Khóa luận Đánh giá hiện trạng môi trường nhà máy sản xuất gạch nung Tuynel tại huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh và đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
----------- ----------  
LÃ VĂN TRUNG  
Tên đề tài:  
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NHÀ MÁY SẢN XUẤT GẠCH  
NUNG TUYNEL TẠI HUYỆN ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH VÀ ĐỀ  
XUẤT BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ’’  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Khoa  
: Chính quy  
: Khoa học môi trường  
: Môi trường  
Khóa học  
: 2014 - 2018  
Thái Nguyên, năm 2018  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
----------- ----------  
LÃ VĂN TRUNG  
Tên đề tài:  
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NHÀ MÁY SẢN XUẤT GẠCH  
NUNG TUYNEL TẠI HUYỆN ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH VÀ ĐỀ  
XUẤT BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ’’  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Lớp  
: Chính quy  
: Khoa học môi trường  
: K46 – KHMT – N02  
: Môi trường  
Khoa  
Khóa học  
: 2014 - 2018  
Giảng viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Đức Thạnh  
Thái Nguyên, năm 2018  
i
LỜI CẢM ƠN  
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu trường Đại học Nông lâm Thái  
Nguyên, ban chủ nhiệm khoa Môi trường và thầy giáo hướng dẫn TS. Nguyễn  
Đức Thạnh, em tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá hiện trạng môi trường  
nhà máy sản xuất gạch nung Tuynel tại huyện Đông Triều, tỉnh Quảng  
Ninh và đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường”. Để hoàn thành  
được khóa luận của mình, em đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của thầy  
giáo TS. Nguyễn Đức Thạnh và sự giúp đỡ của toàn thể cán bộ, nhân viên,  
Viện kỹ thuật và công nghệ môi trường. Nhân dịp này, em xin bày tỏ lòng  
biết ơn sâu sắc đến thầy giáo TS. Nguyễn Đức Thạnh người hướng dẫn đề tài  
cùng toàn thể các thầy cô, cán bộ khoa Môi trường, các thầy cô hướng dẫn  
phân tích tại phòng phân tích khoa Môi trường. Em xin chân thành cảm ơn tới  
toàn thể cán bộ, bạn bè, thầy cô và những người thân trong gia đình đã động  
viên khuyến khích và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập cũng như hoàn  
thành khóa luận của mình. Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, do  
kinh nghiệm và kiến thức của em còn hạn chế nên không tránh khỏi những sai  
sót và khiến khuyết em rất mong được sự tham gia đóng góp ý kiến từ phía  
các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để khóa luận của em được hoàn thiện  
hơn nữa.  
Em xin chân thành cảm ơn!  
Thái Nguyên, ngày…. tháng…. năm 2018  
Sinh viên  
Lã Văn Trung  
 
ii  
DANH MỤC BẢNG  
 
iv  
DANH MỤC VIẾT TẮT  
BTNMT  
CBCNV  
Bộ Tài nguyên môi trường  
Cán bộ công nhân viên  
CTNH  
CTR  
Chất thải rắn nguy hại  
Chất thải rắn  
HTKT  
KTXH  
QCVN  
QĐ - TTg  
QLMT  
QTC  
Hạ tần kỹ thuật  
Kinh tế- xã hội  
Quy chuẩn Việt Nam  
Quyết định – Thủ tướng  
Quản lý môi trường  
Quy tiêu chuẩn  
TCVN  
UBND  
VLXD  
VLXKN  
Tiêu chuẩn Việt Nam  
Ủy ban nhân dân  
Vật liệu xây dựng  
Vật liệu xây không nung  
 
