các kết quả nghiên  
cứu cũng cho thấy số lượng vi sinh vật trong đất phụ thuộc rất rõ vào hàm  
lượng các chất hữu cơ và độ ẩm đất. Trong đất giàu hữu cơ và chua thì xạ  
khuẩn nấm tăng lên khi có mặt của chất hữu cơ và độ ẩm tăng lên sẽ kích hoạt  
hoạt động của vi sinh vật đất.  
Theo Nguyễn Kiều Băng Tâm (2009) đã phân lập và tuyển chọn được 9  
chủng nấm men Lipomyces tại trạm đa dạng sinh học thuộc huyện Mê Linh  
tỉnh Vĩnh Phúc trong đó chủng PT7 [1] .1 có đầy đủ các điều kiện để sản xuất  
chế phẩm vi sinh giữ ẩm đất Lipomycin M, đây là chủng có khả năng sử dụng  
đa dạng các nguồn các bon, có khả năng hình thành bào tử sinh màng nhầy  
cao, dải nhiệt độ và pH sinh trưởng rộng với nhiệt độ thích hợp là 28-300C và  
pH từ 4-5; nồng độ (NH4)2SO4 0,5 g/l là thích hợp để chủng PT7.1 vừa sinh  
trưởng và tạo nhầy tốt. Chế phẩm có tác dụng làm tăng khả năng giữ ẩm cho  
đất ở cả điều kiện thí nghiệm chậu vại và thí nghiệm đồng ruộng. Ở điều kiện  
thí nghiệm trong chậu không trồng cây độ ẩm đất bón chế phẩm tăng so với  
đối chứng (không bón chế phẩm) khoảng 8,35%. Trong chậu trồng Keo lá  
11  
tràm sau 60 ngày bón chế phẩm độ ẩm tăng 16,6% so với đối chứng. Trong  
điều kiện thí nghiệm đồng ruộng chế phẩm sau 6 tháng bón chế phẩm độ ẩm  
tăng 10,63% so với đối chứng, lượng nước hữu hiệu ở đất có bón chế phẩm  
cao hơn đối chứng 13,28-28,95g nước/1 kg đất. Kết hợp bón chế phẩm  
Lipomycin M với phân vi sinh và bón định kỳ 2 tháng/lần sẽ làm tăng hiệu  
quả giữ ẩm cho đất và tỷ lễ giữ nước hữu hiệu cũng tăng lên đáng kể. Sau 2  
năm bón chế phẩm Lipomycin M hàm lượng chất hữu cơ của đất tăng trung  
bình từ 0,11-1,3% so với đối chứng, ở đất trồng cây thuốc nam hàm lượng ni  
tơ dễ tiêu tăng khoảng 11,30-12,40%; ở đất trồng chè hàm lượng ni tơ dễ tiêu  
tăng từ 15,0-35,4%; hàm lượng phốt pho dễ tiêu tăng từ 25,7-35,7% (đất  
trồng thuốc nam); hàm lượng phốt pho dễ tiêu tăng từ 27,6-42% ở đất trồng  
chè. Bước đầu đã chứng minh được chế phẩm Lipomycin M ảnh hưởng tốt  
đến chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của cây, đối với cây bạch đàn trong điều  
kiện thí nghiệm chậu vại như chiều cao, số lá, trọng lượng khô của cây tăng.  
Tống Kim Thuần và cộng sự (2005) [2] đã nghiên cứu sản xuất chế  
phẩm giữ ẩm cho đất từ các vi sinh vật sinh màng nhầy polysacarit. Chế phẩm  
có tác dụng giữ nước trong đất, tăng độ ẩm trong đất từ 12-16% trên quy mô  
chậu vại và đồng ruộng. Đây là loại chế phẩm vi sinh đầu tiên sản xuất tại  
Việt Nam có tác dụng giữ ẩm cho đất được rất nhiều địa phương và nông dân  
quan tâm.  
2.2.3. Ứng dụng của vi sinh vật trong sản xuất chế phẩm vi sinh  
2.2.3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới  
Năm 1979, Gaus đã sử dụng các chủng nấm ưa ẩm vào cac đống ủ  
(rơm, lá khô…). Sự có mặt của vi sinh vật phân giải celluloza là một trong  
yếu tố quan trọng để rút ngắn thời gian phân hủy các hợp chất hữu cơ.  
Các chủng vi sinh vật phân giải hợp chất hữu cơ được bổ sung trong  
quá trình ủ đóng vai trò vi sinh vật khởi động để sản xuất nhanh phân hữu cơ  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 50 trang yennguyen 10240 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Nghiên cứu hưởng của một số nhân tố sinh thái đến sinh trưởng của các chủng vi sinh vật sinh màng nhầy được phân lập từ các mẫu đất dưới tán rừng thông nhựa (Pinus merkusii Jungh et de Vries) ở Hoành Bồ, Quảng Ninh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_nghien_cuu_huong_cua_mot_so_nhan_to_sinh_thai_den.pdf