Khóa luận Đánh giá hiện trạng môi trường nước suối Nà Rược tại huyện Yên Minh tỉnh Hà Giang và đề xuất công nghệ màng lọc UF kết hợp với vật liệu lọc đa năng ODM-2F xử lý nước cấp cho sinh hoạt

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
VÀNG MÍ SỬ  
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC SUỐI NÀ RƯỢC TẠI  
HUYỆN YÊN MINH - TỈNH HÀ GIANG VÀ ĐỀ XUẤT CÔNG NGHỆ  
MÀNG LỌC UF KẾT HỢP VỚI VẬT LIỆU LỌC ĐA NĂNG  
(ODM-2F) XỬ LÝ NƯỚC CẤP CHO SINH HOẠT  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên nghành  
Khoa  
: Chính quy  
: Khoa học môi trường  
: Môi trường  
Khꢀa học  
: 2015 -2019  
Thái Nguyên, năm 2019  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
VÀNG MÍ SỬ  
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC SUỐI NÀ RƯỢC TẠI  
HUYỆN YÊN MINH - TỈNH HÀ GIANG VÀ ĐỀ XUẤT CÔNG NGHỆ  
MÀNG LỌC UF KẾT HỢP VỚI VẬT LIỆU LỌC ĐA NĂNG  
(ODM-2F) XỬ LÝ NƯỚC CẤP CHO SINH HOẠT  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên nghành  
Lớp  
: Chính quy  
: Khoa học môi trường  
: K47 – KHMT- N01  
: Môi trường  
Khoa  
Khꢀa học  
: 2015 -2019  
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Hà Đình Nghiêm  
Thái Nguyên, năm 2019  
 
i
LỜI CẢM ƠN  
Để hoàn thành chuyên đề báo cáo thực tập này em xin gửi đến quý thầy, cô  
giáo trong khoa Môi trường, trường Đại học Nông Lâm lời cảm ơn chân thành.  
Đặc biệt, em xin gởi đến Th.S Hà Đình Nghiêm, người đã tận tình hướng dẫn,  
giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề báo cáo thực tập này lời cảm ơn sâu sắc nhất.  
Đồng thời, em cũng xin được cảm ơn tập thể các Cán bộ nghiên cứu khoa  
học Viện Kỹ thuật và Công nghệ Môi trường (LHH VN), Phòng hành chính – tổ  
chức của Viện Kỹ thuật và Công nghệ Môi trường, đã hết lòng giúp đỡ em trong  
thời gian thực tập tại Viện.  
Vì kiến thức bản thân còn hạn chế, trong quá trình thực tập, hoàn thiện  
chuyên đề này em không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được những ý  
kiến đóng góp từ thầy cô.  
Cuối cùng em xin gửi tới tất cả các thầy cô, gia đình, bạn bè lời cảm ơn  
chân thành nhất.  
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019  
Sinh viên thực hiện  
Vàng Mí Sử  
iii  
DANH MỤC HÌNH  
 
iv  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
Stt  
Viết tắt  
Ghi chú  
1
2
3
BĐKH  
Biến đổi khí hậu  
BNNPTNT  
BTNMT  
Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn  
Bộ Tài nguyên Môi trường  
4
5
BYT  
COD  
Bộ Y Tế  
Nhu cầu oxy hóa học  
6
HĐND  
MF  
Hội đồng nhân dân  
Màng tinh lọc  
7
8
NĐ  
Nghị Định  
9
NF  
Màng lọc nano  
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
Ejector  
ODM-2F  
QCVN  
RO  
Bộ châm Clo  
Vật liệu lọc đa năng  
Quy chuẩn Việt Nam  
Lọc ngược ( thẩm thấu ngược)  
Tiêu chuẩn Việt Nam  
Hàm lượng chất rắn lơ lửng  
Màng siêu lọc  
TCVN  
TSS  
UF  
 
v
MỤC LỤC  
2.5 Tổng quan về phương pháp lọc và màng lọc  
 
vi  
1
PHẦN 1  
MỞ ĐẦU  
1.1.Đặt vấn đề  
Hà Giang là tỉnh miền núi cực Bắc nước ta có đường biên giới tiếp giáp với  
nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Diện tích tự nhiên trên 7.900 km2; có 11 đơn  
vị hành chính cấp huyện và thành phố Hà Giang. Toàn tỉnh có trên 80 vạn người với  
19 dân tộc cùng chung sống.  
