Khảo sát tình trạng nhiễm giáp xác chân tơ Octolasmis warwickii ngoại ký sinh trên ghẹ xanh Portunus pelagicus ở vùng biển Khánh Hòa và Phú Yên

Nghiên cứu khoa học công nghệ  
KHẢO SÁT TÌNH TRẠNG NHIỄM GIÁP XÁC CHÂN TƠ  
Octolasmis warwickii NGOẠI KÝ SINH TRÊN GHẸ XANH  
Portunus pelagicus Ở VÙNG BIỂN KHÁNH HÒA VÀ PHÚ YÊN  
LÊ THỊ KIỀU OANH (1), ĐẶNG THÚY BÌNH (2), TRẦN QUANG SÁNG (2)  
1. MỞ ĐẦU  
Ghẹ xanh Portunus pelagicus (Linnaeus, 1758) phân bố chủ yếu ở vùng biển  
Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương và Địa Trung Hải [6]. Đây là loài hải sản có giá trị  
dinh dưỡng và tính thương mại cao [4]. Chúng còn là đối tượng nuôi lý tưởng với sự  
phát triển nhanh, thích nghi tốt [13]. Ở Việt Nam, ghẹ xanh có mặt ở khắp các vùng  
biển ven bờ đến hải đảo và được nuôi ở một số vùng như Quảng Ninh, Hải Phòng,  
Nam Định và Đồng bằng sông Cửu Long [3].  
Octolasmis warwickii là loài đầu tiên thuộc giống Octolasmis [8]. Chúng được  
phát hiện ký sinh trên nhiều loài giáp xác mười chân, rắn, sam biển… ở các vùng  
biển khác nhau như Singapore [9], Thái Lan [10], Malaysia [15], Ấn Độ, Australia  
[7]. O. warwickii ký sinh trên phần vỏ cứng như: Mai, càng, các chân bò, chân bơi  
và phần miệng của vật chủ và sẽ bị loại bỏ khi vật chủ lột xác [7]. Tuy nhiên, khi  
chúng xuất hiện với số lượng lớn sẽ gây khó khăn cho quá trình di chuyển, vận động  
và có thể dẫn đến tử vong ở vật chủ [15].  
Tại Việt Nam, đã có một vài báo cáo đề cập đến loài Octolasmis warwickii ký  
sinh trên ghẹ xanh ở vùng biển Khánh Hòa. Trong đó, nghiên cứu của Lê Văn Yên  
về các bệnh phổ biển trên một số loài cua ghẹ đã ghi nhận hiện tượng ghẹ xanh bị  
nhiễm O. warwickii [1]. Tiếp đó, nghiên cứu của Phạm Nguyễn Hậu đã bổ sung  
thêm những số liệu về tỷ lệ nhiễm, mật độ nhiễm loài ngoại ký sinh này [2].  
Việc bổ sung thêm dẫn liệu về Octolasmis ký sinh trên ghẹ xanh tại Việt Nam,  
nhằm góp phần cho việc xác định và hạn chế các tác hại do giáp xác chân tơ ký sinh  
gây ra trong quá trình nuôi ghẹ xanh là cần thiết. Bài báo này trình bày tình trạng  
nhiễm O. warwickii trên ghẹ xanh ở Khánh Hòa và Phú Yên thông qua số liệu về tỷ  
lệ và mật độ nhiễm. Đồng thời, sử dụng các phép thống kê để so sánh mức độ nhiễm  
giữa hai khu vực nghiên cứu, giữa ghẹ đực và ghẹ cái, giữa ghẹ thuộc các nhóm kích  
thước khác nhau.  
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu  
Loài ghẹ xanh Portunus pelagicus (Linnaeus, 1758) và giáp xác chân tơ  
O. warwickii (Gray, 1825) ngoại ký sinh trên ghẹ xanh ở vùng biển Khánh Hòa và  
Phú Yên.  
34  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 15, 6 - 2018  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
2.2. Thu và xử lý mẫu ghẹ xanh  
Ghẹ xanh được mua trực tiếp từ những ngư dân đánh bắt ở vùng biển Khánh  
Hòa và Phú Yên từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 3 năm 2016. Ghẹ được giữ trong  
xô đựng nước biển sạch có sục khí khi vận chuyển và lưu giữ tại phòng thí nghiệm.  
