Khóa luận Đánh giá hiệu quả kinh tế cây cà phê của các nông hộ huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ  
KHOA KINH TẾ & PHÁT TRIỂN  
****  
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP  
Đề tài:  
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CÂY CÀ PHÊ  
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HƯỚNG HOÁ TỈNH  
QUẢNG TRỊ  
HỒ CHÁNH THI  
Niên khoá 2007 - 2011  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ  
KHOA KINH TẾ & PHÁT TRIỂN  
****  
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP  
Đề tài:  
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CÂY CÀ PHÊ  
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HƯỚNG HOÁ TỈNH  
QUẢNG TRỊ  
Giảng viên hướng dẫn : TS. Bùi Đức Tính  
Sinh viên thực hiện  
Lớp  
: Hồ Chánh Thi  
: R7 - KTNN  
Huế, tháng 05 năm 2011  
Lời cảm ơn  
Lời đầu tiên em xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn và kính trọng sâu  
sắc đối với Thầy, TS Bùi Đức Tính, người đã tận tình hướng dẫn em trong  
suốt quá trình hoàn thành chuyên đề này. Em luôn được Thầy cung cấp các  
tài liệu, các chỉ dẫn hết sức quý báu khi cần thiết trong suốt thời gian thực  
hiện chuyên đề.  
Em cũng xin thể hiện sự kính trọng và lòng biết ơn đến Quý Thầy Cô  
trong trường Đại Học Kinh Tế - ĐH Huế, những người đã trang bị cho em  
rất nhiều kiến thức chuyên ngành, cũng như sự chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của  
quý Thầy Cô đối với em trong suốt quá trình học tập. Tất cả các kiến thức  
mà em lĩnh hội được từ bài giảng của các Thầy Cô là vô cùng quý giá.  
Nhân đây, con xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Bố, Mẹ và những  
người thân trong gia đình, cảm ơn những tình cảm và những lời động viên  
con trong suốt quá trình hoàn thành chuyên đề này.  
Tôi cũng xin được cảm ơn tất cả anh chị trong Phòng NN&PTNT  
huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị, những người đã cung cấp và chia sẻ  
những tài liệu, thông tin quý báu trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu,  
hoàn thành chuyên đề y.  
Quang Nam, tháng 5 năm 2011  
Hồ Chánh Thi  
DANH MỤC SƠ ĐỒ BIỂU ĐỒ  
Biểu đồ  
Tên  
Trang  
Biểu đồ 1: Thị phần của các nước sản xuất cà phê chính năm 2006.......................... 17  
Sơ đồ  
Sơ đồ 1: Kênh tiêu thụ sản phẩm cà phê trên địa bàn Huyện Hướng Hóa................. 50  
DANH MỤC BẢNG BIỂU  
Bảng  
Tên  
Trang  
Bảng 1: Định mức bón phân hóa học qua từng thời kỳ của cây cà phê ..................... 12  
Bảng 2: Thị trường xuất khẩu chính của cà phê Việt Nam (2/2009) ......................... 20  
Bảng 3: Diên tích năng suất và sản lượng cà phê của huyện Hướng Hoá  
năm 2008 – 2010 ........................................................................................................ 28  
Bảng 4: Đặc điểm cơ bản của các hộ điều tra ............................................................ 30  
Bảng 5: Diện tích của các hộ điều tra......................................................................... 32  
Bảng 6: Tình hình trang bị tư liệu lao động của các nông hộ điều tra ....................... 33  
Bảng 7: Tình hình sử dụng vốn sản xuất cà phê của các hộ điều tra ......................... 35  
Bảng 8: Chi phí sản xuất 1 ha cà phê ở thời kỳ KTCB .............................................. 37  
Bảng 9: Chi phí sản xuất 1 ha cà phê ở thời kỳ KD trong năm 2010......................... 40  
Bảng 10: Một số chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất cà phê ở  
huyện Hướng Hoá năm 2010...................................................................................... 42  
Bảng 11:Phân tổ lợi nhuận theo quy mô diện tích ..................................................... 45  
Bảng 12: Phân tổ lợi nhuận theo nguồn vốn .............................................................. 46  
Bảng 13: Phân tổ lợi nhuận theo mức đầu tư thời kỳ kinh doanh.............................. 46  
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Hiện nay trên thế giới có trên 80 quốc gia sản xuất và xuất khẩu mặt hàng này  
trong đó có Việt Nam. Nhu cầu về cà phê càng tăng khi đời sống con người ngày càng  
đầy đủ và cùng với nhu cầu sử dụng tăng, yêu cầu về chất lượng cà phê cũng cao hơn.  
Vì thế, để nghành cà phê phát triển các nước sản xuất cà phê cần phải chú trọng đến  
chất lượng sản phẩm bên cạnh sự gia tăng về diện tích và sản lượng.  