Tuy nhiên, do đặc thù về địa hình núi đá vôi, hệ thống sinh thủy không thuận  
lợi; các khu vực vùng núi đá của Hà Giang luôn thiếu nước vào mùa khô, không chỉ  
thiếu nước sản xuất mà cả nước sinh hoạt. Đây là khó khăn đã tồn tại lâu dài của  
tỉnh. Vì nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên không thể thiếu được trong đời sống  
hàng ngày của con người cũng như trong các hoạt động kinh tế của xã hội. Hiện  
nay, ngoài việc nghiên cứu sử dụng nguồn tài nguyên nước, việc nghiên cứu nâng  
cao chất lượng nước cấp sinh hoạt cần phải được chú trọng, đặc biệt là việc cấp  
nước sinh hoạt cho đồng bào và chiến sĩ vùng núi cao.  
Như vậy, nói về vấn đề riêng của đập Nà Rược trước đây là hồ thủy lợi đơn  
mục tiêu chỉ sử dụng nước từ đập phục vụ cho thủy nông như: nông nghiệp tưới  
tiêu, hiện nay suối Nà Rược được biến thành hồ đa mục tiêu tức là vừa cấp nước  
cho nông nghiệp, vừa là cấp cho sinh hoạt...  
Nà Rược là một con suối chảy trong thị trấn huyện Yên Minh tỉnh Hà Giang.  
Bắt nguồn từ núi đổ vào sông Bắc Nghè tại thị trấn huyện Yên Minh. Suối Nà Rược  
là nguồn cung cấp chính cho sinh hoạt và hoạt động sản xuất nông nghiệp cho các  
khu dân cư hai bên bờ suối.  
Đối với khu vực thị trấn Yên Minh, nguồn cung cấp nước chính vẫn là nước  
suối với đặc điểm: lưu lượng dòng chảy nhỏ, không ổn định, bị tác động rõ rệt bởi  
các yếu tố lũ quét, mưa bão,... Đặc biệt chất lượng nước luôn biến động giữa ngày  
mưa và không mưa. Nồng độ một số chỉ tiêu như TSS, Fe, Mn, ... có dấu hiệu tăng  
lên hơn bình thường. Mặt khác địa hình núi cao, phân bố dân cư không tập trung và  
nguồn điện thiếu thốn là những yếu tố rất bất lợi cho việc cung cấp nước.  
     
2
Công nghệ màng lọc UF kết hợp với vật liệu lọc đa năng (ODM-2F) để xử lý  
nước suối Nà Rược – Hà Giang, được xem là mới và được ứng dụng thực tế trong  
lĩnh vực xử lý nước có hiệu quả kinh tế và đảm bảo chất lượng. Nước sau xử lý đạt  
QCVN 02:2009/BYT. Hơn nữa, kích thước của hệ thống xử lý nước bằng màng  
siêu lọc UF và kết hợp vật liệu lọc tương đối nhỏ, không đòi hỏi mặt bằng lắp đặt  
lớn, nên rất thuận lợi trong lắp đặt tại hiện trường. Thôn Nà Rược, thị trấn Yên  
Minh tỉnh Hà Giang là một trong những địa phương thiếu nước sinh hoạt trầm  
trọng. Nhằm giúp người dân sinh sống quanh khu vực thôn Nà Rược giải quyết nhu  
cầu về nước sinh hoạt, nên đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường nước suối Nà  
Rược tại huyện Yên Minh tỉnh Hà Giang và đề xuất công nghệ màng lọc UF kết  
hợp với vật liệu lọc đa năng ODM-2F xử lý nước cấp cho sinh hoạt” đã được  
chọn là khóa luận tốt nghiệp đại học của em.  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
- Đánh giá hiện trạng môi trường nước suối Nà Rược.  
- Đề xuất công nghệ xử lý nước cấp cho sinh hoạt.  
1.3. Ý nghĩa của đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa về mặt khoa học  
- Áp dụng những kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế.  
- Nâng cao hiểu biết thêm về kiến thức thực tế.  
- Tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường.  
- Bổ sung tư liệu cho học tập.  
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn  
- Phản ánh thực trạng về môi trường nước suối Nà Rược tại huyện Yên Minh,  
tỉnh Hà Giang.  
- Tạo số liệu làm cơ sở cho công tác lập kế hoạch xây dựng chính sách bảo vệ  
Môi trường và Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội của địa phương.  
- Cảnh báo các vấn đề cấp bách và nguy cơ tiềm tàng về suy thoái ô nhiễm  
môi trường nước.  
- Cung cấp nước phục vụ sinh hoạt cho người dân quanh khu vực suối Nà  
Rược và huyện Yên Minh.  