Giới tính và kích thước (chiều rộng mai) của ghẹ được xác định theo phương  
pháp của Lai [12]. Số lượng và kích thước trung bình (mm) của ghẹ ở từng khu vực  
nghiên cứu được thể hiện ở bảng 1.  
Bảng 1. Số lượng và kích thước trung bình của ghẹ xanh  
(Portunus pelagicus) tại Khánh Hòa và Phú Yên  
Số lượng  
Kích thước (mm)  
(Giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn)  
Giới tính  
ghẹ  
Khánh Hòa  
Phú Yên  
Ghẹ đực  
Ghẹ cái  
Tổng  
35  
55  
90  
45  
45  
90  
100,4 ± 14,7  
101,3 ± 1,43  
100,7 ± 14,7  
Tổng số 180 cá thể ghẹ (80 ghẹ đực và 100 ghẹ cái) có kích thước dao động  
trong khoảng 70 ÷151 mm. Để khảo sát tình trạng nhiễm ký sinh theo kích thước vật  
chủ, ghẹ xanh được chia thành 9 nhóm kích thước bao gồm: < 80 mm, 80÷84 mm,  
85÷89 mm, 90÷94 mm, 95÷99 mm, 100÷104 mm, 105÷109 mm, 110÷114 mm và  
nhóm ≥ 115 mm. Mỗi nhóm kích thước đều được phân biệt theo giới tính ghẹ.  
2.3. Thu và định loại O. warwickii  
Quan sát toàn bộ mặt ngoài của cơ thể ghẹ, sau đó lần lượt tách riêng các bộ  
phận: Càng, yếm, mai, mắt, râu, phần miệng, chân bò và chân bơi, cho vào các đĩa  
petri có chứa nước biển, sử dụng kính lúp và kính soi nổi để tiếp tục kiểm tra giáp  
xác chân tơ ký sinh. Khi phát hiện O. warwickii, dùng nhíp tách chúng ra khỏi vật  
chủ, đặt trong đĩa petri có nước biển, đếm và ghi nhận vị trí ký sinh.  
Giáp xác chân tơ O. warwickii được phân loại theo Gray[8] và Jefferey[10]  
dựa theo đặc điểm như hình dạng và kích thước cơ thể, hình dạng, kích thước và vị  
trí của các phiến canxi ở phần đầu.  
2.4. Xử lý số liệu  
Tỷ lệ nhiễm và mật độ nhiễm ký sinh trùng loài O. warwickii được xác định  
theo Bush [5].  
ꢁ
( )  
Tỷ lệ nhiễm: ꢀ % = 100% ∗  
ꢂ
ꢄ
Mật độ nhiễm: ꢃ = ꢁ  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 15, 6 - 2018  
35  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Trong đó:  
P: Tỷ lệ ghẹ xanh bị nhiễm O. warwickii, tính bằng đơn vị %.  
I: Mật độ nhiễm O. warwickii của các cá thể ghẹ bị nhiễm.  
X: Số cá thể ghẹ bị nhiễm O. warwickii.  
N: Tổng số cá thể ghẹ được nghiên cứu.  
S: Tổng số cá thể O. warwickii trên ghẹ bị nhiễm.  
Số liệu được xử lý dựa vào các phép kiểm định phi tham số [16] bằng phần  
mềm SPSS (20) và Microsoft Excel (2013). Trong đó, kiểm định Chi bình phương  
được sử dụng để so sánh tỷ lệ nhiễm O. warwickii trên ghẹ xanh giữa hai khu vực  
nghiên cứu, giữa ghẹ đực và ghẹ cái, giữa ghẹ thuộc các nhóm kích thước khác  
nhau. Mật độ nhiễm O. warwickii trên ghẹ xanh giữa hai khu vực nghiên cứu và  
giữa ghẹ đực với ghẹ cái được so sánh dựa trên kiểm định Mann - Whitney. So sánh  
mật độ nhiễm O. warwickii trên ghẹ xanh thuộc các nhóm kích thước khác nhau sử  
dụng kiểm định Kruskal - Wallis. Mối tương quan giữa kích thước ghẹ xanh với tỷ  
lệ nhiễm và mật độ nhiễm được xác định bằng phương pháp Spearman’s correlation.  
