Eating habits associated with overweight and obesity: A case-control study of 11-14 year-old adolescents in Hanoi

VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 1 (2021) 90-101  
Original Article  
Eating Habits Associated with Overweight and Obesity:  
A Case-control Study of 11-14 Year-old Adolescents in Hanoi  
Nguyen Thi Hong Hanh1,*, Than Thi Thu Hang2, Pham Hoang Lam2,  
Duong Nam Khanh2, Do Hoang Ngoc Ha2  
1Hanoi National University of Education, 136, Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam  
2Nguyen Gia Thieu High School, 27 Ngoc Lam, Long Bien, Hanoi, Vietnam  
Received 27 October 2020  
Revised 03 December 2020; Accepted 04 February 2021  
Abtract: This study analyzes the association of eating habits with overweight and obesity among  
adolescents at the age of 11-14 from 9 junior high schools in Hanoi to help design a model for  
predicting overweight and obesity resulted from eating habits. A case-control study was conducted  
on 222 overweight/obese adolescents and 616 normal-weight adolescents (according to the  
International Obesity Taskforce Standards, IOTF). The research results show that protective factors  
of overweight and obesity include snacking (snacking at least 2 hours before or after a main meal),  
consumption of milk and dairy products in snacks, and sensory liking for fruit. Risk factors include  
sensory liking for: fat, sweet, fast food, carbonated soft drinks; skipping breakfast; and snacking  
before bed. The best predictive model of overweight and obesity is built from logistic regression  
analysis including 8 of the above eating habits with AUC (Area under the Curve) value of 0.931.  
The study concludes that eating habits are closely related to overweight and obesity among 11-14  
year-old adolescents in Hanoi.  
Keywords: Eating habits, overweight, obesity, adolescence, risk factor.*  
________  
* Corresponding author.  
E-mail address: [email protected]  
90  
N.T.H. Hanh et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 1 (2021) 90-101  
91  
Thói quen ăn uống liên quan đến thừa cân, béo phì:  
nghiên cứu bệnh - chứng ở vị thành niên 11 - 14 tuổi  
tại Hà Nội năm 2020  
Nguyễn Thị Hồng Hạnh1,*, Thân Thị Thu Hằng2, Phạm Hoàng Lâm2,  
Dương Nam Khánh2, Đỗ Hoàng Ngọc Hà2  
1Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, số 136, Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
2Trường Trung học Phổ thông Nguyễn Gia Thiều, 27 Ngọc Lâm, Long Biên, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 27 tháng 10 năm 2020  
Chỉnh sửa ngày 03 tháng 12 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 04 tháng 02 năm 2021  
Tóm tắt: Thói quen ăn uống dường như là một yếu tố quan trọng quyết định đến khẩu phần ăn và  
do đó có thể ảnh hưởng đến thừa cân và béo phì. Hiểu được mối quan hệ giữa tình trạng dinh dưỡng  
và thói quen ăn uống là cơ sở để đề xuất các biện pháp dự phòng và can thiệp hiệu quả với thừa cân,  
béo phì ở vị thành niên. Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích phân tích mối liên quan của một  
số thói quen ăn uống với thừa cân, béo phì ở học sinh 11 - 14 tuổi tại 9 trường thuộc thành phố Hà  
Nội giúp xây dựng mô hình dự đoán thừa cân, béo phì từ thói quen ăn uống. Nghiên cứu bệnh -  
chứng thực hiện trên 222 vị thành niên thừa cân, béo phì và 616 vị thành niên có tình trạng dinh  
dưỡng bình thường (theo tiêu chuẩn của Tổ chức phòng chống béo phì quốc tế (International Obesity  
Taskforce, IOTF). Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố bảo vệ bao gồm ăn bữa phụ; ăn bữa  
phụ trước hoặc sau bữa chính ít nhất 2 giờ; sử dụng sữa và các sản phẩm từ sữa trong bữa phụ; thích  
trái cây. Các yếu tố nguy cơ bao gồm thích thức ăn giàu chất béo, thích thức ăn ngọt, thích thức ăn  
nhanh, thích nước ngọt có ga, không ăn sáng, ăn bữa phụ trước khi ngủ. Mô hình dự đoán thừa cân,  
béo phì tốt nhất được xây dựng từ phân tích hồi quy logistic gồm 8 trong số các thói quen ăn uống  
kể trên với giá trị AUC (Area Under the Curve) là 0,931. Như vậy, thói quen ăn uống có liên quan  
chặt chẽ đến tình trạng thừa cân, béo phì ở vị thành niên 11 - 14 tuổi tại Hà Nội.  