       
3
PHẦN 2  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
2.1. Cơ sở lý luận của đề tài  
- Khái niệm môi trường:  
Theo khoản 1 điều 3 luật bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2014, môi trường  
được định nghĩa như sau: “ Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và  
nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”.  
- Khái niệm thành phần môi trường:  
Theo khoản 2 điều 3 luật BVMT năm 2014: “Thành phần môi trường là yếu tố  
vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật  
và các hình thái vật chất khác”.  
- Khái niệm ô nhiễm môi trường:  
Theo khoản 8 điều 3 luật BVMT Việt Nam năm 2014: “Ô nhiễm môi trường  
là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật  
môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật”  
[8].  
- Khái niệm Quy chuẩn kỹ thuật môi trường:  
Theo khoản 5 điều 3 luật BVMT năm 2014: “ Quy chuẩn kỹ thuật môi trường  
là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng  
của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ  
quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để bảo  
vệ môi trường ”.  
- Khái niệm tiêu chuẩn môi trường:  
Theo khoản 6 điều 3 luật BVMT năm 2014: “ Tiêu chuẩn môi trường là mức  
giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các  
chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ  
quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo  
vệ môi trường”.  
- Khái niệm suy thoái môi trường:  
     
4
Theo khoản 9 điều 3 luật BVMT năm 2014: “ Suy thoái môi trường là sự suy  
giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến  
con người và sinh vật” [8].  
- Khái niệm sự cố môi trường:  
Theo khoản 10 điều 3 luật BVMT năm 2014: “ Sự cố môi trường là sự cố xảy  
ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi tự nhiên, gây ô nhiễm, suy  
thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng”.  
- Khái niệm chất gây ô nhiễm:  
Theo khoản 11 điều 3 luật BVMT năm 2014: “ Chất gây ô nhiễm là các chất  
hóa học, các yếu tố vật lý và sinh học khi xuất hiện trong môi trường cao hơn  
ngưỡng cho phép làm cho môi trường bị ô nhiễm”.  
- Khái niệm quan trắc môi trường:  
Theo khoản 20 điều 3 luật BVMT năm 2014: “ Quan trắc môi trường là quá  
trình theo dõi có hệ thống về thành phần môi trường, các yếu tố tác động lên trường  
nhằm cung cấp thông tin đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và cấc  
tác động xấu đối với môi trường” [8].  
- Nước và một số khái niệm liên quan:  
Nước là một phần thiết yếu của cuộc sống. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta đang  
phải đối mặt với cuộc khủng hoảng nghiêm trọng liên quan đến nguồn nước trên  
phạm vi toàn cầu mà nguyên nhân chính là do suy giảm hệ sinh thái, ô nhiễm môi  
trường và biến đổi khí hậu.  
Trong tự nhiên nước tồn tại ở cả 3 dạng: rắn, lỏng, khí. Nước đóng băng ở 0C,  
nước có khối lượng riêng lớn nhất.  
Nước tham gia vào rất nhiều phản ứng hóa học, ở nhiệt độ bình thường nước  
không màu, không mùi, không vị.  
Nguồn nước sinh hoạt: là nước dùng để ăn uống, vệ sinh của con người.  
Phát triển tài nguyên nước: là biện pháp nhằm nâng cao khả năng khai thác, sử  
dụng bền vững tài nguyên nước và nâng cao giá trị của tài nguyên nước.  
Nước sạch quy ước: gồm các nguồn nước sau ( Theo hướng dẫn của Ban chỉ  
đạo Quốc gia về cấp nước sạch và VSMTNT):  
5
+ Nước máy hoặc nước cấp từ các trạm bơm nước.  
+ Nước giếng khoan có chất lượng tốt và ổn định.  
+ Nước mưa hứng và trữ sạch.  
+ Nước mặt ( nước sông, suối, ao) có xử lý bằng lắng trong và tiệt trùng.  
- Định nghĩa suối: Suối là từ để chỉ những dòng nước chảy nhỏ và vừa, là dòng  
chảy tự nhiên của nước từ nơi cao xuống chỗ thấp hơn. Suối thường bắt nguồn từ các  
mạch nước ngầm hoặc từ các hồ nước thiên nhiên trong rừng, núi. Nước suối là loại  
nước ngọt. Các dòng suối thường khi hợp lại, lớn lên sẽ tạo thành các dòng sông [6].  
2.2. Cơ sở pháp lý  
- Luật Bảo vệ Môi trường: số 55/2014/QH13 đã được Quốc hội khóa 13, kỳ họp  
thứ 7 thông qua ngày 23/6/2014 gồm 20 chương và 170 điều. Luật Bảo vệ Môi  
trường năm 2014 có hiệu lực thi hành từ 1/1/2015.  