Các số liệu thống kê được xử lý, mức độ ý nghĩa P ≤ 0,05.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Tình trạng nhiễm O. warwickii trên ghẹ xanh  
Trong số 180 cá thể ghẹ được nghiên cứu, 39 cá thể nhiễm O. warwickii. Tổng  
số 1.189 cá thể O. warwickii được phát hiện với số lượng dao động từ 1÷42 cá  
thể/vật chủ. Tỷ lệ nhiễm và mật độ nhiễm tương ứng là 21,67 % và 30,5 ± 36,94. O.  
warwickii bám đơn lẻ hoặc thành chùm trên phần vỏ cứng bên ngoài của ghẹ bao  
gồm: Mai (trên cả mặt lưng và mặt bụng), các chân, càng, râu, mắt, yếm và phần  
miệng của ghẹ. Vị trí bám của O. warwickii trên ghẹ được thể hiện ở hình 1.  
Hình 1. O. warwickii ký sinh trên ghẹ xanh Portunus pelagicus  
Mai (A), mắt (B) và chân (C). Thang đo tương ứng 1 cm  
36  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 15, 6 - 2018  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
3.2. Mức độ nhiễm O. warwickii trên ghẹ xanh ở hai vùng biển Khánh Hòa  
và Phú Yên  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ nhiễm O. warwickii trên ghẹ xanh ở Khánh  
Hòa và Phú Yên lần lượt là 21,1 % và 22,2 % và mật độ nhiễm tương tứng là 21,8±24,4  
và 38,7 ± 45 (bảng 2). Xử lý thống kê cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa  
giữa hai khu vực nghiên cứu về tỷ lệ (χ2 = 0,033; df = 1; P = 0,856) và mật độ nhiễm  
(Mann-Whitney, U = 144; P = 0,196). Sự gần nhau về vị trí địa lý cũng như tương  
đồng về đặc điểm khí hậu giữa hai tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên có thể là nguyên  
nhân của những khác biệt không đáng kể nêu trên. Theo Phạm Nguyễn Hậu [2], tỷ lệ  
ghẹ nhiễm O. warwickii (39%) cao hơn trong khi mật độ nhiễm (17,26) thấp hơn so  
với số liệu trong nghiên cứu này.  
Bảng 2. Tỷ lệ nhiễm và mật độ nhiễm của O. warwickii trên ghẹ xanh  
tại Khánh Hòa và Phú Yên  
Số ghẹ  
Số cá thể  
Tỷ lệ  
Vùng phân bố  
Mật độ nhiễm  
kiểm tra O. warwickii nhiễm (%)  
Khánh Hòa  
Phú Yên  
90  
90  
415  
774  
21,1a  
22,2a  
21,8x ± 24,4  
38,7x ± 45  
Ghi chú: Các giá trị trong cùng một cột có ký tự chữ giống nhau thể hiện sự  
khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05).  
3.3. Mức độ nhiễm O. warwickii theo giới tính ghẹ xanh  
Trong tổng số 80 ghẹ đực ghi nhận 10 cá thể nhiễm O. warwickii và 100 ghẹ  
cái có 29 cá thể nhiễm. Tỷ lệ nhiễm O. warwickii ở ghẹ đực (12,5%) thấp hơn ghẹ  
cái (29%) có ý nghĩa thống kê (χ2 = 7,129; df = 1; P = 0,008). Trong khi đó, mật độ  
nhiễm giữa ghẹ đực và ghẹ cái không có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê (Mann-  
Whitney, U = 85,5; P = 0,055) (bảng 3). Kết quả nghiên cứu này phù hợp với nghiên  
cứu của Phạm Nguyễn Hậu [2].  