v
MỤC LỤC  
vi  
vii  
1
PHẦN I  
MỞ ĐẦU  
1.1. Đặt vấn đề  
Trên thị trường hiện nay, nhu cầu về các sản phẩm vật liệu xây dựng  
cao cấp phục vụ xây dựng các công trình xây dựng dân dụng là rất lớn, đặc  
biệt là mặt hàng gạch xây dựng, gạch ốp lát các loại... Theo quy hoạch sản  
xuất vật liệu xây dựng đến năm 2030 của tỉnh Quảng Ninh có xác định tiếp  
tục mở rộng sản xuất đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu  
đối với một số sản phẩm vật liệu xây dựng có lợi thế, trong đó có chủng loại  
sản phẩm vật liệu ốp lát. Nắm bắt chủ trương của tỉnh, lợi thế của địa phương,  
vị trí dự kiến đầu tư thuận lợi về giao thông thủy, nguồn nguyên liệu sẵn có,  
nguồn lao động địa phương, xa khu dân cư... Công ty cổ phần Tâm Vân Hạ  
Long lập dự án đầu tư xây dựng Nhà máy sản xuất gạch nung Tuynel trên địa  
bàn xã Hoàng Quế, thị xã Đông Triều với dây truyền công nghệ khép kín,  
hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước,  
hướng tới xuất khẩu.[28]  
Để tìm hiểu rõ hơn và có cái nhìn thực tế hơn về môi trường mà các  
hoạt động sản xuất gây nên cũng như các biện pháp áp dụng để bảo vệ môi  
trường sinh thái và sức khỏe con người tại công ty hiện nay, trong khuôn khổ  
một đề tài tốt nghiệp, dưới sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa Môi trường và  
hướng dẫn của giảng viên: TS. Nguyễn Đức Thạnh tôi nghiên cứu đề tài  
“Đánh giá hiện trạng môi trường nhà máy sản xuất gạch nung Tuynel tại  
huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh và đề xuất biện pháp giảm thiểu ô  
nhiễm môi trường”.  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
- Đánh giá thực trạng môi trường nhà máy sản xuất gạch nung Tuynel  
tại huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.  
       
2
- Đề xuất các giải pháp nhằm phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường,  
ngăn ngừa giảm thiểu ô nhiễm.  
1.3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của tài  
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học  
- Vận dụng và phát huy được những kiến thức đã học, kĩ năng, cơ  
hội cọ sát với những kiến thức thực tiễn cho bản thân phục vụ cho công  
tác sau này.  
- Qua quá trình tìm hiểu và đánh giá có cái nhìn tổng quan về hiện  
trạng môi trường và sự hiệu quả của các biện pháp bảo vệ môi trường đang sử  
dụng trong nhà máy. Đó là những tiền đề để có những biện pháp, đề xuất điều  
chỉnh cho công tác bảo vệ môi trường của nhà máy phù hợp với điều kiện  
tương lai.  
- Giúp sinh viên có thêm những hiểu biết về các thiết bị quan trắc môi  
trường trong thực tế, các loại khí thải, nước thải phát sinh trong quá trình sản  
xuất gạch và ảnh hưởng của nó đến sức khỏe con người.  
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn  
- Biết được thực trạng các vấn đề về môi trường của nhà máy từ đó đề  
xuất các giải pháp ngăn ngừa, giảm thiểu ô nhiễm phục vụ công tác bảo vệ  
môi trường của nhà máy.  
- Đưa ra cái nhìn tổng quan góp phần nâng cao trách nhiệm của ban  
lãnh đạo Công ty cũng như các phòng ban trước hoạt động sản xuất gây ô  
nhiễm từ đó có những giải pháp bảo vệ môi trường.  
   
3
PHẦN II  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
2.1. Cơ sở khoa học  
2.1.1. Khái niệm môi trường  
“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có  
quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống,  
sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”  
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các  
loại:  
- Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá  
học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu  
tác động của con người. Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí,  
động, thực vật, đất, nước... Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất  
để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại  
tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng  
hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con  
người thêm phong phú.  
- Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó là  
những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định... ở các cấp khác nhau  
như: Liên Hợp Quốc, hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng  
xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể... Môi  
trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất  
định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống  
của con người khác với các sinh vật khác. Ngoài ra, người ta còn phân biệt  
khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo  
nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, như ôtô, máy bay, nhà ở,  
công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo...  
       