- Luật Tài nguyên nước của Quốc hội số 17/2012/QH13 ngày 21/6/2012.  
- Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi  
tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên nước.  
- Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định về  
quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động  
môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường.  
- Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng  
dẫn thực hiện Nghị định số 18/2015/NĐ-CP quy định về đánh giá môi trường chiến  
lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường.  
- QCVN 01:2009/BYT- Quy chuẩn Việt Nam về chất lượng nước uống ban  
hành ngày 17/6/2009.  
- QCVN 02:2009/BYT- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh  
hoạt.  
- QCVN 08-MT:2015/ BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng  
nước mặt.  
- TCVN 5996:1995 – Chất lượng nước – Lấy mẫu. Hướng dẫn lấy mẫu ở sông  
và suối.  
 
6
- TCVN 6177:1996 - Chất lượng nước - Xác định sắt bằng phương pháp trắc  
phổ dùng thuốc thử 1,10 - phenantrolin.  
- TCVN 6179:1996 – Chất lượng nước – Xác định Amoni – Phần 1. Phương  
pháp trắc phổ thao tác bằng tay.  
- TCVN 6186:1996 – Chất lượng nước – Xác định chỉ số pemanganat.  
- TCVN 6187-1,2:1996 – Chất lượng nước – Phát hiện và đếm Escherichia coli  
và vi khuẩn coliform, vi khuẩn colifrom chịu nhiệt và escherichia coli giả định –  
Phần 2: Phương pháp nhiều ống (số có xác suất cao nhất).  
- TCVN 6195:1996 – Chất lượng nước – Xác định Florua – Phương pháp dò  
điện hóa đối với nước sinh hoạt và nước bị ô nhiễm nhẹ.  
- TCVN 6185 : 2008 – Chất lượng nước – Kiểm tra và xác định độ màu.  
- TCVN 6225-3:2011 (ISO 7393-3:1990) về Chất lượng nước - Xác định clo tự  
do và clo tổng số - Phần 3: Phương pháp chuẩn độ iot xác định clo tổng số.  
2.3. Cơ sở thực tiễn  
2.3.1.Vai trò của nước đối với cơ thể  
Nước - nguồn tài nguyên thiết yếu cho cuộc sống của con người, sự phát triển  
bền vững của mọi quốc gia, là ưu tiên hàng đầu để phát triển bền vững. Nước là yếu  
tố cơ bản không thể thiếu trong việc duy trì sự sống và mọi hoạt động của con người  
trên hành tinh. Việc đáp ứng nhu cầu về nước đảm bảo cả về chất lượng và số lượng  
là một điều kiện tiên quyết để phát triển bền vững. Các số liệu cho thấy con người  
đang sử dụng nước sạch nhanh hơn mức thiên nhiên có thể cung cấp. Nhiều hệ sinh  
thái trên trái đất đang dần tiến tới mức suy thoái hoặc bị biến đổi, nguyên nhân là do  
sự gia tăng dân số và phát triển kinh tế. Vào năm 2050, với các mô hình sản xuất và  
tiêu dùng tiêu tốn nhiều tài nguyên thiên nhiên hơn hiện nay, cộng với đó là sự gia  
tăng dân số thế giới dự kiến chạm tới ngưỡng 9.6 tỉ người, chúng ta sẽ phải cần tới 3  
trái đất mới đáp ứng được thói quen sinh hoạt và mức tiêu dùng như hiện tại. Mặt  
khác, 2/3 dân số thế giới đang sống trong các khu vực bị thiếu nước ít nhất 1 tháng  
trong một năm. Với tình trạng ô nhiễm ngày càng nặng nề và dân số ngày càng tăng  
thì nước sạch được dự báo sẽ sớm trở thành một thứ tài nguyên cực kỳ quý giá. Theo  
cuộc khảo sát hàng năm của Diễn dàn Kinh tế Thế giới, các nhà lãnh đạo đều nhất trí  
   
7
rằng khủng hoảng nước là nguy cơ hàng đầu trong thập kỷ tới.  
Nước vô cùng  
quan trọng đối với cơ thể sống của chúng ta, nước còn quan trọng hơn cả đạm, chất  
béo, đường, vitamin và muối khoáng. Nếu một người không ăn gì chỉ uống nước có  
thể sống được 2 tháng nhưng nếu không uống nước chỉ sống được khoảng 1 tuần.  