Bảng 3. Tỷ lệ và mật độ nhiễm của O. warwickii trên ghẹ xanh đực và cái  
Mật độ nhiễm  
(ký sinh trùng/vật  
chủ nhiễm)  
Số ghẹ  
Số cá thể  
Tỷ lệ  
Giới tính  
kiểm tra O. warwickii nhiễm (%)  
Ghẹ đực  
Ghẹ cái  
80  
100  
12,5a  
29b  
10x ± 11  
100  
1089  
37,6x ± 40,2  
Ghi chú: Các giá trị trong cùng một cột có ký tự chữ giống nhau thể hiện sự  
khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05).  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 15, 6 - 2018  
37  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Trong báo cáo về sự sinh trưởng của ghẹ xanh Portunus pelagicus trong các  
bể nuôi cho thấy ghẹ lột vỏ tối đa 16 lần. Trung bình ghẹ đực cần 272 ngày từ lần lột  
vỏ thứ nhất đến lần thứ 16. Đối với ghẹ cái, con số này tăng lên 332 ngày [11]. Theo  
nhận định của nhóm tác giả, thời gian giữa các lần thay vỏ của ghẹ cái dài hơn ghẹ  
đực có thể làm tăng thêm cơ hội cho các ấu trùng giáp xác chân tơ bám và phát triển  
trên phần vỏ ngoài của ghẹ, là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ nhiễm O. warwickii ở ghẹ  
cái cao hơn ghẹ đực. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu để làm rõ vấn đề này.  
3.4. Mối tương quan giữa mức độ nhiễm O. warwickii với kích thước vật chủ  
Bảng 4. Tỷ lệ và mật độ nhiễm của O. warwickii trên ghẹ xanh  
ở các nhóm kích thước khác nhau  
Ghẹ đực  
Tỷ lệ  
Ghẹ cái  
Tỷ lệ  
Kích thước  
Số  
ghẹ nhiễm (%)  
Mật độ  
nhiễm  
Số  
ghẹ nhiễm (%)  
Mật độ  
nhiễm  
(mm)  
< 80  
80÷84  
5
4
7
9
0
0
0
0
0
11,1  
0
40  
0
85÷89  
10  
5
10  
6
5
0
90÷94  
40  
6 ± 4  
11  
15  
9
18,2  
26,7  
44,4  
33,3  
26,7  
58,8  
7 ± 4  
95÷99  
19  
10  
8
15,8  
0
6,7 ± 5,9  
33,5 ± 38,3  
24,8 ± 25  
13,3 ± 13,3  
47 ± 32,3  
56,1 ± 48,1  
100÷104  
105÷109  
110÷114  
≥ 115  
0
10  
4
12,5  
25  
12  
15  
8
11  
27,3  
17,3 ± 15,4 17  
Kết quả bảng 4 cho thấy không ghi nhận được trường hợp nào trong nhóm  
ghẹ < 80 mm (cả ghẹ đực và ghẹ cái) bị nhiễm O. warwickii. Kích thước thành thục  
sinh dục nhỏ nhất ở ghẹ đực là 81 mm và ghẹ cái là 79 mm [14]. Như vậy có khả  
năng ghẹ đang trong thời kỳ sinh trưởng và lột xác, chưa tham gia sinh sản nên ít bị  
nhiễm ngoại ký sinh.  
Số liệu xử lý thống kê đã cho thấy đối với ghẹ đực không có sự phụ thuộc giữa  
tỷ lệ nhiễm ngoại ký sinh O. warwickii với kích thước vật chủ (χ2 = 7,975; df = 8;  
P = 0,436). Ngược lại với ghẹ cái có mối liên hệ giữa hai thông số này (χ2 = 15,5;  
df = 8; P = 0,050). Mối tương quan dương ở mức độ lớn (Spearman correlation test,  
rs = 0,882; N = 9; P = 0,002) thể hiện khi kích thước ghẹ cái càng lớn, tỷ lệ nhiễm  
O. warwickii càng cao.  
38  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 15, 6 - 2018  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Đối với mật độ nhiễm, ở ghẹ đực không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê  
giữa các nhóm kích thước (H = 7,684; df = 8; P = 0,465), trong khi đó sự khác biệt  
này đã được ghi nhận ở ghẹ cái (H = 16,531; df = 8; P = 0,035). Mối tương quan giữa  
kích thước ghẹ cái với mật độ nhiễm là tương quan dương ở mức độ lớn (Spearman  
correlation test, rs = 0,669; N = 9; P = 0,049).  