Từ khóa: thói quen ăn uống, thừa cân, béo phì, vị thành niên, yếu tố nguy cơ.  
1. Mở đầu*  
Tình trạng thừa cân, béo phì ở lứa tuổi vị  
thành niên ngày một tăng nhanh dẫn đến những  
hậu quả nghiêm trọng về cả thể chất và tinh thần,  
tạo nên gánh nặng cho ngành y tế và xã hội [1].  
Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (World  
Health Organization, WHO) thì các chi phí trực  
tiếp cho điều trị béo phì chiếm tới 6,8% (hay 70  
tỉ đô la Mꢀ) trong tổng chi phí cho chăm sóc sức  
khoꢁ [2]. Béo phì làm tăng nguy cơ mắc các bệnh  
mạn tính không lây nguy hiểm như bệnh nội tiết,  
tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, tim mạch, ung  
thư, viêm xương khớp,... [3]. Bên cạnh đó, béo  
phì còn là một trong những nguyên nhân dẫn đến  
dậy thì sớm, làm ngừng tăng trưởng chiều cao  
sớm đồng thời còn gây ra những ảnh hưởng nặng  
nề về tâm lý ở trꢁ như tự ti, nhút nhát, kém hòa  
________  
* Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ email: [email protected]  
N.T.H. Hanh et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 1 (2021) 90-101  
92  
đồng. Đặc biệt, tình trạng thừa cân, béo phì trong  
giai đoạn dậy thì có thể ảnh hưởng đến sức khoꢁ  
trong giai đoạn trưởng thành nếu không có biện  
pháp can thiệp và phòng ngừa từ sớm [4].  
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Đối tượng nghiên cứu  
Một nghiên cứu bệnh - chứng được tiến hành  
trên học sinh trong độ tuổi 11 đến 14 tại 9 trường  
trung học cơ sở (THCS) tại Hà Nội gồm: THCS  
Ái Mộ (quận Long Biên), THCS Ngô Sꢀ Liên  
(quận Hoàn Kiếm), THCS Đống Đa (quận Đống  
Đa), THCS Thượng Thanh (quận Long Biên),  
THCS Ngô Gia Tự (quận Long Biên), THCS  
Mai Dịch (quận Cầu Giấy), THCS Hermann  
Gmeiner Hà Nội (quận Cầu Giấy), THCS Mꢀ  
Đình (quận Nam Từ Liên), THCS Phụng  
Thượng (huyện Phúc Thọ). Các trường được  
chọn vào nghiên cứu theo phương pháp chọn  
mẫu ngẫu nhiên. Học sinh tại mỗi trường được  
lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu theo cụm.  
Các đối tượng bị mắc các bệnh cấp tính, bị gù,  
vẹo cột sống bẩm sinh và mắc các bệnh mạn tính  
như lao, HIV/AIDS, các bệnh về thần kinh, tim  
mạch, những học sinh bị thừa cân, béo phì do  
dùng một số thuốc như corticoid được loại trừ  
khỏi nghiên cứu.  
Trong những năm gần đây, tỉ lệ thừa cân ở  
tuổi vị thành niên tăng lên đáng kể. Nghiên cứu  
năm 2013 tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỉ  
lệ thừa cân và béo phì ở trꢁ 11 - 14 tuổi lần lượt  
là 17,8% và 3,2% [5]. Một cuộc khảo sát được  
thực hiện vào năm 2014 tại bốn trường công lập  
tại nội thành Hà Nội trên 821 học sinh 11 - 12  
tuổi cho thấy có tới 17,1% trꢁ thừa cân và 19,1%  
trꢁ béo phì theo tiêu chuẩn của WHO [6]. Nghiên  
cứu năm 2020 trên trên 2788 vị thành niên 11 -  
14 tuổi cho thấy tỉ lệ thừa cân, béo phì trên cả  
nước lần lượt là 17,1% và 5,4% theo tiêu chuẩn  
của Tổ chức phòng chống béo phì quốc tế  
(International Obesity Taskforce, IOTF) [7].  