Trong cơ thể người chất lỏng chiếm tỷ trọng nhiều nhất, khoảng 60 - 70% tỷ  
trọng. Chất lỏng trong cơ thể như máu, tuyến dịch limpa ... là do nước và một số chất  
khác tạo nên. Đã trở thành dòng sông, kênh rạch, vận chuyển các chất dinh dưỡng  
đến các bộ phận của cơ thể. Nước tham gia vào việc hình thành các dịch tiêu hóa,  
giúp con người hấp thụ chất dinh dưỡng, cũng như tạo thành các chất lỏng trong cơ  
thể, thúc đẩy quá trình trao đổi chất. Nước là chất quan trọng để các phản ứng hóa  
học và trao đổi chất diễn ra không ngừng trong cơ thể. Nước là một dung môi, nhờ  
đó tất cả các chất dinh dưỡng được đưa vào cơ thể, sau đó chuyển vào máu dưới  
dạng dung dịch nước, nước còn giúp cho các phế nang luôn ẩm ướt, có lợi cho việc  
hô hấp. Nước còn được gọi là dầu bôi trơn của toàn bộ khớp xương trong cơ thể, là  
một chất hoãn xung trong hệ thần kinh. Vì vậy uống nước không chỉ là để giải khát.  
Hàng ngày nếu lượng nước nạp vào cơ thể không đủ hoặc bị mất nước do các nguyên  
nhân như tiêu chảy, nôn mửa ... sẽ sinh ra mất nước. Thế nhưng không phải ai cũng  
biết cách uống nước, có người uống nhiều (3 – 4 lít/ngày), có người lại uống quá ít  
(0.5 lít/ngày). Người uống quá nhiều sẽ gây áp lực cho thận, còn người uống quá ít  
nước da sẽ khô, tóc gãy, bị táo bón ...  
Vai trò của nước đối với đời sống sản xuất:  
- Đối với đời sống sinh hoạt: nước sử dụng cho nhu cầu ăn uống, tắm giặt, hoạt  
động vui chơi giải trí như bơi lội ...  
- Đối với hoạt động nông nghiệp như: trồng lúa, hoa màu ... nước là yếu tố  
không thể thiếu.  
- Đối với công nghiệp: nước được sử dụng trong quá trình sản xuất giấy, công  
nghiệp hóa chất và kim loại, xử lý rác thải ...  
- Nước có vai trò với các hoạt động nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi, thủy điện.  
Tóm lại: Đối với con người nước và nước sạch sinh hoạt là nguồn thực phẩm  
chính. Qua đây chúng ta thấy được tầm quan trọng và vai trò của nước đặc biệt là  
8
nước sạch sinh hoạt. Muốn sử dụng tốt tài nguyên nước đòi hỏi mỗi cá nhân, tổ chức,  
địa phương, mỗi quốc gia phải sử dụng đầy đủ và hợp lý nguồn tài nguyên vô giá này  
với công tác quản lý chặt chẽ đúng đắn.  
2.3.2.Các loại ô nhiễm nước  
Nước là một phần thiết yếu của cuộc sống. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta  
đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng nghiêm trọng liên quan đến nguồn nước  
trên phạm vi toàn cầu mà nguyên nhân chính là do suy giảm hệ sinh thái, ô nhiễm  
môi trường và biến đổi khí hậu.  
Có nhiều cách phân loại ô nhiễm nước: Dựa vào nguồn gốc ô nhiễm có ô  
nhiễm do nông nghiệp, công nghiệp hoặc sinh hoạt. Dựa vào môi trường nước có ô  
nhiễm nước ngọt, ô nhiễm biển và đại dương. Dựa vào tính chất ô nhiễm như ô  
nhiễm sinh học, hóa học hay vật lý.  
- Ô nhiễm sinh học của nước: Ô nhiễm nước về mặt sinh học chủ yếu là do sự  
thải các chất hữu cơ có thể lên men được, các nguồn thải đô thị hay công nghiệp bao  
gồm các chất thải sinh hoạt, phân, nước rửa của nhà máy đường, giấy ... sự ô nhiễm  
sinh học thể hiện bằng sự nhiễm bẩn do vi khuẩn rất nặng.  
- Ô nhiễm hóa học do chất vô cơ: Do thải vào nước các chất nitrat, photphat  
dùng trong nông nghiệp và các chất thải do luyện kim và các công nghệ khác như  
Zn, Cr, Niken, Mn, Cd, Hg là những chất độc cho thủy sinh vật.  
- Ô nhiễm do các chất hữu cơ tổng hợp: Ô nhiễm chủ yếu do hydrocacbon,  
nông dược, các chất tẩy rửa.  