Ở Việt Nam, cà phê dược trồng từ năm 1857, sau năm 1930 có khoảng 5.900  
ha, năm 1975 có khoảng 20.000 ha và tổng sản lượng trên 6.000 tấn. Sau năm 1986  
đát nươc ta thực hiện công cuộc đổi mới, cây cà phê phát triển mạnh nhất là cà phê vối  
(Robusta) ở Tây Nguyên. Hiện nay tổng diện tích trồng cà phê car nước khoảng  
521.000 ha, giảm gần 500 ha so với năm 2008, trong đó diện tích trồng mới, tái canh,  
ghép cải tạo khoảng 6.000 ha. Cây cà phê đả trở thành cây công nghiệp chủ lực có giá  
trị kinh tế cao ở Việt Nam Ở Việt Nam, một số địa phương như Tây Nguyên, các vùng  
miền núi Phía Bắc và Bắc Trung Bộ, do có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho quá trình  
sinh trưởng và phát triển nên những nơi này đã hình thành các vùng sản xuất cà phê  
lớn. Hiện nay, cà phê là một trong những cây trồng lâu năm được ưa chuộng và được  
khuyến khích phát triển. Sg song với việc mở rộng quy mô sản xuất, người dân kết  
hợp đầu tư thâm canh, áp dụng những tiến bộ khoa học trong kỹ thuật để nâng cao  
năng suất cây trồng và hướng đến sản xuất cà phê theo hướng hàng hóa. Ngày nay,  
nhiều trung tâm mua bán và các kênh phân phối sản phẩm cà phê đã và đang được  
hình thhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sản xuất hàng hóa trong nông  
nghiệp.  
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển nghành cà phê Việt Nam vẫn bộc lộ nhiều  
hạn chế và yếu kém trong khâu sản xuất, chế biến và phân phối sản phẩm...  
Do sự hạn chế về cơ sở hạ tầng và những yếu kém trong nghành công nghiệp  
chế biến nên cà phê nước ta vẫn chủ yếu xuất khẩu dưới dạng thô chưa qua chế biến.  
Tập tục sản xuất và kỹ thuật canh tác của người dân vùng cao cũng ảnh hưởng không  
nhỏ đến năng suất và chất lượng cà phê. Vì vậy, vấn đề đặt ra cho chúng ta là cần rút  
ra bài học thiết thực từ những khó khăn trên để có phương hướng phát triển phù hợp,  
mang lại hiệu quả kinh tế cho ngành cà phê Việt Nam.  
Hướng Hóa là huyện miền núi của tỉnh Quảng Trị cách biên giới Việt – Lào  
chừng 20 km về phía đông, cách thành phố Đông Hà khoảng 64 km về phía tây.  
Những dân tộc tập trung sinh sống chủ yếu gồm: Dân tộc Kinh, dân tộc Vân Kiều, dân  
tộc Pa Cô. Hướng Hóa có 2 thị trấn và 20 xã. Khí hậu và thổ nhưởng ở đây rất thích  
hợp cho cây trồng công nghiệp như: Cà phê, sắn, cao su…Cà phê là cây công nghiệp  
mũi nhọn của Hướng Hóa, giá trị xuất khẩu hàng năm đạt 160-200 tỷ đng, giúp hàng  
ngàn hộ nông dân thoát nghèo, vươn lên khá, giàu. Diện tích cà phê chủ yếu tập trung  
ở các xã Hướng Phùng, Hướng Tân…  
Mặc dù sản xuất cà phê ở Hướng Hóa đã đạt được những bước tăng trưởng, tuy  
nhiên nơi đây vẫn chịu nhiều tác động của điều kiện tự nhiên, diễn biến sâu bệnh phức  
tap. Điêu đó ảnh hưởng không nhỏ đến đến đời sống cũng như hiệu quả sản xuất cà  
phê của người dân. Mặt khác người dân ở đây chủ yếu là đồng bào dân tộc ít người,  
trình độ hiểu biết còn hạn chế nên việc sử dụng đất sản xuất cà phê chưa tương xứng  
với tiềm năng vốn có của huyện. Đăc biệt, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản  
xuất nông nghiệp của người dân còn hạn chế, hiệu quả trong sản xuất nông ghiệp còn  
thấp. Vì vậy, tôi thiết nghỉ việc tìm hiểu đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất cà phê  
của các nông hộ ở hướng hóa là rất cần thiết. Từ đó tìm ra nhưng giải pháp thích hợp  
nhằm phát triển một cách bền vững và đúng đắn.  
Xuất phátừ những lý do trên nên tôi chọn chuyên đề “Đánh giá hiệu quả kinh  
tế cây của các nông hộ Huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị”.  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
2.1. Mục tiêu chung  
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là thông qua việc tìm hiểu, phân tích, đánh giá  
hiệu quả sản xuất cây cà phê trên địa bàn huyện Hướng Hóa. Phân tích những khó  
khăn hạn chế của các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất cây cà phê trên địa bàn  
huyện. Từ đó đề xuất những giải pháp tích cực góp phần phát triển, nâng cao hiệu quả  
kinh tế của cây cá phê cho người dân địa phương.  
2.2. Mục tiêu cụ thể.  
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến hiệu quả sản xuất  
cà phê của các nông hộ trên địa bàn nghiên cứu.  
