Khóa luận Đánh giá ảnh hưởng hoạt động khai thác đá vôi của mỏ đá Nà Cà tới môi trường xung quanh tại xã Nguyên Phúc, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn

ÐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ÐẠI HỌC NÔNG LÂM  
ĐẶNG ĐỨC TRỌNG  
“ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC ĐÁ VÔI CỦA MỎ  
ĐÁ NÀ CÀ TỚI MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH TẠI XÃ NGUYÊN PHÚC,  
HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN”  
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Khoa  
: Liên thông  
: Khoa học môi trường  
: Môi trường  
Khóa học  
: 2017-2019  
THÁI NGUYÊN - 2019  
ÐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ÐẠI HỌC NÔNG LÂM  
ĐẶNG ĐỨC TRỌNG  
“ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC ĐÁ VÔI CỦA MỎ  
ĐÁ NÀ CÀ TỚI MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH TẠI XÃ NGUYÊN PHÚC,  
HUYỆN BẠCH THÔNG, TỈNH BẮC KẠN”  
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Lớp  
: Liên thông  
: Khoa học môi trường  
: K49 LT – KHMT  
: Môi trường  
Khoa  
Khóa học  
: 2017-2019  
Giảng viên hướng dẫn : Th.s. Dương Thị Minh Hòa  
THÁI NGUYÊN - 2019  
i
LỜI CẢM ƠN  
Để hoàn thành bài khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn các thầy  
cô trong khoa Môi trường, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tận  
tình dạy bảo, truyền đạt kiến thức và nhiều kinh nghiệm quý báu cho em trong  
suốt năm học vừa qua.  
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến cô giáo hướng dẫn:  
ThS.Dương Thị Minh Hòa người đã tận tình giúp đỡ, động viên em trong suốt  
thời gian thực tập. Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc và các anh chị  
trong Công ty TNHH Thái Bắc đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất giúp em  
hoàn thành khóa luận này.  
Em cũng không quên gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã luôn  
động viên, giúp đỡ em trong những lúc em gặp khó khăn.  
Do kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế nên khóa luận không tránh  
khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý, chỉnh sửa từ quý thầy  
cô và bạn đọc để khóa luận của em hoàn thiện hơn.  
Sau cùng em xin chúc toàn thể thầy, cô trong khoa Môi Trường, lời  
chúc sức khỏe, luôn thành công trong công việc và cuộc sống.  
Em xin chân thành cảm ơn !  
Thái Nguyên … tháng 5 năm 2019  
Sinh viên  
Đặng Đức Trọng  
ii  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
Bảng 4.12: Kết quả phân tích chất lượng môi trường không khí khu vực mỏ ... 49  
iv  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
Viết đầy đủ  
Từ viết tắt  
BTNMT  
BKHCN  
CBCNV  
CTNH  
Bộ Tài nguyên và Môi trường  
Ban Khoa học Công nghệ  
Cán bộ công nhân viên  
Chất thải nguy hại  
CTR  
Chất thải rắn  
CHXHCNVN  
KHCN  
NQ/CP  
NQ/TW  
QCVN  
QĐ  
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam  
Khoa học công nghệ  
Nghị quyết chính phủ  
Nghị quyết trung ương  
Quy chuẩn Việt Nam  
Quyết định  
TCVN  
Tiêu chuẩn Việt Nam  
Thông tư  
TT  
TNHH  
UBND  
Trách nhiệm hữu hạn  
Ủy ban nhân dân  
v
MỤC LỤC  
vi  
5.2. Kiến nghị ……………………………………………………………….63  
1
PHẦN 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Đặt vấn đề  
Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu nói chung cùng với sự phát triển kinh  
tế - xã hội thì vấn đề môi trường ngày càng được quan tâm chú trọng, bởi lẽ  
môi trường có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới cuộc sống của con người,  
đây là một vấn đề lớn bởi vì nó không chỉ ảnh hưởng đến thế hệ hiện tại mà  
nó còn để lại những ảnh hưởng nặng nề cho thế hệ tương lai. Sự ô nhiễm, suy  
thoái và những sự cố môi trường diễn ra ngày càng ở mức độ cao, nguyên  
nhân trực tiếp là do hoạt động của con người tác động vào môi trường tự  
nhiên đặc biệt là hoạt động khai khoáng có những tác động tiêu cực tới môi  
trường sống của con người. Hoạt động khai thác khoáng sản ở nước ta hiện  
nay đang tăng trưởng cả về quy mô và việc áp dụng các công nghệ tiên tiến,  
góp phần quan trọng cho phát triển nền kinh tế đất nước. Tuy vậy hoạt động  
này đã và đang gây ra nhiều tác động tiêu cực đến môi trường xung quanh  
khu vực khai thác và chế biến, gây ảnh hưởng mạnh mẽ và lâu dài. Biểu hiện  
rõ nhất là việc khai thác và sử dụng thiếu hiệu quả các nguồn khoáng sản tự  
nhiên gây tác động xấu tới chất lượng môi trường đất, nước, không khí, cảnh  
quan sinh thái môi trường, làm ảnh hưởng tới nhu cầu sử dụng đất, nước, tiềm  
ẩn nguy cơ tích tụ hoặc phát tán chất thải ra ngoài môi trường. Những hoạt  
động này đang phá vỡ mức cân bằng sinh thái đã được hình thành từ hàng  
chục triệu năm gây ô nhiễm nặng nề đến môi trường, đã trở thành vấn đề cấp  
bách hàng đầu mang tính chính trị xã hội của một quốc gia.  
Trong những năm gần đây, nhu cầu về sử dụng đá làm vật liệu xây  
dựng trong cả nước nói chung và tỉnh Bắc Kạn nói riêng ngày càng gia tăng.  
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường, đồng thời đẩy mạnh sự  
phát triển kinh tế của huyện Bạch Thông nói riêng và tỉnh Bắc Kạn nói chung,  
     
2
UBND tỉnh Bắc Kạn cấp Giấy phép khai thác số 460/GP-UBN ngày 05 tháng  
4 năm 2013, cho phép Công ty Cổ phần tư vấn Đầu tư Phát triển Hạ tầng  
được phép khai thác đá vôi tại mỏ Nà Cà, xã Nguyên Phúc, huyện Bạch  
Thông, tỉnh Bắc Kạn kề từ tháng 3 năm 2013 đến tháng 8 năm 2039, với mục  
tiêu chính cung cấp nguồn nguyên liệu làm vật liệu xây dựng thông thường  
trên địa bàn huyện Bạch Thông và các huyện lân cận.  
Hoạt động khai thác đá vôi sẽ có những tác động tiêu cực tới môi  
trường trong đó có biến đổi trạng thái rừng, thay đổi cấu trúc bề mặt địa hình,  
hình thành các công trình cố định trên mặt bằng.  
Xuất phát từ những vấn đề về tình hình hiện trạng môi trường trên, em  
thực hiện đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng hoạt động khai thác đá vôi của mỏ  
đá Nà Cà tới môi trường xung quanh tại xã Nguyên Phúc, huyện Bạch  
Thông, tỉnh Bắc Kạn”.  
1.2. Mục đích  
- Tìm hiểu tình hình khai thác đá vôi của mỏ đá vôi Nà Cà tại xã  
Nguyên Phúc, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.  
- Đánh giá được các ảnh hưởng của hoạt động khai thác đá của mỏ đá  
Nà Cà tới môi trường xung quanh.  
- Đề xuất các biện pháp quản lí cho đơn vị khai thác cũng như việc sử  
dụng hợp lí nguồn tài nguyên này nhằm giảm thiểu tối đa các tác động xấu  
trong hoạt động khai thác của mỏ đá Nà Cà tới môi trường và con người.  