4
Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần  
thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên,  
không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội...  
Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ  
bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc  
sống con người. Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy  
giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn  
trường, tổ chức xã hội như : Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc,  
làng xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn  
được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp,  
nghị định, thông tư, quy định.[25]  
2.1.2. Khái niệm ô nhiễm môi trường  
Theo khoản 8, điều 3, Luật Bảo Vệ Môi trường Việt Nam 2014:  
“Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường  
không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường  
gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật”.[25]  
2.1.3. Khái niệm về ô nhiễm đất  
Ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm  
bẩn môi trường đất bởi các chất ô nhiễm. Người ta có thể phân loại đất bị ô  
nhiễm theo các nguồn gốc phát sinh hoặc theo các tác nhân gây ô nhiễm. Nếu  
theo nguồn gốc phát sinh có:  
+ Ô nhiễm đất do các chất thải sinh hoạt.  
+ Ô nhiễm đất do chất thải công nghiệp.  
+ Ô nhiễm đất do hoạt động nông nghiệp. Tuy nhiên, môi trường đất có  
những đặc thù và một số tác nhân gây ô nhiễm có thể cùng một nguồn gốc  
nhưng lại gây tác động bất lợi rất khác biệt. Do đó, người ta còn phân loại ô  
nhiễm đất theo các tác nhân gây ô nhiễm  
   
5
+ Ô nhiễm đất do tác nhân hoá học: Bao gồm phân bón N, P (dư lượng  
phân bón trong đất), thuốc trừ sâu (clo hữu cơ, DDT, lindan, aldrin, photpho  
hữu cơ v.v.), chất thải công nghiệp và sinh hoạt (kim loại nặng, độ kiềm, độ  
axit v.v...).  
+ Ô nhiễm đất do tác nhân sinh học: Trực khuẩn lỵ, thương hàn, các  
loại ký sinh trùng (giun, sán v.v...).  
+ Ô nhiễm đất do tác nhân vật lý: Nhiệt độ (ảnh hưởng đến tốc độ phân  
huỷ chất thải của sinh vật), chất phóng xạ (U ran, Thori, Sr90, I131, Cs137).  
Chất ô nhiễm đến với đất qua nhiều đầu vào, nhưng đầu ra thì rất ít.  
Đầu vào có nhiều vì chất ô nhiễm có thể từ trên trời rơi xuống, từ nước chảy  
vào, do con người trực tiếp "tặng" cho đất, mà cũng có thể không mời mà đến.  
Đầu ra rất ít vì nhiều chất ô nhiễm sau khi thấm vào đất sẽ lưu lại trong đó.  
Hiện tượng này khác xa với hiện tượng ô nhiễm nước sông, ở đây chỉ  
cần chất ô nhiễm ngừng xâm nhập thì khả năng tự vận động của không khí và  
nước sẽ nhanh chóng tống khứ chất ô nhiễm ra khỏi chúng. Đất không có khả  
năng này, nếu thành phần chất ô nhiễm quá nhiều, con người muốn khử ô  
nhiễm cho đất sẽ gặp rất nhiều khó khăn và tốn nhiều công sức (Tổng cục môi  
Trường, 2009) [19].  
2.1.4. Khái niệm về ô nhiễm nước  
Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng  
nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công  
nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài  
hoang dã. Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: Do mưa, tuyết tan, gió bão,  
lũ lụt đưa vào môi trường nước chất thải bẩn, các sinh vật và vi sinh vật có hại  
kể cả xác chết của chúng.  
Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: Quá trình thải các chất độc hại  
chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông  
 