Nguyên nhân dẫn đến thừa cân, béo phì là do  
sự tương tác giữa yếu tố môi trường và yếu tố di  
truyền. Trong đó, chế độ ăn và thói quen ăn uống  
không lành mạnh đã được chỉ ra là một trong  
những yếu tố chính làm tăng nguy cơ mắc thừa  
cân, béo phì [6]. Chế độ ăn uống cân bằng là cơ  
sở cho sự tăng trưởng và phát triển của vị thành  
niên. Các thói quen ăn uống như chế độ ăn dư  
thừa năng lượng, thức ăn giàu chất béo, ăn nhiều  
đường và muối, không ăn sáng, uống nước ngọt  
có ga đã được chỉ ra rằng có liên quan đến thừa  
cân, béo phì [8]. Những thói quen ăn uống được  
hình thành từ nhỏ và củng cố trong suốt giai đoạn  
trưởng thành sẽ rất khó thay đổi [9]. Hiểu được  
mối quan hệ giữa tình trạng dinh dưỡng và lối  
sống, bao gồm cả thói quen dinh dưỡng, là cần  
thiết để dự phòng và điều trị hiệu quả bệnh béo  
phì ở thanh niên.  
Nhóm bệnh là học sinh mắc thừa cân, béo phì  
(222 học sinh); nhóm chứng là học sinh có tình  
trạng dinh dưỡng bình thường (616 học sinh). Cỡ  
mẫu đảm bảo theo công thức tính cỡ mẫu cho  
nghiên cứu bệnh - chứng [10].  
2.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán  
Tình trạng dinh dưỡng của trꢁ được xác định  
theo tiêu chuẩn của IOTF, 2007. Tình trạng dinh  
dưỡng được đánh giá qua giá trị chỉ số khối cơ  
thể (BMI, Body Mass Index) theo tuổi và giới  
tính, điểm cắt giới hạn để xác định “thừa cân” và  
“béo phì” tương đương với BMI lần lượt là 25 và  
30 kg/m2 ở tuổi 18 [11].  
Việc phân tích những yếu tố nguy cơ từ thói  
quen ăn uống là cơ sở để đưa ra những khuyến  
cáo và đề xuất các biện pháp kịp thời, nhằm giảm  
thiểu tỉ lệ thừa cân, béo phì ngay từ lứa tuổi vị  
thành niên. Do đó, nghiên cứu này được tiến  
hành nhằm mục đích phân tích mối liên quan của  
một số thói quen ăn uống với thừa cân, béo phì ở  
học sinh 11 - 14 tuổi tại Hà Nội. Từ đó, xây dựng  
mô hình dự đoán thừa cân, béo phì từ thói quen  
ăn uống. Đây là cơ sở để đề xuất các biện pháp  
dự phòng thừa cân, béo phì ở lứa tuổi học đường.  
2.3. Các phương pháp thu thập số liệu  
2.3.1. Phương pháp đo chiều cao  
Đo chiều cao bằng thước đứng. Kết quả đo  
được tính bằng cm, đo lặp lại 2 lần và lấy giá trị  
trung bình. Thước gỗ được đặt theo chiều thẳng  
đứng, vuông góc với mặt đất, áp sát vào tường.  
N.T.H. Hanh et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 1 (2021) 90-101  
93  
2.4. Phân tích thống kê  
Đối tượng được đo đi chân không, không buộc  
tóc cao, đứng áp lưng vào thước, mắt nhìn thẳng  
sao cho 9 điểm: chẩm, hai vai, hai mông, hai bắp  
chân và hai gót chân áp sát vào thước. Vai và hai tay  
buông xuôi tự nhiên, chân thẳng, hai đầu gối chạm  
vào nhau. Dùngthước gỗ áp sátđỉnhđầu, vuông góc  
với thước đo, đọc và ghi lại kết quả đo [12].  