- Đánh giá tực trạng và hiệu quả kinh tế của việc trồng cà phê các nông hộ.  
- Đề suất một số định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất cà  
phê của các nông hộ trên địa bàn nghiên cứu.  
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
* Đối tượng nghiên cứu:  
Các nông hộ trồng cà phê Huyện Hướng Hóa Tỉnh Quảng Trị. Từ việc phỏng  
vấn các nông hộ trồng cà p, những nhà thu mua và nông trường sản xuất kinh doanh  
cà phê theo mẫu phiếu điều tra. Tổng số mẫu phiếu điều tra là 40 nông hộ trồng cà phê  
thuộc xã Hướng Tânhuyện Hướng Hoá tỉnh Quảng Trị.  
m vi nghiên cứu  
+ Phạm vi không gian:  
- Địa bàn nghiên cứu là xã Hướng Tân huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị.  
+ Phạm vi thời gian :  
Số liệu về tình hình sản xuất cà phê của hộ nông dân tại phòng Nông nghiệp  
huyện qua 3 năm 2008-2010. Còn số liệu điều tra thực tế ở địa bàn thì lấy trong 2 năm  
2009-2010.  
4. Phương pháp nghiên cứu:  
- Phương pháp duy vật biện chứng.  
- Phương pháp thu thập số liệu.  
+ Số liệu thứ cấp: Hoàn thành đề tài này tôi đã sử dụng một số nguồn thông tin  
thứ cấp được thu thập từ các báo cáo,tài liệu của cáccơ quan chức năng như UBND  
huyện Hướng Hoá, Phòng Nong Nghiệp. Ngoài ra, các thông tin trong các đề tài đã  
được công bố, các tư liệu sách báo, tạp chí, niên giám thống kê, các website cũng là  
nguồn thôngtin bổ ích trong quá trình nghiên cứu của tôi.  
+ Số liệu sơ cấp : Là những số liệu mà tôi thu thập được từ việc phỏng vấn  
các nông hộ trồng cà phê, những nhà thu mua và nông trường sản xuất kinh doanh cà  
phê theo mẫu phiếu điều tra. Tổng sốphiếu điều tra là 40 hộ trồng cà phê thuộc xã  
Hướng Tân huyện Hướng Hoá.  
PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.  
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU  
1.1. Cơ sở lý luận.  
1.1.2. Khái niệm và phương pháp xác định hiệu quả kinh tế  
1.1.2.1. Khái niệm  
Hiệu quả kinh tế là vấn đề quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp khi tiến  
hành sản xuất kinh doanh đồng thời cũng là mối quan tâm đặc biệt của oàn xã hội. Đó  
là thước đo quan trọng phản ánh chất lượng, trình độ tổ chức quản lí, sản xuất kinh  
doanh của nhà đầu tư trong đó có cả nhũng nông hộ.  
Theo nhà khoa học Đức(Stenien, Hanau) hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh  
mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tang kết quả hữu ích  
hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kì, góp phần làm tăng thêm lợi ích xã hội.  
Nhưng theo các tác giả Farrell, Schultz, Rizzo và Ellis thì cho rằng hiệu quả kinh tế đạt  
được trong sản xuất nông nghiệp phải phân biệt được ba khái niệm về hiệu quả: Hiệu quả  
kỷ thuật, hiệu quả phân phối, hiệu quả kinh tế.  
Hiêu quả kỷ thuật là số sản phẩm đầu ra có thể đạt được trên một đơn vị chi phí đầu  
vào hay nguồn lực được sử ng vào sản xuất trong điều kiện cụ thể về kỷ thuật hay công  
nghệ áp dụng trong lâm nghiệp. Nó cho ta biết một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất sẽ  
đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm.  
Hiu quả hân phối là chỉ tiêu hiệu quả trong đó các yếu tố giá bán sản phẩm và giá  
đầu vào tính đến phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn vị chi phí chi thêm  
về đầu vào hay nguồn lực. Thực chất của hiệu quả phân phối là hiệu quả kỷ thuật có tính  
đến các yếu tố về giá của đầu vào và giá đầu ra.  
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kĩ  
thuật và hiệu quả phân phối. Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều  
tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp. Việc đánh giá hiệu  
quả kinh tế được coi là căn cứ để xác định phương hướng đạt tăng trưởng cao trong sản xuất  
lâm nghiệp.  
1.1.2.2. Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế  
Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra.  
Như vậy muốn xác định được hiệu quả kinh tế thì ta phải xác định được kết quả và  
chi phí bỏ ra. Chi phí bỏ ra trong quá trình kinh doanh là toàn bộ các chi phí cho các yếu tố  
đầu vào như: đất đai, lao động, tiền vốn, nguyên vật liêu, giống....  
Q
H   
C
Công thức:  
Trong đó, H là hiệu quả kinh tế  
Q là khối lượng sản phẩm thu được  
C là chi phí bỏ ra  
Phương pháp này phản ánh rõ nét trình độ sử dụng các nguồn lực, xem xét được một  
đơn vị nguồn lực đã sử dụng dem lại bao nhiêu kết quả, do đó giúp ta so sánh được hiệu quả  
ở các quy mô khác nhau.  