6
nghiệp, giao thông vào môi trường nước. Theo bản chất các tác nhân gây ô  
nhiễm, người ta phân ra các loại ô nhiễm nước: Ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô  
nhiễm hoá chất, ô nhiễm sinh học, ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý (Tổng cục  
Môi trường, 2009) [20].  
2.1.5. Khái niệm về ô nhiễm không khí  
Ô nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan  
trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra sự  
toả mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa (do bụi). Có rất nhiều nguồn gây ô  
nhiễm không khí. Có thể chia ra thành nguồn tự nhiên và nguồn nhân tạo.  
- Nguồn tự nhiên:  
+ Núi lửa: Núi lửa phun ra những nham thạch nóng và nhiều khói bụi  
giàu sunfua, mêtan và những loại khí khác. Không khí chứa bụi lan toả đi rất  
xa vì nó được phun lên rất cao.  
+ Cháy rừng: Các đám cháy rừng và đồng cỏ bởi các quá trình tự nhiên  
xảy ra do sấm chớp, cọ sát giữa thảm thực vật khô như tre, cỏ. Các đám cháy  
này thường lan truyền rộng, phát thải nhiều bụi và khí.  
+ Bão bụi gây nên do gió mạnh và bão, mưa bào mòn đất sa mạc, đất  
trồng và gió thổi tung lên thành bụi. Nước biển bốc hơi và cùng với sóng biển  
tung bọt mang theo bụi muối lan truyền vào không khí.  
+ Các quá trình phân huỷ, thối rữa xác động, thực vật tự nhiên cũng  
phát thải nhiều chất khí, các phản ứng hoá học giữa những khí tự nhiên hình  
thành các khí sunfua, nitrit, các loại muối v.v... Các loại bụi, khí này đều gây  
ô nhiễm không khí.  
- Nguồn nhân tạo: Nguồn gây ô nhiễm nhân tạo rất đa dạng, nhưng  
chủ yếu là do hoạt động công nghiệp, đốt cháy nhiên liệu hoá thạch và hoạt  
động của các phương tiện giao thông. Nguồn ô nhiễm công nghiệp do hai quá  
trình sản xuất gây ra:  
 
7
+ Quá trình đốt nhiên liệu thải ra rất nhiều khí độc đi qua các ống khói  
của các nhà máy vào không khí.  
+ Do bốc hơi, rò rỉ, thất thoát trên dây chuyền sản xuất sản phẩm và  
trên các đường ống dẫn tải. Nguồn thải của quá trình sản xuất này cũng có thể  
được hút và thổi ra ngoài bằng hệ thống thông gió. Các ngành công nghiệp  
chủ yếu gây ô nhiễm không khí bao gồm: Nhiệt điện, vật liệu xây dựng, hoá  
chất và phân bón, dệt và giấy, luyện kim, thực phẩm, các xí nghiệp cơ khí, các  
nhà máy thuộc ngành công nghiệp nhẹ: Giao thông vận tải, bên cạnh đó phải  
kể đến sinh hoạt của con người (Tổng cục Môi trường, 2009) [21].  
2.2. Cơ sở pháp lý  
- Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13, được Quốc hội nước Cộng  
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 23/6/2014;  
- Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13, được Quốc hội nước Cộng  
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 21/06/2012;  
- Luật Khoáng sản số 60/2010/QH12, được Quốc hội nước Cộng hoà  
xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 17/11/2010;  
- Luật Xây dựng số 50/2014/QH13, được Quốc hội nước Cộng hoà xã  
hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 18/06/2014;  
- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giao thông đường thủy nội  
địa số 48/2014/QH13 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt  
Nam thông qua ngày 17/06/2014;  
- Luật Đất đai số 45/2013/QH13, được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội  
chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2013;  
- Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/QH12, được Quốc hội nước Cộng  
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 13/11/2008;  
- Luật Hóa chất số 06/2007/QH12, được Quốc hội nước Cộng hoà xã  
hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 21/11/2007;  
 