1.3. Ý nghĩa của đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học  
- Áp dụng kiến thức đã học tại trường vào thực tế  
- Nâng cao hiểu biết về kiến thức thực tế, bổ sung tài liệu cho học tập.  
- Tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường.  
     
3
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn  
- Đưa ra được các tác động đến môi trường của dự án mỏ Nà Cà tới môi  
trường xung quanh, để từ đó giúp cho đơn vị tổ chức khai thác có các biện  
pháp quản lí, ngăn ngừa, giảm thiểu các tác động xấu tới môi trường, cảnh  
quan và con người.  
- Tạo số liệu làm cơ sở cho công tác lập kế hoạch cho xây dựng chính  
sách về bảo vệ môi trường và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội.  
- Nâng cao nhận thức, tuyên truyền và giáo dục về bảo vệ môi trường  
cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khai khoáng.  
- Nâng cao chất lượng môi trường trên địa bàn.  
 
4
PHẦN 2  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU  
2.1. Cơ sở khoa học  
2.1.1. Cơ sở lý luận của đề tài  
2.1.1.1. Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến môi trường  
- Khái niệm môi trường:  
Theo khoản 1 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi trường Việt Nam năm 2014,  
môi trường được định nghĩa như sau: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật  
chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con  
người và sinhvật” [5].  
- Khái niệm ô nhiễm môi trường:  
Theo khoản 8 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi trương Việt Nam 2014: “Ô  
nhiễm môi trường là sự biến đổi của thành phần môi trường không phù hợp  
với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng  
xấu đến con người vàsinh vật” [5].  
- Hoạt động bảo vệ môi trường:  
Theo khoản 3 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi trường Việt Nam 2014: “Hoạt  
động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác  
động xấu đên môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy  
thoái, cải thiện,phục hổi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên  
thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành” [5].  
- Khái niệm tiêu chuẩn môi trường:  
“Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng  
môi trường xung quanh, hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải, các  
yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công  
bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường” [11].  
     
5
- Quy chuẩn kỹ thuật môi trường:  
Theo khoản 5 điều 3 Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2014:  
“Quy chuẩn kỹ thuật môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất  
lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất ô nhiễm có trong chất  
thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền  
ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc để bảo vệ môi trường” [5].  
- Ô nhiễm đất:  
“Ô nhiễm đất” Là sự làm biến đổi thành phần, tính chất của đất gây ra  
bởi nhiều yếu tố như hoạt động sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp,  
sinh hoạt hằng ngày của con người. Điển hình là hoạt động sản xuất nông  
nghiệp với những phương thức canh tác khác nhau và do thải bỏ không hợp lí  
các chất cặn bã rắn, rác thải công nghiệp, rác thải sinh hoạt. Nói cách khác “ô  
nhiễm đất” được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường đất  
bởi các chất ô nhiễm.  
Có thể phân loại đất bị ô nhiễm theo các nguồn gốc phát sinh hoặc theo  
các tác nhân gây ô nhiễm.  
* Dựa theo nguồn gốc phát sinh gồm có:  
Nguồn tự nhiên: Các hoạt động của núi lửa, ngập úng, đất bị mặn do  
xâm nhập của thủy triều, đất bị vùi lấp do cát lấp, cát bay do phân hủy sinh  
học của thực vật.  
Nguồn nhân tạo:  
+ Ô nhiễm đất do các chất thải sinh hoạt;  
+ Ô nhiễm đất do chất thải công nghiệp;  
+ Ô nhiễm đất do hoạt động nông nghiệp.  
* Dựa theo các tác nhân gây ô nhiễm gồm có:  
+ Ô nhiễm đất do các tác nhân hóa học: Bao gồm phân bón N, P (dư  
lượng phân bón trong đất), thuốc trừ sâu (clo hữu cơ, DDT, aldrin, photpho  
6
hữu cơ…) chất thải công nghiệp và sinh hoạt.  