- Ô nhiễm vật lý: Các chất rắn không tan khi được thải vào nước làm tăng  
lượng chất lơ lửng, tức là làm tăng độ đục của nước. Các chất này có thể là vô cơ hay  
hữu cơ, có thể đucợ vi khuẩn ăn. Sự phát triển của vi khuẩn và các vi sinh vật khác  
lại càng làm tăng sự xuyên thấu của ánh sáng. Nhiều chất thải công nghiệp có chứa  
các chất có màu, hầu hết là màu hữu cơ, làm giảm giá trị sử dụng của nước về mặt y  
tế cũng như thẩm mỹ.  
 
9
2.4. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam  
2.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới  
Vấn đề ô nhiễm là một trong những thực trạng đáng ngại nhất của sự hủy hoại  
môi trường tự nhiên do nền văn minh đương thời. Khủng hoảng nước đang hoành  
hành cả hành tinh. Trong thập niên 60, ô nhiễm nước lục địa và đại dương gia tăng  
với nhịp độ đáng lo ngại. Tiến độ ô nhiễm nước phản ánh trung thực tiến độ phát  
triển kỹ thuật. Ví dụ: Ở Anh vào thế kỷ 19 sông tamise rất sạch nhưng vào giữa thế  
kỷ 20, nó đã trở thành cống lộ thiên. Các con sông khác cũng có tình trạng tương tự  
trước khi người ta đưa ra biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt. Nước Pháp rộng hơn, công  
nghiệp phân tán và nhiều sông lớn hơn nhưng vấn đề không khác là bao. Ở Hoa Kỳ  
tình trạng thảm thương xảy ra ở bờ phía đông và nhiều vùng khác. Vùng Đại hồ bị ô  
nhiễm nặng, trong đó hồ Erie, Ontario đặc biệt nghiêm trọng.  
Trong những năm qua, những ảnh hưởng môi trường khác nhau đối với hệ  
sinh thái, đời sống hàng chục triệu người, với nhiều quốc gia trên những dòng sông  
lớn như Mekong, Danube, ... đã trở thành mối quan hệ lớn giữa các dòng sông và  
trong vùng sông Mekong vẫn đang trong quá trình thương thảo. Ngoài ra trên thế  
giới cũng đang xảy ra tranh chấp, đấu tranh gay gắt thậm chí là đổ máu để giành  
giật, bảo vệ nguồn nước quý giá và trong lành giữa các nước, đặc biệt ở Trung Quốc,  
Châu Phi.  
Trung bình mỗi ngày trên trái đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh hoạt đổ  
ra sông hồ và biển cả. Có 70% lượng chất thải công nghiệp không qua xử lý trực tiếp  
đổ vào các nguồn nước tại các quốc gia đang phát triển. Đây là thống kê của Viện  
Nước quốc tế (SIWI) được công bố tại Tuần lễ Nước thế giới khai mạc tại Stockholm  
– Thụy Điển ngày 05/9.  
Thực tế trên khiến nguồn nước dùng trong sinh hoạt của con người bị ô nhiễm  
nghiêm trọng. Một nửa số bệnh nhân nằm viện ở các nước đang phát triển là do  
không được tiếp cận những điều kiện vệ sinh phù hợp và các bệnh liên quan đến  
nước. Thiếu vệ sinh và thiếu nước sạch là nguyên nhân gây cảnh báo trong 15 năm  
tới sẽ có gần 2 tỷ người phải sống tại các khu vực khan hiếm nguồn nước và 2/3 dân  
cư trên hành tinh có thể bị thiếu nước.  
   
10  
Các con sông ở lục địa châu Á là nơi ô nhiễm nặng nề nhất. Hàm lượng chì trong  
các con sông này được tìm thấy cao hơn 20 lần so với các hồ chứa của các nước công  
nghiệp ở các châu lục khác. Số lượng vi khuẩn được tìm thấy ở những con sông này (từ  
chất thải của con người) rất cao, có thể gấp ba lần so với mức trung bình của thế giới. Ở  
Ireland, phân bón hóa học và nước thải là những chất gây ô nhiễm nước chính. Khoảng  
30% các con sông ở đất nước này bị ô nhiễm.  
Ô nhiễm nước ngầm là một vấn đề nghiêm trọng ở Bangladesh. Asen là một  
trong những chất gây ô nhiễm chính ảnh hưởng đến chất lượng nước ở quốc gia này.  
Có khoảng 85% tổng diện tích của Bangladesh là nguồn nước ngầm đã bị ô nhiễm.  
Điều này có nghĩa là hơn 1,2 triệu công dân của đất nước này phải đối mặt với tác  
hại của nước bị nhiễm asen.  