8
- Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy  
định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh  
giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường;  
- Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ về xử  
lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;  
- Nghị định số 154/2016/NĐ-CP ngày 16/11/2016 của Chính phủ về  
phí bảo vệ môi trường đối với nước thải;  
- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản  
lý chất thải và phế liệu;  
- Nghị định số 158/NĐ-CP ngày 29/11/2016 của Chính phủ về quy  
định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản;  
- Nghị định số 24a/2016/NĐ-CP ngày 05/04/2016 của Chính phủ về  
quản lý vật liệu xây dựng;  
- Nghị định số 24/2015/NĐ-CP ngày 27/02/2015 của Chính phủ về quy  
định chi tiết và biện pháp thi hành một số điều của Luật giao thông đường  
thủy nội địa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giao thông đường  
thủy nội địa;  
- Nghị định số 132/2015/NĐ-CP ngày 25/12/2015 của Chính phủ về  
quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy  
nội địa;  
- Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT ngày 29/5/2015 của Bộ Tài nguyên  
và Môi trường về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi  
trường và kế hoạch bảo vệ môi trường;  
- Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên  
và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại.  
9
2.2.1. Các tiêu chuẩn, quy chuẩn và hướng dẫn kỹ thuật về môi trường  
- Quy chuẩn Việt Nam QCVN 08-MT:2015/BTNMT- Quy chuẩn kỹ  
thuật quốc gia về chất lượng nước mặt;  
- Quy chuẩn Việt Nam QCVN 14:2008/BTNMT- Quy chuẩn kỹ thuật  
quốc gia về nước thải sinh hoạt;  
- Quy chuẩn Việt Nam QCVN 03-MT:2015/BTNMT- Quy chuẩn kỹ  
thuật quốc gia về giới hạn cho phép của kim loại nặng trong đất;  
- Quy chuẩn Việt Nam QCVN 09-MT:2015/BTNMT-Quy chuẩn kỹ  
thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm;  
- Quy chuẩn QCVN 05:2013/BTNMT- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về  
chất lượng không khí xung quanh;  
- Quy chuẩn QCVN 06:2009/BTNMT- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về  
một số chất độc hại trong môi trường xung quanh;  
- Quy chuẩn QCVN 26:2010/BTNMT- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về  
tiếng ồn;  
- Quy chuẩn Việt Nam QCVN 07:2009/BTNMT- Quy chuẩn kỹ thuật  
quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại;  
- Quy chuẩn Việt Nam QCVN 50:2013/BTNMT- Quy chuẩn kỹ thuật  
quốc gia về ngưỡng nguy hại đối với bùn thải từ quá trình xử lý nước;  
- Quy chuẩn Việt Nam QCVN 19:2009/BTNMT- Quy chuẩn kỹ thuật  
quốc gia về khí thải công nghiệp đối với bụi và các chất vô cơ;  
- Quy chuẩn Việt Nam QCVN 27:2016/BYT- Quy chuẩn kỹ thuật quốc  
gia về rung - giá trị cho phép tại nơi làm việc;  
- Quy chuẩn Việt Nam QCVN 26:2016/BYT- Quy chuẩn kỹ thuật quốc  
gia về vi khí hậu - Giá trị cho phép vi khí hậu tại nơi làm việc;  
- Quy chuẩn Việt Nam QCVN 24:2016/BYT- Quy chuẩn kỹ thuật  
quốc gia về tiếng ồn - mức tiếp xúc cho phép tiếng ồn tại nơi làm việc  
 
10  
2.3. Cơ sở thực tiễn  
2.3.1. Tình hình sản xuất, tiêu thụ gạch nung Tuynel trên thế giới và Việt  
Nam  
2.3.1.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ gạch nung Tuynel trên thế giới  
Gạch nung là vật liệu xây dựng phổ biến lâu đời trên thế giới, hiện nay  
vẫn là sản phẩm góp phần quan trọng trong việc xây dựng và phát triển nói  
chung, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Tổng sản lượng gạch nung ở các  
nước đang phát triển lớn hơn nhiều so với các nước phát triển. Các nước phát  
triển sử dụng công nghệ sản xuất hiện đại quy mô công nhiệp nên năng suất  
lao động, tiêu tốn năng lượng riêng nhỏ hơn các nước đang phát triển. Trung  
Quốc là nước có sản lượng gạch nung lớn nhất thế giới, năm 1980 sản lượng  
gạch nung tại Trung Quốc là 110 tỷ viên, đến năm 1994 đã tăng lên 800 tỷ  
viên, hiện nay có hơn 110.000 đơn vị sản xuất tạo việc làm cho hơn 10 triệu  
lao động. Sản lượng gạch trung bình tại ấn độ 140 tỷ viên/năm chỉ đứng sau  
trung quốc với hơn 100.000 đơn vị sản xuất thu hút 1,5 triệu lao động. Theo  
điều tra năm 2009, sản lượng gạch nung cả nước đạt khoảng 22 tỷ viên, trong  
đó sản xuất bằng lò thủ công chiếm khoảng 50% tổng sản lượng. Tuy nhiên  
sản lượng gạch nung ở các nước đang phát triển lớn nhưng sản lượng trung  
bình năm/người, sản lượng trung bình năm/nhà máy và giá trị/sản phẩm ở các  
nước đang phát triển nhỏ hơn ở các nước phát triển do công nghệ sản xuất  
gạch nung ở các nước phát triển hiện đại hơn. Hiện nay sản lượng gạch nung  
ở các nước đang phát triển vẫn ngày càng tăng.[22]  
2.3.1.2. Tình hình sản xuất gạch nung tại Việt Nam  
Cùng với phát triển của thế giới và xu hướng hội nhập kinh tế Quốc tế,  
đất nước ta đang đổi mới và bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa,  
vừa xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật, vừa phát triển nền kinh tế đất nước.  
   