+ Ô nhiễm đất do tác nhân sinh học: Trực khuẩn lỵ, thương hàn, các  
loại kí sinh trùng (giun, sán).  
+ Ô nhiễm đất do tác nhân vật lí: Nhiệt độ (ảnh hưởng đến tốc độ phân  
hủy chất thải của sinh vật), chất phóng xạ (Uran, thorin, Sr90, I131, Cs1370).  
Chất ô nhiễm đến với đất qua nhiều đầu vào, có thể từ trên trời rơi xuống, từ  
nước chảy vào, do con người trực tiếp đưa vào đất, đầy ra rất ít vì nhiều chất ô  
nhiễm sau khi ngấm vào đất sẽ lưu lại trong đất rất lâu ví dụ như một năm sau  
khi phun, DDT còn 80%, Lindan còn 60%, aldrin còn 20%, sau ba năm thì  
DDT còn 50%, aldrin còn 5%. Hiện tượng ô nhiễm đất khác với hiện tượng ô  
nhiễm nước sông, ở đây chỉ cần chất ô nhiễm ngừng xâm nhập thì khả năng tự  
vận động của không khí và nước sẽ làm sạch. Đất thì không có khả năng này,  
nếu thành phần chất ô nhiễm quá nhiều con người muốn khử ô nhiễm cho đất  
sẽ gặp nhiều khó khăn, tốn nhiều công sức và kinh phí.  
- Ô nhiễm nước  
“Ô nhiễm nước” là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý –  
hoá học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm  
cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật. Làm giảm độ đa  
dạng sinh vật trong nước. Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô  
nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất.  
Nguồn gốc gây ô nhiễm nước có thể là tự nhiên hay nhân tạo. Ô nhiễm  
nước có nguồn gốc tự nhiên như lũ lụt, mưa axit, mưa rơi kéo theo bụi thải  
của các khu công nghiệp, ngoài ra nước bị ô nhiễm còn phải kể đến sự có mặt  
của các xác thực vật chết. Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo chủ yếu là do  
hoạt động sinh hoạt của con người, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch  
vụ du lịch, giao thông vận tải…  
Các xu hướng chính thay đổi chất lượng chất lượng nước khi bị ô  
7
nhiễm là:  
+ Giảm độ pH của nước ngọt do ô nhiễm bởi H2SO4, HNO3 từ khí  
2-  
-
quyển, tăng hàm lượng SO4 và NO3 trong nước.  
2+  
+ Tăng hàm lượng các ion Ca2+, Mg2+, SiO3 trong nước ngầm và  
nướcsong do mưa, phong hóa các quặng cacbonat.  
+ Tăng hàm lượng các ion kim loại trong nước tự nhiên trước hết là  
Pb3+, Cd+, Hg2+, Zn2+, Al3+, Fe2+, Fe3+.  
+ Tăng hàm lượng các muối trong nước bề mặt và nước ngầm chúng đi  
vào môi trường nước cùng nước thải, từ khí quyển và từ chất thải rắn.  
+ Giảm lượng oxy hòa tan trong nước, giảm độ trong của nước.  
+ Tăng hàm lượng các chất hữu cơ, trước hết là các chất khó bị phân hủy  
bằng con đường sinh học (các chất hoạt động bề mặt và thuốc trừ sâu) [7].  
- Ô nhiễm không khí  
Ô nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan  
trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra  
sự toả mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa (do bụi)".  
Có rất nhiều nguồn gây ô nhiễm không khí. Có thể chia ra thành nguồn  
tự nhiên và nguồn nhân tạo.  
+ Nguồn tự nhiên:  
Núi lửa: Núi lửa phun ra những nham thạch nóng và nhiều khói bụi  
giàu sunfua, mêtan và những loại khí khác. Không khí chứa bụi lan toả đi rất  
xa vì nó được phun lên rất cao.  