1.1.2 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu  
- Giá trị sản xuất (GO): Là toàn bộ giá trị tính bằng tiền của các sản phẩm trong  
một đơn vị được tạo ra trong một thời kỳ nhất định.  
- Chi phí trung gian (IC): Là bộ phận cấu thành trong tổng giá trị sản xuất, bao  
gồm chật chất và dịch vụ dùng cho sản xuất.  
- Giá trị gia tăng (VA): Kết quả cuối cùng thu được sau khi trừ đi chi phí trung  
gian của hoạt động sản xuất và được xác định bằng công thức:  
VA = GO - IC  
- GO/IC: Cho biết một đồng chi phí trung gian được đầu tư tạo ra bao nhiêu  
đồng giá trị sản xuất. Hiệu suất này càng cao thì sản xuất càng có hiệu quả.  
- VA/IC: Cho biết một đồng chi phí trung gian được đầu tư tạo ra được bao  
nhiêu đồng giá trị gia tăng.  
1.1.3. Lịch sử phát triển cây cà phê ở Việt Nam  
Lần đầu tiên cà phê được đưa vào Việt Nam vào năm 1875, giống Arabica  
được người Pháp mang từ đảo Bourton sang trồng ở phía Bắc sau đó lan ra các tỉnh  
miền Trung như Quảng Trị, Bố Trạch, … Sau thu hoạch chế biến dưới thương hiệu  
“Arabica du Tonkin”, cà phê được nhập khẩu về Pháp. Sau khi chiếm nước ta thực dân  
Pháp thành lập các đồn điền cà phê như Chinê, Xuân Mai, Sơn Tây húng canh tác  
theo phương thức du canh du cư nên năng suất thấp giảm từ 400 – 500 kg/ha những  
năm đầu xuống còn 100 – 150 kg/ha khi càng về sau. Để cải thiện tình hình, Pháp du  
nhập vào nước ta hai giống mới là cà phê vối (C. robusta) và cà phê mít ( C.  
mitcharichia) vào năm 1908 để thay thế, các đồn điền mới lại mọc lên ở phía Bắc như  
ở Hà Tĩnh (1910), Yên Mỹ (1911, Thanh Hoá), Nghĩa Đàn (1915, Nghệ An). Thời  
điểm lớn nhất (1946 – 1966) đạt 13.000 ha. Năm 1925, lần đầu tiên được trồng ở Tây  
Nguyên, sau giải phóng diện tích cà phê cả nước khoảng 20.000 ha, nhờ sự hỗ trợ vốn  
từ quốc tế, cây cà phê dần được chú trọng, đến năm 1980 diện tích đạt 23.000 ha, xuất  
khẩu trên 6000 tấn. Bản kế hoạch ban đầu được xây dựng năm 1980 đặt mục tiêu cho  
ngành cà phê Việt Nam có khoảng 180 nghìn ha với sản lượng 200 nghìn tấn. Sau đó,  
bản kế hoạch này đã nhiều lần sửa đổi. Các con số cao nhất dừng lại ở mức 350 nghìn  
ha với sản lượng 450 nghìn tấn (VICOFA, 2002).  
Trận sưng muối năm 1994 ở Brasil đã phá huỷ phần lớn diện tích cà phê ở  
nước nng hưởng đợt hạn hán kéo dài năm 1997 đã làm nguồn cung trên toàn thế  
giới sụp giảm mạnh, giá tăng đột biến đã khích lệ mở rộng diện tích cà phê ở Việt  
Nam, đầu tư kỹ thuật canh tác thâm canh, chuyên canh, … nhờ đó diện tích và sản  
lượng tăng nhanh, trung bình 23,9%/năm, đưa tổng diện tích cây cà phê năm  
2000 lên đến 516,7 nghìn ha, chiếm 4,14% tổng diện tích cây trồng của Việt Nam,  
đứng thứ ba chỉ sau hai loại cây lương thực chủ lực là lúa (chiếm 61,4%) và ngô  
(chiếm 5,7%). Trong thập kỷ 90 thế kỷ XX, sản lượng tăng lên trên 20%/năm (và các  
năm 1994, 1995, 1996 sản lượng tăng thậm chí còn cao hơn với tỷ lệ lần lượt là  
48,5%, 45,8% và 33%). Năm 2000, Việt Nam có khoảng 520 nghìn ha cà phê,  
tổng sản lượng đạt 800 nghìn tấn. Nếu so với năm 1980, diện tích cà phê của Việt  
Nam năm 2000 đã tăng gấp 23 lần và sản lượng tăng gấp 83 lần. Mức sản lượng và  
diện tích vượt xa mọi kế hoạch trước đó và suy đoán của các chuyên gia trong  
nước và quốc tế.  