Tình hình ô nhiễm nguồn nước ở Mỹ có những dấu hiệu không khác xa so với  
thực trạng ô nhiễm môi trường nước trên Thế Giới. Cần lưu ý rằng khoảng 40% các  
con sông ở Hoa Kỳ đều đã bị ô nhiễm. Vì lý do này, bạn không thể sử dụng nước từ  
những con sông này để uống, tắm hoặc bất kỳ hoạt động nào như vậy. Có  
khoảng 46% hồ ở Hoa Kỳ là không phù hợp để duy hoạt động sống thủy sinh. Các  
chất gây ô nhiễm trong nước từ ngành xây dựng bao gồm: xi măng, thạch cao, kim  
loại, đá mài, v.v. Những vật liệu này có hại hơn nhiều so với chất thải sinh học [4].  
Ô nhiễm nhiệt nước do dòng nước nóng từ các doanh nghiệp công nghiệp  
ngày càng gia tăng. Nhiệt độ nước tăng là mối đe dọa đối với cân bằng sinh thái.  
Nhiều cư dân dưới nước mất mạng vì ô nhiễm nhiệt. Thoát nước do mưa là một trong  
những nguyên nhân chính gây ô nhiễm nước. Các chất thải, như dầu, hóa chất thải ra  
từ ô tô, hóa chất gia dụng, v.v., là những tác nhân chính gây ô nhiễm từ khu vực  
thành thị. Phân khoáng và phân hữu cơ và dư lượng thuốc trừ sâu chiếm phần lớn các  
chất ô nhiễm.  
Sự cố tràn dầu ở biển là một trong những vấn đề toàn cầu chịu trách nhiệm về  
ô nhiễm nước quy mô lớn. Hàng ngàn cá và các sinh vật dưới nước khác chết vì sự  
cố tràn dầu hàng năm. Ngoài dầu còn có một số các loại chất thải rất khó phân hủy  
được tìm thấy trên biển như các túi ni - long, nhựa, cao su,... Sự thật về thực trạng ô  
nhiễm nguồn nước trên thế giới nói về một vấn đề thế giới sắp xảy ra [4].  
11  
2.4.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam  
Tổng lượng nước mặt trên biển đến lãnh thổ trên một năm là : 830 – 840 tỷ  
m³, trong đó: Nội sinh là 310 – 315 tỷ m³ chiếm 37%, Ngoại sinh là 520 – 525 tỷ m³  
chiếm 63%.  
Tài nguyên nước ở Việt Nam khá dồi dào và phong phú, với 2372 con sông  
(với độ dài con sông hơn 10km). Tổng diện tích lưu vực sông là 1.1167.000 km²,  
trong đó phần lưu vực nằm ngoài lãnh thổ là 835,442 km², chiếm đến 72%. Có 13  
sông chính và sông nhánh lớn có diện tích lưu vực từ 10.000 km² trở lên; 166 sông  
có diện tích lưu vực dưới 10.000 km².  
Việt Nam là một quốc gia có lượng mưa trung bình năm khá lớn tới trên  
2000mm. 3/4lãnh thổ là đồi núi với độ che phủ rừng hiện khoảng 29%, mạng lưới  
sông, suối, đầm, hồ, ao, kênh mương khá dày đặc và có nước quanh năm. Nhờ đó tài  
nguyên nước nhìn chung tương đối: hàng năm lượng nước mặt sản sinh nội địa đạt  
32,5 tỷ m³/năm, nếu kể cả lượng nước từ bên ngoài lãnh thổ chảy vào khoảng 889 tỷ  
m³/năm, nước dưới đất trữ lượng tiềm năng khoảng 48 ty m³/năm (trầm tích bờ rời:  
12,6: đá lục nguyên: 7,31; đá phun trào: 2,11; đá xâm nhập: 8,05; đá cacbonat: 2,4;  
đá biến chất: 7,79 và đá hỗn hợp: 7,75).  
Với mạng lưới sông ngòi dày đặc như vậy rất thuận lợi cho phát triển kinh tế,  
xã hội của đất nước. Trong đó, có nền sản xuất nông nghiệp sử dụng nhiều nước  
nhất, dùng cho việc tưới lúa và hoa màu và dùng trong sinh hoạt hàng ngày. Tuy  
nhiên việc sử dụng nông dược và phân bón hóa học ngày càng góp phần làm gia tăng  
mức độ ô nhiễm môi trường nông thôn và môi trường nước ngầm của khu vực đó.  
Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng ô nhiễm  
môi trường nước, như sự gia tăng dân số, mặt trái của quá trình công nghiệp hoá,  
hiện đại hoá, cơ sở hạ tầng yếu kém, lạc hậu: nhận thức của người dân về vấn đề môi  
trường còn chưa cao… Đáng chú ý là sự bất cập trong hoạt động quản lý, bảo vệ môi  
trường. Nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức và cá nhân  
có trách nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ môi trường nước chưa sâu sắc và đầy đủ; chưa  
thấy rõ ô nhiễm môi trường nước là loại ô nhiễm gây nguy hiểm trực tiếp, hàng ngày  
và khó khắc phục đối với đời sống con người cũng như sự phát triển bền vững của  
đất nước. Các quy định về quản lý và bảo vệ môi trường nước còn thiếu (chẳng hạn  
 
12  
như chưa có các quy định và quy trình kỹ thuật phục vụ cho công tác quản lý và bảo  
vệ nguồn nước).  
2.5 Tổng quan về phương pháp lọc và màng lọc  
Lọc màng là một trong những kỹ thuật khá mới được phát triển và ứng dụng  
trong công nghệ xử lý nước tự nhiên và nước thải trong gần 30 năm trở lại đây.  
Phương pháp lọc màng có nhiều ưu điểm về phương diện kỹ thuật, quy mô sản xuất  
và giá thành hoạt động. Phạm vi áp dụng của kỹ thuật màng khá rộng, loại bỏ gần  
như tất cả tạp chất: chất huyền phù, chất keo, nhũ tương, hữu cơ hòa tan, các ion có  
kích thước nhỏ. Màng hoạt động như một hàng rào chắn đối với dòng chảy của một  
hỗn hợp gồm chất lỏng và các cấu tử trong đó. Lọc là quá trình tách chất rắn (cặn lơ  
lửng) ra khỏi nước. Khi nước có lẫn tạp chất lở lửng đi qua môi trường vật liệu lọc,  
có thể cặn được giữ lại cho nước đi qua, kết quả là thu được nước trong không chứa  
hoặc chứa rất ít cặn lơ lửng. Người ta phân loại các phương pháp màng lọc chủ yếu  
dựa vào bản chất vật liệu lọc và phương pháp thực hiện quá trình lọc.  
Màng siêu lọc UF (Ultra Filter) :  
Lọc màng là giải pháp dùng màng lọc kỹ thuật nhằm loại bỏ nhiều loại phân tử  
lớn, tách ly các ion tồn tại dưới dạng muối khoáng hòa tan bằng cách dùng áp lực của  
máy bơm đẩy nước qua màng bán thấm.  
Nhằm loại bỏ vi khuẩn, virus, huyền phù, chất hữu cơ và các chất không mong  
muốn khác trong nước, người ta sử dụng các loại màng lọc sau: màng lọc MF, màng  
lọc UF, màng nano, và thẩm thấu ngược. Thông thường màng lọc được phân loại  
theo kích thước lỗ màng. Màng lọc MF có kích thước lỗ khoảng 0,1 - 1µm, màng UF  
là 0,001 – 0,1 µm, còn màng NF và RO có kích thước lỗ nhỏ hơn rất nhiều so với  
MF và UF. Do đó, quá trình MF và UF có thể có độ thấm cao hơn với áp suất sử  
dụng nhỏ hơn so với quá trình NF và RO. Hơn nữa, với cơ chế tách loại, màng áp  
suất thấp (MF và UF) có thể xem như một cái rây lọc, cấu tử có kích thước lớn hơn  
kích thước lỗ rỗng của màng sẽ bị giữ lạiMàng siêu lọc sợi rỗng thẩm thấu (UF):  
Màng lọc UF (Ultra Filtration) hay còn gọi là màng siêu lọc sợi rỗng thẩm  
thấu, mỗi sợi màng có dạng hình ống, màu trắng, khi lọc cho phép nước đi từ ngoài  
vào trong lòng ống nhờ áp lực dòng chảy của nước, khi ta bịt một đầu ống lại hoặc  
uốn ống theo hình chữ (U). Dưới áp lực dòng chảy của nước sẽ thấm qua các mao  
dẫn có kích thước khoảng từ 0,1~0,001micromet (µm). Với kích thước từ 0,1~  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 57 trang yennguyen 13740 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá hiện trạng môi trường nước suối Nà Rược tại huyện Yên Minh tỉnh Hà Giang và đề xuất công nghệ màng lọc UF kết hợp với vật liệu lọc đa năng ODM-2F xử lý nước cấp cho sinh hoạt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_danh_gia_hien_trang_moi_truong_nuoc_suoi_na_ruoc_t.pdf