Cháy rừng: Các đám cháy rừng và đồng cỏ bởi các quá trình tự nhiên  
xảy ra do sấm chớp, cọ sát giữa thảm thực vật khô như tre, cỏ. Các đám cháy  
này thường lan truyền rộng, phát thải nhiều bụi và khí.  
Bão bụi gây nên do gió mạnh và bão, mưa bào mòn đất sa mạc, đất  
trồng và gió thổi tung lên thành bụi. Nước biển bốc hơi và cùng với sóng biển  
8
tung bọt mang theo bụi muối lan truyền vào không khí.  
Các quá trình phân huỷ, thối rữa xác động, thực vật tự nhiên cũng phát  
thải nhiều chất khí, các phản ứng hoá học giữa những khí tự nhiên hình thành  
các khí sunfua, nitrit, các loại muối v.v... Các loại bụi, khí này đều gây ô  
nhiễm không khí.  
+ Nguồn nhân tạo:  
Nguồn gây ô nhiễm nhân tạo rất đa dạng, nhưng chủ yếu là do hoạt  
động công nghiệp, đốt cháy nhiên liệu hoá thạch và hoạt động của các phương  
tiện giao thông. Nguồn ô nhiễm công nghiệp do hai quá trình sản xuất gây ra:  
Quá trình đốt nhiên liệu thải ra rất nhiều khí độc đi qua các ống khói của các  
nhà máy vào không khí.  
Do bốc hơi, rò rỉ, thất thoát trên dây chuyền sản xuất sản phẩm và trên  
các đường ống dẫn tải. Nguồn thải của quá trình sản xuất này cũng có thể  
được hút và thổi ra ngoài bằng hệ thống thông gió.  
Các ngành công nghiệp chủ yếu gây ô nhiễm không khí bao gồm: Nhiệt  
điện; vật liệu xây dựng; hoá chất và phân bón; dệt và giấy; luyện kim; thực  
phẩm; Các xí nghiệp cơ khí; Các nhà máy thuộc ngành công nghiệp nhẹ; Giao  
thông vận tải bên cạnh đó phải kể đến sinh hoạt của con người.  
2.1.1.2. Một số khái niệm liên quan đến khai thác đá vôi  
* Đá vôi  
Là một loại đá trầm tích, về thành phần hóa học chủ yếu là khoáng  
vật canxit và aragonit (các dạng kết tinh khác nhau của cacbonat canxi  
CaCO3). Đá vôi ít khi ở dạng tinh khiết, mà thường bị lẫn các tạp chất như đá  
phiến silic, silica và đá mác ma cũng như đất sét, bùn, cát, bitum... nên nó có  
màu sắc từ trắng đến màu tro, xanh nhạt, vàng và cả màu hồng sẫm, màu đen.  
Đá vôi có độ cứng 3, khối lượng riêng 2.600 ÷ 2.800 kg/m3, cường độ chịu  
nén 1700 ÷ 2600 kg/cm2, độ hút nước 0,2 ÷ 0,5% [9].  
9
* Công nghệ khai thác mỏ  
Công nghệ khai thác mỏ chủ yếu là khai thác mỏ lộ thiên. Phương pháp  
khai thác chủ yếu nghiêng, cắt tầng nhỏ, gạt chuyển trực tiếp từ tầng mặt xuống  
tầng mặt bằng chân tuyến sau đó xúc chuyển đến trạm nghiền phân loại.  
2.1.2. Cơ sở pháp lý  
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 được Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã  
Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa 13 kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 23/06/2014  
và có hiệu lực thi hành 01/01/2015.  
- Luật Đất đai 2013, Luật số 45/2013/QH13.  
- Luật khoáng sản năm số 60/2010/QH12 được Quốc hội nước  
CHXHCNVN Khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 17/11/2010.  
- Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ quy định  
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường;  
- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản  
lý chất thải và phế liệu;  
- Nghị định số 154/2016/NĐ-CP ngày 16/11/2016 của Chính phủ về phí  
bảo vệ môi trường đối với nước thải;  
- Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy  
định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;  
- Nghị định số 158/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 của Chính phủ Quy  
định chi tiết thi hành một số điều của Luật khoáng sản;  
- Thông tư số 26/2016/TT-BCT ngày 30/11/2016 của Bộ Công thương  
Quy định về nội dung lập, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư xây dựng,  
thiết kế xây dựng và dự toán xây dựng công trình mỏ khoáng sản;  
 
10  
- Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/06/2015 của Bộ Tài  
nguyên và Môi trường Về quản lý chất thải nguy hại;  
- Thông tư số 09/2018/TT-BTNMT ngày 14 tháng 9 năm 2018 của Bộ Tài  
Nguyên Môi Trường về việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường.  
- QCVN 05:2013/BTNMT: Tiêu chuẩn chất lượng không khí xung quanh.  
- QCVN 19:2009/BTNMT: Tiêu chuẩn khí thải công nghiệp đối với  
bụi và các chất vô cơ.  
- TCVN 6438: 2005: Giới hạn lớn nhất cho phép của khí thải – phương  
tiện giao thông đường bộ.  
- QCVN 26:2010: Quy định độ ồn cho phép và độ ồn tối đa tại khu vực  
cộng đồng, dân cư.  
- QCVN 27:2010/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về độ rung do  
bộ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường ban hành.  
- QCVN 08:2015/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng  
nước mặt.  
- QCVN 09:2015/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng  
nước ngầm.  
- QCVN 40:2011/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nước thải  
công nghiệp.  
- QCVN 14:2015/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải  
sinh hoạt.  
- QCVN 03:2015/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn  
cho phép của kim loại nặng trong đất.  
2.2. Tình hình khai thác đá trên Thế giới và Việt Nam  
2.2.1. Tình hình khai thác và chế biến đá vôi trên Thế giới  
2.2.1.1. Hoạt động khai thác đá trên thế giới  
Trên thế giới có Mỹ, Canada, Châu Âu, Châu Á là những nơi sản xuất  
   
11  
và tiêu thụ bột nhẹ làm từ đá vôi lớn nhất.  
Chất độn khoáng trong sản phẩm giấy gồm canxi cacbonat nghiền mịn,  
bột nhẹ, cao lanh và titan dioxyt. Canxi cacbonat tự nhiên chất lượng cao  
không dễ kiếm ở Bắc Mỹ. Do đó sản lượng sản xuất bột nhẹ tăng lên rất mạnh  
trên thị trường chất độn của ngành giấy ở Bắc Mỹ. Một lý do khác cũng làm  
tăng nhu cầu bột nhẹ trong công nghiệp sản xuất bột giấy là việc sử dụng giấy  
tái sinh. Sợi giấy tái sinh ngắn hơn và mềm hơn nên độ trắng kém hơn sợi ban  
đầu, vì vậy đòi hỏi một lượng lớn hơn các chất độn có độ trắng cao để nâng  
độ trắng của giấy lên.  
Mức độ độn của các khoáng trong bột giấy có thể lên đến 50%. Công  
thức độn của Bắc Mỹ là 80% cao lanh, 20% CaCO3. Hiện nay đang chuyển  
dần sang công thức là 40% cao lanh và 60% bột nhẹ.  
Ngoài nhu cầu bột nhẹ trong sản xuất giấy còn có nhu cầu bột nhẹ trong  
sản xuất cao su, chất dẻo, sơn, dược phẩm v.v...  
Tổng sản lượng bột nhẹ ở Bắc Mỹ là 600.000 tấn/năm. Các công ty sản  
xuất bột nhẹ hàng đầu ở Bắc Mỹ là Plizer Inc và ECC international Inc. Plizer  
có 25 cơ sở sản xuất bột nhẹ trên toàn nước Mỹ. Các cơ sở sản xuất bột nhẹ  
này nằm trong khu vực sản xuất giấy. Bột nhẹ dạng huyền phù được vận  
chuyển theo đường ống sang cơ sở nghiền bột giấy. Đến cuối năm 1992 Plizer  
có tổng số cơ sở sản xuất bột nhẹ lên đến 32 cơ sở.  