Cho đến nay sản lượng cà phê cả nước chiếm 8% sản lượng nông nghiệp,  
chiếm 25% giá trị xuất khẩu và là nước xuất khẩu cà phê Robusta lớn nhất thế giới với  
hai tỉnh có diện tích canh tác lớn nhất là ĐăkLăc và Gia Lai, mang i việc làm ổn  
định, thu nhập cao cho hàng triệu người. Góp phần ổn định kinh tế xã hội ở những  
vùng xa xôi hẻo lánh, dân tộc ít người, …  
1.1.4. Đặc điểm, yêu cầu sinh thái và quy trình sản xuất của cây cà phê  
1.1.4.1. Đặc điểm sinh học của cây cà phê  
Cà phê là một chi thực vật thuộc họ thiên thảo. Họ này bao gồm 500 chi khác  
nhau với trên 6000 loài nhiệt đới. Chi cà phê bao gồm nhiều loại cây lâu năm khác  
nhau. Tuy nhiên không phải loài nào cũng chứa cafein trong hạt¸một số loài khác xa  
với những cây cà phê ta thường thấy. Loài thứ nhất có tên thông thường trong tiếng  
việt là cà phê chè (coffs Arabica), đại diện cho khoảng 61% các sản phẩm cà phê trên  
thế giới. Loài thứ 2 là cà vối (Coffes Canephonra hay Coffea Robusta) chiếm gần  
39% các sản phẩm cà phê. Ngoài ra còn có Coffea Liberica và Coffea Excelsa (cà phê  
mít) với sản lượng không đáng kể.  
+ : ây cà phê chè có thể cao tới 6m, cà phê vối tới 10m. Tuy nhiên ở các  
trang trại phê người ta thường cắt tỉa để giữ được độ cao từ 2 - 4 m, thuận lợi cho  
việc thu hoạch. Cây cà phê có cành thon dài, lá cuống ngắn, xanh đậm hình oval. Mặt  
trên lá có màu xanh thẫm, mặt dưới xanh nhạt hơn nhiều. Chiều dài của lá khoảng 8-  
15cm, rộng 4-6cm. Rễ cây cà phê là rễ cọc, cắm sâu vào lòng đất từ 1-2,5m với rất  
nhiều rễ phụ tỏa ra xung quanh làm nhiệm vụ hút chất dinh dưỡng nuôi cây.  
+ Hoa : Hoa cà phê màu trắng, có 5 cánh thường mọc thành chùm đôi hoặc  
chùm ba. Hoa chỉ nở vài 3 - 4 ngày và thời gian thụ phấn chỉ vài ba tiếng. Một cây cà  
phê trưởng thành có từ 30.000 đến 34.000 bông hoa.  
+ Quả: Cà phê là cây tự thụ phấn, do đó gió và côn trùng có ảnh hưởng  
lớn tới quá trình sinh sản của cây. Sau khi thụ phấn từ 7 - 9 tháng cây sữ cho quả hình  
bầu dục, bề ngoài như quả anh đào. Trong thời gian chín màu sắc của quả thay đổi từ  
xanh sang vàng rồi cuối cùng là đỏ. Quả màu đen khi đã chín nẫu.  
Thông thường một quả cà phê chứa 2 hạt, chúng được bao bọc bởi lớp thịt bên  
ngoài. Hạt có thể hình tròn hoặc dài, lúc còn tươi có màu xám vàng, xám xanh hoặc  
xanh.  
1.1.4.2 Yêu cầu sinh thái của cây cà phê  
Cà phê chè catimor có khả năng cho năng suất cao ở mật độ trồng dày và sớm  
cho quả. Đây là giống cà phê chè đầu tiên ở Việt Nam có khả năng đề kháng rất cao  
đối với bệnh rỉ sắt và hiện đang là giống được trồng rộng rãi trong cả nước thay thế  
các giống cũ kém chất lượng.  
Cây cà phê chè đòi hỏi một số điều kiện sinh thái nhất định đảm bảo cho quá  
trình sinh trưởng và phát triển của nó. Những địa phương nào hội tụ được một số điều  
kiện sau thì mới có thể sản ất cà phê chè theo hướng sản xuất hàng hóa bền vững:  
- Khí hậu:  
+ Nhiệt : Nhiệt độ thích hợp đối với cây cà phê chè trong khoảng 19 – 23oC.  
Khả nău lạnh tương đối yếu, nhất là khi cây còn nhỏ mới trồng, nếu gặp sương  
muối sẽ dễ bị cháy lá và sinh trưởng kém. Cây cà phê yêu cầu chênh lệch nhiệt độ  
ngày đêm tương đối cao để tích lũy chất khô nhằm tạo hương vị thơm ngon đặc trưng.  
+ Lượng mưa và ẩm độ: Cà phê chè là cây ưa ẩm và lượng mưa bình quân hàng  
năm thích hợp khoảng 1200-1500mm. Cà phê đòi hỏi độ ẩm khoảng trên 75%. Sau khi  
thu hoạch, cây cà phê cần có thời gian khô hạn nhẹ khoảng 2-3 tháng để phân hóa  
mầm hoa. Sau đó nếu đủ độ ẩm thì hoa phát triển.  