Tất cả số liệu được kiểm tra, làm sạch trước  
khi nhập và phân tích kết quả. Sử dụng phần  
mềm Epidata 3.1 để nhập và quản lý số liệu. Kết  
quả được phân tích bằng phần mềm Excel 2010,  
SPSS 16.0 với các test thống kê dùng trong y  
sinh học. Số liệu phân tích được trình bày theo  
bảng tỉ lệ, trung bình. Các biến định lượng được  
trình bày dưới dạng số trung bình ± độ lệch  
2.3.2. Phương pháp đo cân nặng và tỉ lệ mỡ  
cơ thể  
̅
chuẩn (푋 ± 푆퐷) với biến phân phối chuẩn hoặc  
Cân nặng và các chỉ số tỉ lệ mỡ cơ thể, tỉ lệ  
cơ xương, tỉ lệ mỡ dưới da được đo bằng cân  
ORMON (HBF 362, Nhật Bản). Cân được đặt ở  
nền nhà bằng phẳng, không trải thảm. Nhập các  
dữ liệu cá nhân của trꢁ (tuổi, giới tính, chiều cao)  
trước khi cân đo. Khi cân đo, trꢁ mặc ít quần áo,  
bỏ giày dép. Trꢁ bước chân trần lên máy, hai gót  
chân đặt vào hai điện cực, lưng thẳng, tay giơ  
ngang, duỗi thẳng tay sao cho tạo thành 1 góc  
90o so với cơ thể, đầu gối thẳng, mắt nhìn thẳng  
phía trước và giữ màn hình sao cho có thể nhìn  
thẳng thấy màn hình của máy. Đợi máy hiển thị  
số liệu, đọc và ghi lại kết quả.  
trung vị (25th - 75th percentiles) với biến phân  
phối không chuẩn.  
Các biến định lượng được so sánh bằng kiểm  
định Student t-test đối với biến phân phối chuẩn;  
kiểm định Man-Withney- U-test hoặc Kruskall-  
Wallis test đối với các biến phân phối không  
chuẩn. Các biến định tính được so sánh bằng  
kiểm định Chi-square test hoặc Fisher Exact test.  
Các giá trị có ý nghĩa thống kê khi P < 0,05 theo  
2 phía.  
Ảnh hưởng của các yếu tố nguy cơ đến thừa  
cân, béo phì được phân tích bằng phương pháp  
hồi quy logistic đơn biến và đa biến. Mô hình dự  
đoán tối ưu đối với thừa cân, béo phì được xác  
định bằng phương pháp phân tích backward liên  
tục. Đường cong ROC (Receiver Operating  
Characteristic) được vẽ với trục tung biểu diễn  
độ nhạy (Se), trục hoành biểu diễn 1 trừ độ đặc  
hiệu (1-Sp). Ứng với mỗi giá trị của Se trên trục  
tung, tìm được 1-Sp trên trục hoành. Nối các  
điểm biểu diễn của cùng một chỉ số với nhau ta  
có đường cong ROC của chỉ số đó. Đồng thời  
xác định diện tích dưới đường cong AUC (Area  
Under the Curve). Diện tích dưới đường cong  
được tính để thể hiện độ chính xác của một test  
chẩn đoán và giá trị sử dụng của mô hình dự  
đoán. Tùy vào giá trị của AUC mà test chẩn đoán  
được kết luận như sau [10]: AUC ≤ 0,5: test  
không chính xác, mô hình không thể áp dụng  
được. 0,5 < AUC ≤ 0,6: test có độ chính xác rất  
thấp, không thể áp dụng được. 0,6 < AUC ≤ 0,7:  
test có độ chính xác thấp. 0,7 < AUC ≤ 0,8: test  
có độ chính xác trung bình. 0,8 < AUC ≤ 0,9: test  
có độ chính xác cao, mô hình dự đoán tốt. AUC  
> 0,9 - 1: test có độ chính xác rất cao, mô hình  
dự đoán rất tốt.  
2.3.3. Phương pháp đo vòng eo, vòng mông  
Sử dụng thước dây không co dãn để đo chu  
vi vòng eo và vòng mông. Kết quả đo tính bằng  
cm, đo lặp lại 2 lần và lấy giá trị trung bình. Trꢁ  
đứng thẳng, trọng lượng dồn đều lên hai chân.  
Chu vi vòng eo được đo ở giữa xương sườn số  
12 và gai chậu trước khi trꢁ thở ra hết, vòng  
thước dây song song với mặt phẳng ngang. Chu  
vi vòng mông được đo ở mức ngang 2 mấu  
chuyển xương đùi, người đo đứng bên cạnh trꢁ,  
kéo thước dây vừa chặt [12].  