11  
Hiện nay nước ta đang xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu  
đô thị, văn phòng và nhà ở... Do đó, ngành xây dựng đóng một vai trò rất  
quan trọng trong quá trình phát triển đất nước. Sự phát triển kinh tế của đất  
nước kéo theo sự phát triển đột biến về sản xuất VLXD, nhất là nhu cầu về  
gạch ngói các loại. Sản xuất gạch thủ công những năm qua cũng tăng đột  
biến. Hệ quả tất yếu là gây ra ô nhiễm môi trường, khai thác bừa bãi nguồn tài  
nguyên đất đai, nguyên liệu, tăng nồng độ khói, bụi, ảnh hưởng trực tiếp đến  
sản xuất và đời sống, sức khoẻ nhân dân, gây thiệt hại trong sản xuất nông  
nghiệp, giảm sản lượng và năng suất cây trồng... Theo số liệu thống kê năm  
2009 trên toàn quốc đã sản xuất được khoảng 23 tỷ viên quy tiêu chuẩn  
(QTC), trong đó VLXKN khoảng 8%, gạch đất sét nung 92%, trong số gạch  
nung có gạch sản xuất bằng công nghệ lò Tuynel chiếm 57%, lò thủ công  
chiếm 38%, các loại lò khác chiếm 5% (Nguyễn Thị Hải, 2014) [8]  
Điều tra sơ bộ của Hội Xây dựng Việt Nam đưa ra: năm 2000 sản  
lượng gạch nung khoảng 12 tỷ viên, năm 2007 sản lượng gạch là 22 tỷ viên.  
Năm 2011 sản lượng gạch đất nung của cả nước vào khoảng 20,9 tỷ viên,  
chiếm 83,7% vật liệu xây; trong đó sản lượng gạch sản xuất bằng lò thủ công  
vẫn chiếm khoảng 30%- 35%. Năm 2012 sản lượng sản xuất khoảng 16,5 tỷ  
viên chiếm khoảng 82% so với tổng số vật liệu xây, trong đó sản lượng gạch  
sản xuất bằng lò thủ công khoảng 25%-30%. Đến năm 2015 sản lượng gạch  
là 32 tỷ viên và dự kiến đến năm 2020 sẽ tăng lên 42 tỷ viên (Bộ xây dựng,  
2013) [1]  
Tuy nhiên, thực trạng đang diễn ra thường xuyên, đó là gạch ngói sản  
xuất theo quy trình công nghệ cũ, lạc hậu. Đa số các lò gạch đang được sử  
dụng đều là lò thủ công, chỉ dùng than đá và củi để đốt. Việc tiêu thụ một  
lượng than lớn, các lò gạch sẽ thải ra bầu khí quyển một lượng lớn khí thải  
độc hại CO, CO2, SO2…ảnh hưởng đến môi trường sống, sức khỏe con người,  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 80 trang yennguyen 20400 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá hiện trạng môi trường nhà máy sản xuất gạch nung Tuynel tại huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh và đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_danh_gia_hien_trang_moi_truong_nha_may_san_xuat_ga.pdf