+ Ánh sáng: Ánh sáng là một trong các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quá  
trình sinh trưởng và phát triển của cây cà phê. Cà phê cần đến ánh sáng, nhất là ánh  
sáng tán xạ. Vì vậy trồng cà phê cần có cây che bóng.  
+ Gió: Hầu hết các loại gió đều gây tác hại đối với cây cà phê vì ảnh hưởng đến  
quá trình thụ phấn và làm rụng quả, trừ trường hợp gió nhẹ giúp cây thoát nước nhanh  
và tăng cường quá trình trao đổi chất.  
- Đất đai:  
Cây cà phê chè có thể trồng trên nhiều loại đất như đất đỏ, đất phù sa cổ, đất  
xám, đất đá vôi, đất đồi dốc có độ cao trên 500m. Là loại cây lâu năm có bộ rễ ăn sâu  
nên muốn cây cà phê chè sinh trưởng phát triển tốt thì đất cần có độ dày tầng đất sâu  
trên 70cm, tơi xốp và giàu chất hữu cơ, không bị úng nước trong mùa mưa. Ngoài các  
yêu cầu trên, khi thiết lập vườn trồng cà phê chè cần chú ý nguồn nước tưới trong mùa  
khô. Độ pH đất thích hợp từ 5,5 – 6,5.  
1.1.4.3 Quy trình sản xuất  
Cà phê là một trong số những loại cây trồng đòi hỏi tính chặt chẽ và nghiêm  
ngặt trong các quy trình kỹ thuật canh tác từ khâu trồng mới đến khâu chăm sóc và thu  
hoạch. Do tính chất trên nên đòi hỏi người trồng cà phê phải có kiến thức nhất định về  
kỹ thuật thì mới có thể đạt g suất như mong muốn trong từng điều kiện cụ thể.  
- Lựa chọn đất trồng: Đất trồng cà phê thường là đất đỏ bazan, đất phù sa cổ,  
đất đá vôi… có độ dốc dưới 8o và tầng đất sâu trên 70 cm. Bên cạnh đó, việc thiết kế  
đào hố cây cần đảm bảo hạn chế đến mức thấp nhất sự xói mòn đất. Công tác  
quy hoạch đường đi đảm bảo sự thuận tiện cho việc vận chuyển phân bón, vật tư, sản  
phẩm khi thu hoạch.  
- Mật độ và khoảng cách trồng: Mật độ và khoảng cách cây trồng có ảnh hưởng  
lớn trong quá trình sinh trưởng của cây cà phê và cũng là yếu tố quan trọng cấu thành  
năng suất vườn cây. Trong điều kiện thổ nhưỡng và trình độ thâm canh trung bình thì  
nên trồng ở mật độ 5.000-5.500 cây/ha và khoảng cách từ 2m x 1m.  
- Thời vụ trồng: Thích hợp nhất từ 15/8 đến 15/10 trong năm.  
Sau khi trồng mới, đặc biệt trong thời kỳ kiến thiết cơ bản, người trồng cần phải  
thường xuyên làm cỏ kết hợp tủ gốc, xới đất, làm mương thoát nước nhằm chống xói  
mòn và tăng cường khả năng khai thác dinh dưỡng của cây cà phê trong đất. Thời gian  
tiến hành vào khoảng tháng 4-5 và tháng 10-11 trong năm.  
Trong thời kỳ đầu khi cà phê chưa giao tán, cần trồng xen các loại cây họ đậu  
để cải tạo và che phủ đất.  
- Bón phân: Cây cà phê có nhu cầu dinh dưỡng cao. Do vậy trong kỹ thuật canh  
tác, việc bón phân sẽ cung cấp dinh dưỡng cho cây. Việc bón phân theo đúng định  
mức, đúng thời điểm theo nhu cầu sinh lý của cây cà phê sẽ bảo đảm cho vườn cây  
phát triển và cho năng suất cao ổn định. Ngược lại, việc bón phân không đúng và  
không cân đối giữa các loại phân mà cây cần, không những không làm tăng năng suất  
mà còn là một nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là tạo điều kiện thuận lợi cho  
một số mầm bệnh gây hại trong đất phát triển.  
Phân hữu cơ được khai thác triệt để từ các nguồn phân xanh, phân chuồng được  
ủ chế biến đúng kỹ thuật để bón cho cây cà phê, đảm bảo bón lót trước khi trồng  
40tấn/ha. Thời kỳ kinh doanh 10tấn/ha, bón luân phiên 2 – 3 năm /lần.  
Bảng 1: Định mức bón phân hóa học qua từng thời kỳ của cây cà phê  
ĐVT: kg/ha  
Tuổi cây  
- Thời kỳ kiến thiết cơ bản  
+ Trồng mới  
Urê  
Lân  
Kali  
100  
400  
500  
550  
1.000  
1.000  
500  
100  
300  
400  
400  
+ KTCB 1  
+ KTCB 2  
750  
- Thời kỳ kinh doanh  
Nguồn: Phòng Nông nghiệp huyện Hướng Hóa  
- Tỉa cành, tạo hình cho cà phê: bao gồm tạo hình cơ bản và tạo hình nuôi quả.  