Trong quá trình sinh trưởng của ghẹ xanh, kích thước (chiều rộng mai) càng  
lớn, thời gian giữa các lần lột xác càng dài [11]. Do vậy có thể làm tăng cơ hội cho  
ấu trùng ký sinh bám và phát triển trên vật chủ, đó là nguyên nhân của mối tương  
quan dương giữa kích thước ghẹ với tỷ lệ nhiễm, mật độ nhiễm O. warwickii ở ghẹ  
cái. Tuy nhiên, xu hướng này lại không được quan sát thấy ở ghẹ đực. Ngoài thời  
gian giữa các lần lột xác, tập tính sống đặc biệt là các tập tính khi sinh sản của ghẹ  
theo từng giới tính cũng có thể có những ảnh hưởng nhất định đến khả năng lây  
nhiễm ký sinh trùng. Cần có những nghiên cứu sâu hơn để giải thích vì sao không có  
những mối tương quan tương tự ở ghẹ đực.  
4. KẾT LUẬN  
- Không ghi nhận thấy sự khác biệt về tình trạng nhiễm giáp xác chân tơ ngoại  
ký sinh O. warwickii ở ghẹ xanh tại hai vùng biển Khánh Hòa và Phú Yên.  
- Tỷ lệ nhiễm O. warwickii ở ghẹ cái cao hơn ghẹ đực nhưng mật độ nhiễm  
không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.  
- Không ghi nhận được sự lây nhiễm O. warwickii ở nhóm ghẹ có kích thước  
nhỏ hơn 80mm. Kết quả xử lý thống kê cho thấy, có mối tương quan dương giữa  
kích thước của ghẹ cái với tỷ lệ nhiễm (rs = 0,882) và mật độ nhiễm (rs = 0,669).  
Trong khi đó, ghẹ đực không xác định được mối tương quan tương tự.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1.  
2.  
3.  
Lê Văn Yên, Nghiên cứu một số bệnh thường gặp trên các loại cua nuôi phổ  
biến và ghẹ Portunus pelagicus, các biện pháp phòng trị, Báo cáo đề tài cấp  
bộ, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III, 2006.  
Phạm Nguyễn Hậu, Nghiên cứu ký sinh trùng trên ghẹ xanh (Portunus  
pelagicus Linnaeus, 1766) tự nhiên ở vùng biển Nha Trang - Khánh Hòa,  
Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ trường Đại học Nha Trang, 2012.  
Võ Thế Dũng, Glenn Allan Bristow, Phạm Nguyễn Hậu, Nguyễn Thị Hồng  
Tuyên, Một số ký sinh trùng ký sinh ở Ghẹ xanh (Portunus pelagicus Linaeus,  
1766) đánh bắt tại vùng biển Khánh Hòa, Tạp chí Khoa học Công nghệ Thủy  
Sản - Trường Đại học Nha Trang, 2013, 3:11-15.  
4.  
Alsaqabi S. M., Eshky A. A., Albelali A. S. Parasitic infections in the blue  
crab swimmer Portunus pelagicus(Linnaeus, 1758), (Arthropoda: crustacea)  
found in the Arabian Gulf (Kingdon of Saudi Arabia), Reach paper, 2010,  
28(3):185-186.  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 15, 6 - 2018  
39  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
5.  
Bush A. O., Lafferty K. D., Lotz J. M., Shostak A. W, Parasitology meets  
ecology on its own terms: Margolis et al. revisited, Journal of Parasitology,  
1997, 83(4):575-583.  
6.  
7.  
Fisheries and Aquaculture Department - FAO, Portunus pelagicus, 2014, p.  
65-67.  
Fransen C. H. J. M., Macrophthalmus (Macrophthalmus) ceratophorus Sakai,  
1969 (Crustacea: Decapoda: Brachyura: Ocypodidae) recorded from the  
Amirante Islands, western Indian Ocean, Commemorative volume for the 80th  
birthday of Willem Vervoort, 1998, p.341-348.  
8.  
9.  
Gray J. E, Synopsis of the Genera of Cirripedcs arranged in Natural Famines,  
with a Description of some new species. Philosophy, 1825, p.94-100.  