Anh quốc có 3 công ty sản xuất bột nhẹ là ICI, PLC, Rhon-Poulenc và  
một công ty nhỏ hơn là WR.Luscombe Ltd.  
ICI sản xuất bột nhẹ chủ yếu dùng làm chất độn cho công nghiệp cao  
su, keo gắn, keo trát. Sản phẩm của hãng 60% cung cấp cho Châu Âu.  
Nhà máy bột nhẹ đầu tiên được Rhon-Poulenc khánh thành vào năm  
1991. Nhà máy được thiết kế hoàn toàn tự động và có công suất 30.000  
tấn/năm. Sản phẩm bột nhẹ của Rhon-Poulenc cung cấp cho ngành công  
12  
nghiệp sản xuất kem đánh răng, giấy, keo gắn, keo trát, sơn, dược phẩm và  
mỹ phẩm [9].  
Công ty WR.Lurcombe Ltd. có trụ sở ở London, công ty này chỉ sản  
xuất bột nhẹ với công suất 1.000 tấn/năm do khai thác các sản phẩm phụ  
trong công nghiệp làm mềm nước.  
Công ty Fax Kalk của Đan mạch hiện được xem là công ty cung cấp  
bột nhẹ lớn nhất Châu Âu. Nhà máy sản xuất bột nhẹ đầu tiên của Fax Falk là  
nhà máy Lesebo đặt tại Thuỵ Điển với công suất 6.000 tấn/năm. Nhà máy sản  
xuất bột nhẹ thứ hai được đặt tại Nymola (Thuỵ điển). Sản phấm bột nhẹ  
củanhà máy này được ký hiệu PCC95. Sản phẩm của nó cung cấp cho tập  
đoàn làm giấy Stora, đây là tập đoàn sản xuất giấy và bột giấy lớn nhất Châu  
Âu.Phần Lan cũng là một nước cung cấp bột nhẹ quan trọng ở Châu Âu.Tổng  
công suất của tập đoàn Partek là 60.000 tấn/năm.  
Ở khu vực Châu Á thì chỉ hai nước Trung Quốc và Nhật Bản đã vượt  
xa các khu vực khác về tổng sản lượng bột nhẹ. Năm 1992 sản lượng bột nhẹ  
của Trung Quốc đạt tới 550.000 tấn.Trong đó nhu cầu thị trường trong nước  
là 512.000 tấn.  
Ở Nhật Bản người ta sản xuất 2 loại bột nhẹ chính. Một loại là light  
PCC và loại cloidal PCC. Cũng như các khu vực khác nhu cầu bột nhẹ cho  
ngành giấy là cao nhất, sau đó là các ngành sơn, chất dẻo, cao su v.v...những  
hậu quả nặng nề của hoạt động khai thác đá để lại, trong đó đáng nói đến  
nhiều nhất là vấn đề ô nhiễm môi trường.  
Hoạt động khai thác đá trên thế giới ngày càng phát triển mạnh đem lại  
lợi ích kinh tế khá cao, tạo công ăn việc làm cho rất nhiều người trên toàn thế  
giới. Tuy nhiên, bên cạnh lợi ích mà hoạt động khai thác đá đem lại thì hoạt  
động khai thác đá đã và đang gây ra những hậu quả nặng nề làm ô nhiễm môi  
trường ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân. Quá trình nổ mìn, khoan cắt và  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 67 trang yennguyen 15080 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá ảnh hưởng hoạt động khai thác đá vôi của mỏ đá Nà Cà tới môi trường xung quanh tại xã Nguyên Phúc, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_danh_gia_anh_huong_hoat_dong_khai_thac_da_voi_cua.pdf