- Phòng trừ sâu bệnh: Các bệnh thường gặp là bệnh rỉ sắt, rệp, sâu hồng đục  
thân, mọt đục quả.  
- Thu hoạch và chế biến: Thu hoạch cà phê bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12,  
trong đó thời gian tập trung cao độ là hai tháng 10 và 11, chiến 60% sản lượng.  
Quá trình thu hái cà phê phải đảm bảo quả đúng tầm chín, không hái quả xanh  
hoặc để quả chín nẫu, khô rụng. Chỉ tiêu chất lượng được quy định khi thu hái cà phê  
quả tươi chín đỏ 91%, vàn%, 3% chín xanh khô. Quá trình chế biến phải đúng quy  
trình kỹ thuật và đảm bảo chất lượng. Trong chế biến cần quan tâm xử lý nước thải và  
chất thải rắn nhằm tránh ô nhiễm môi trường và tận dụng được chất thải chế phẩm  
phân vi .  
- Nng suất: Với điều kiện thổ nhưỡng và quy trình chăm sóc, thâm canh cao,  
dự kiến năng suất vườn cà phê catimor trên địa bàn nghiên cứu như sau:  
+ Năng suất thấp nhất: 1,4 tấn nhân/ha/năm.  
+ Năng suất cao nhất: 2,7 tấn nhân/ha/năm.  
1.1.5. Giá trị kinh tế của cây cà phê  
Cà phê chiếm một vị trí quan trọng trong thương mại thế giới với giá trị trao đổi  
toàn cầu đạt 5,26 tỷ USD trong năm 2002. Cà phê cũng là nguồn thu ngoại tệ quan  
trọng đối với nhiều nước đang phát triển. Có khoảng 70 nước sản xuất cà phê trên thế  
giới, trong số đó 45 nước thành viên của Tổ chức cà phê quốc tế chiếm tới 97% tổng  
nguồn cung cà phê toàn cầu.  
Trong những năm gần đây, cà phê đã trở thành một trong những mặt  
hàng nông sản xuất khẩu chiến lược của Việt Nam. Nếu như năm 198, cả nước mới  
có 22,5 ngàn ha cà phê với sản lượng 8,4 ngàn tấn thì đến năm 2000, diện tích cà phê  
đã tăng lên tới 255 ngàn ha, sản lượng 554 ngàn tấn. Với các điều kiện khí hậu và thổ  
nhưỡng thích hợp cho trồng cây cà phê tại nhiều địa phương trong cả nước, Việt Nam  
có nhiều lợi thế để sản xuất và xuất khẩu cà phê. Xuất khẩu cà phê của Việt Nam đã  
tăng liên tục trong những năm đầu của thập niên 90, đưa Việt Nam trở thành nước xuất  
khẩu cà phê Robusta lớn nhất thế giới.  
Theo một nghiên cứu được công bố vào tháng 8 năm 2005 của nhà hóa học Mỹ  
Joe Vinson thuộc đại học Scranton thì cà phê là một nguông quan trọng cung cấp các  
chất chống ô xi hóa cho cơ thể, những chất này cũng gián tiếp làm giảm nguy cơ bị  
ung thư ở người.  
Ngoài ra cà phê còn có tác dụng an thần và là nguyên liệu cho một số nghành  
công nghiệp phát triển như: Bánh kẹo, sửa, dược phẩm...  
1Vtrò của cây cà phê đối với chương trình xóa đói giảm nghèo ở  
nông thôao nguyên và miền núi  
Cà phê là một trong nhũng mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nhiều nước đang  
phát triển và chiếm tỉ lệ khá lớn trong cán cân thương mại thế giới. Tuy nhiên thu nhập  
và lợi nhuận lại tập trung ở một số nhà đàu cơ, chế biến tiêu thụ trên thế giới. Người  
trồng cà phê chỉ hưởng lợi rất ít trong chuỗi cung đó. Phần lớn các nước trồng cà phê  
là những nước chậm phát triển hoặc đang phát triển.  
Đánh giá vị trí của cây cà phê trong cơ cấu cây trồng miền núi người ta thường  
nêu lên nhiều giá trị của nó với các chương trình trọng điểm của nhà nước như: Xóa  
đói giảm nghèo, phủ xanh đất trống đồi núi trọc…thực tế một số nơi cây cà phê đã thể  
hiện đúng những gì người ta đã đánh giá về nó. Tuy nhiên cũng có một số nơi cây cà  
phê đã không mang lại kết quả mong muốn. Người dân không đủ vốn và cả kĩ thuật  
chăm sóc, vườn cà phê còi cọc không cho sản lượng, thậm chí nhiều nơi cây cà phê  
phải bỏ hàng loạt. Có thể nêu những nguyên chủ yếu sau:  
+ Cà phê là”cây của người giàu”. Nghĩa là cây cà phê là một cy công nghiệp  
đòi hỏi người trồng phải có vốn đầu tư với những hiểu biết kĩ thuật đầy đủ. Cây cà phê  
phát triển tốt cho hiệu quả cao. Còn ở những hộ nông dân nghèo thiếu vốn thì cà phê  
ngoài tác dụng tạo công ăn việc làm ra không còn mang lại sự giàu có cho chủ hộ.  