Jeffries W. B., Voris H. K., Chang M. Y., Diversity and distribution of the  
pedunculate barnacle Octolasmis in the seas adjacent to Singapore, J.  
Crustac. Biol., 1982, 2(4):562-569.  
10. Jeffries W. B., Voris H. K., Naiyanetr P., Panha S., Pedunculate Barnacles of  
the Symbiotic Genus Octolasmis (Cirripediaꢀ: Thoracicaꢀ: Poecilasmatidae)  
from the Northern Gulf of Thailand, The Natural History Journal of  
Chulalongkorn University, 2005, 5:9-13.  
11. Josileen J., Menon N. G., Growth of the blue swimmer crab, Portunus  
pelagicus in captivity, The Natural History Journal of Chulalongkorn  
University, 2005, 78(1):1-18.  
12. Lai J. C. Y., Ng P. K. L., Davie P. J. F., A revision of the Portunus pelagicus  
(Linnaeus, 1758) species complex (Crustacea: Brachyura: Portunidae), with  
the recognition of four species, The rafles bulletin of zoology, 2010,  
58(2):199-237.  
13. Romano N., Zeng C., Ontogenetic changes in tolerance to acute ammonia  
exposure and associated gill histological alterations during early juvenile  
development of the blue swimmer crab, Portunus pelagicus, Aquaculture,  
2007, 266(4):246-254.  
14. Sheilds J. D., Wood F. E. I., Impact of parasites on the reproduction and  
fecundity of the blue sand crab Portunus pelagicus from Moreton Bay,  
Australia, Marine ecology progress series, 1993, 92:159-170.  
15. Tan A. N., Christianus A., Satar M. K. A., Epibiont Infestation on Horseshoe  
Crab Tachypleus gigas (Müller) at Pantai Balok in Peninsular Malaysia, Our  
Nature., 2011, 9:9-15.  
16. Zar J. H., Biostatistical analysis, Prentice Hall, New Jersey, 1996, 662 p.  
40  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 15, 6 - 2018  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
SUMMARY  
INFESTARION STATUS OF EPIZOIC BARNACLE  
Octolasmis warwickii ON BLUE SWIMMING CRAB Portunus pelagicus  
AT KHANH HOA AND PHU YEN PROVINCES  
The blue swimming crab, Portunus pelagicus (Linnaeus, 1758), is an  
economically important species. The presentation of epizoic pedunculate barnacles  
Octolasmis warwickii may cause difficulties for the growth and development of the  
host. In this article, we present the infestation status of O. warwickii on Portunus  
pelagicus in different studied areas, males and females and size-groups of crabs. A  
total of 180 individuals of Portunus pelagicus were examined (90 individuals in  
Khanh Hoa and 90 individual in Phu Yen included 100 females and 80 males). The  
results show that the infestation status of O. warwickii on Portunus pelagicus was  
not significant different between Khanh Hoa and Phu Yen. The prevalence of  
infestation in female crabs (29%) was significantly higher than in males (12.5%).  
The infestation varies between size groups; no infection was detected in < 80 mm  
crabs (both males and females); in female crabs, there was strong positive correlation  
between the size groups with prevalence (rs = 0.882) and mean intensity (rs = 0.669),  
while no correlation was observed between male size groups.  
Keywords: Blue swimming crab, Portunus pelagicus, Octolasmis warwickii,  
pedunculate, prevalence, mean intensity, Ghẹ xanh, giáp xác chân tơ, tỷ lệ nhiễm,  
mật độ nhiễm.  
Nhận bài ngày 06 tháng 02 năm 2017  
Phản biện xong ngày 07 tháng 5 năm 2018  
Hoàn thiện ngày 16 tháng 5 năm 2018  
(1) Chi nhánh Ven Biển, Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga  
(2) Viện Công nghệ sinh học và Môi trường, Đại học Nha Trang  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 15, 6 - 2018  
41  
pdf 8 trang yennguyen 15380 Free
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát tình trạng nhiễm giáp xác chân tơ Octolasmis warwickii ngoại ký sinh trên ghẹ xanh Portunus pelagicus ở vùng biển Khánh Hòa và Phú Yên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_tinh_trang_nhiem_giap_xac_chan_to_octolasmis_warwic.pdf