+ Cây cà phê góp phần xóa đói giảm nghèo cho hộ nông dân nếu được nhà  
nước hỗ trợ về vốn những năm đầu và chuyển giao kĩ thuật đầy đủ. Một số nơi chỉ  
nhận vốn vay trồng cà phê nhưng sau đó không có đủ vốn để chăm sóc tiếp theo thì  
người nông dân cũng đành bỏ vườn cà phê. Công tác chuyển giao kĩ thuật làm chưa  
đầy đủ, nông dan nhiều nơi chưa nắm được kĩ thuật từ khâu chọn đất trồng, chọn  
giống.. có những sai sót ảnh hưởng đến kết quả.  
+ Để phát triển tốt phê cải thiện đời sống nông dân và phát triển nông thôn  
nhà nước cần có một chương trình đồng bộ, hoàn chỉnh về nông dân, nông thôn từ sản  
xuất chế biến đến tiêu thụ sản phẩm.  
1.1.7. Gtrị kinh tế của cây cà phê  
Cà ê chiếm một vị trí quan trọng trong thương mại thế giới với giá trị trao đổi  
toàn cầu đạt 5,26 tỷ USD trong năm 2002. Cà phê cũng là nguồn thu ngoại tệ quan  
trọng đối với nhiều nước đang phát triển. Có khoảng 70 nước sản xuất cà phê trên thế  
giới, trong số đó 45 nước thành viên của Tổ chức cà phê quốc tế chiếm tới 97% tổng  
nguồn cung cà phê toàn cầu.  
Trong những năm gần đây, cà phê đã trở thành một trong những mặt hàng  
nông sản xuất khẩu chiến lược của Việt Nam. Nếu như năm 1980, cả nước mới có 22,5  
ngàn ha cà phê với sản lượng 8,4 ngàn tấn thì đến năm 2000, diện tích cà phê đã tăng  
lên tới 255 ngàn ha, sản lượng 554 ngàn tấn. Với các điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng  
thích hợp cho trồng cây cà phê tại nhiều địa phương trong cả nước, Việt Nam có nhiều  
lợi thế để sản xuất và xuất khẩu cà phê. Xuất khẩu cà phê của Việt Nam đã tăng liên  
tục trong những năm đầu của thập niên 90, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu cà  
phê Robusta lớn nhất thế giới.  
Theo một nghiên cứu được công bố vào tháng 8 năm 2005 của nhà hóa học Mỹ  
Joe Vinson thuộc đại học Scranton thì cà phê là một nguông quan trọncung cấp các  
chất chống ô xi hóa cho cơ thể, những chất này cũng gián tiếp làm giảm nguy cơ bị  
ung thư ở người.  
Ngoài ra cà phê còn có tác dụng an thần và là nguyên liệu cho một số nghành  
công nghiệp phát triển như: Bánh kẹo, sửa, dược phẩm...  
1.1.8. Vai trò của cây cà phê đối với chương trình xóa đói giảm nghèo ở  
nông thôn cao nguyên và miền núi  
Cà phê là một trong nhũng mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nhiều nước đang  
phát triển và chiếm tỉ lệ khá lớn trong cán cân thương mại thế giới. Tuy nhiên thu nhập  
và lợi nhuận lại tập trung ở một số nhà đàu cơ, chế biến tiêu thụ trên thế giới. Người  
trồng cà phê chỉ hưởng lợít trong chuỗi cung đó. Phần lớn các nước trồng cà phê  
là những nước chậm phát triển hoặc đang phát triển.  
Đánh giá vị trí của cây cà phê trong cơ cấu cây trồng miền núi người ta thường  
nêu lên u gá trị của nó với các chương trình trọng điểm của nhà nước như: Xóa  
đói giảm hèo, phủ xanh đất trống đồi núi trọc…thực tế một số nơi cây cà phê đã thể  
hiện đúng những gì người ta đã đánh giá về nó. Tuy nhiên cũng có một số nơi cây cà  
phê đã không mang lại kết quả mong muốn. Người dân không đủ vốn và cả kĩ thuật  
chăm sóc, vườn cà phê còi cọc không cho sản lượng, thậm chí nhiều nơi cây cà phê  
phải bỏ hàng loạt. Có thể nêu những nguyên chủ yếu sau:  
+ Cà phê là”cây của người giàu”. Nghĩa là cây cà phê là một cây công nghiệp  
đòi hỏi người trồng phải có vốn đầu tư với những hiểu biết kĩ thuật đầy đủ. Cây cà phê  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 71 trang yennguyen 24220 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá hiệu quả kinh tế cây cà phê của các nông hộ huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_danh_gia_hieu_qua_kinh_te_cay_ca_phe_cua_cac_nong.pdf