2.3.4. Phương pháp thu thập thông tin về thói  
quen ăn uống  
Sử dụng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn để thu  
thập thông tin của học sinh gồm: Tốc độ ăn; số  
bữa ăn trong ngày; có hay không ăn bữa phụ; thời  
điểm và thực phẩm sử dụng trong bữa phụ; sở  
thích ăn uống (rau, trái cây, nước ngọt có ga,  
thức ăn giàu chất béo, thức ăn ngọt, thức ăn sẵn,  
nội tạng động vật); có hay không ăn bữa sáng.  
N.T.H. Hanh et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 1 (2021) 90-101  
94  
về tuổi, giới và chiều cao giữa nhóm bệnh và  
nhóm chứng. Tỉ lệ cơ xương ở nhóm chứng cao  
hơn so với nhóm bệnh trong khi cân nặng, chu vi  
vòng mông, chu vi vòng eo, BMI, tỉ lệ mỡ dưới  
da, tỉ lệ mỡ cơ thể ở nhóm bệnh đều cao hơn đáng  
kể so với các giá trị này ở nhóm chứng (p < 0,001).  
3. Kết quả  
3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu  
Kết quả về đặc điểm đối tượng nghiên cứu  
được thể hiện ở Bảng 1. Không có sự khác nhau  
Bảng 1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu  
Nhóm chứng  
(n = 616)  
13,2 (12,2 - 13,9)  
Nhóm bệnh  
p
Chỉ số  
(n = 222)  
Tuổi (năm)b  
12,9 (11,6 - 13,5)  
128 (57,7% )  
155,2 ± 8,7  
0,065  
Giới tính nam (n, %)c  
Chiều cao (cm)a  
323 (52,4%)  
154,4 ± 8,4  
0,650  
0,275  
Cân nặng (kg)a  
43,7 ± 6,8  
56,6 ± 10,7  
<0,001  
<0,001  
<0,001  
<0,001  
<0,001  
<0,001  
0,005  
Chu vi vòng mông (cm)a  
Chu vi vòng eo (cm)b  
BMI (Kg/m2)b  
83,7 ± 5,5  
91,9 ± 8,1  
66,0 (62,0 - 70,0)  
18,1 (16,9 - 19,4 )  
14,6 ± 4,6  
77 (71,0 - 83,0)  
22,7 (21,4 - 25,0)  
18,7 ± 4,9  
Tỉ lệ mỡ dưới da (%)a  
Tỉ lệ mỡ cơ thể (%)b  
Tỉ lệ cơ xương (%)a  
19,4 (15,3 - 21,8)  
33,1 ± 5,4  
24,6 (21,5 - 26,7)  
30,9 ± 4,2  
aCác biến tuân theo phân phối chuẩn được biểu diễn bằng giá trị trung bình và độ lệch chuẩn, p nhận được từ  
kiểm định Student’s t - test; bCác biến không tuân theo phân phối chuẩn được biểu diễn bằng trung vị và 25th -  
75th percentile, p nhận được từ kiểm định Mann - Withney U test; cBiến định tính, p nhận được từ kiểm định Chi-  
square test; BMI: chỉ số khối cơ thể.  
3.2. Mối liên quan giữa tốc độ ăn và ăn bữa phụ  
với thừa cân, béo phì ở vị thành niên 11 - 14 tuổi  
tại Hà Nội  
2 giờ làm giảm nguy cơ mắc thừa cân, béo phì  
(OR = 0,05; p < 0,001) trong khi ăn bữa phụ ngay  
sau khi ngủ có xu hướng làm tăng nguy cơ mắc  
thừa cân, béo phì (OR = 1,5; p = 0,081).  
Sử dụng sữa và các sản phẩm từ sữa trong  
bữa phụ làm giảm nguy cơ mắc thừa cân, béo phì  
(OR = 0,01; p < 0,0001) trong khi sử dụng đồ ăn  
nhanh trong bữa phụ làm tăng nguy cơ mắc thừa  
cân, béo phì (OR = 1,7; p = 0,012).  
Kết quả của ghiên cứu này còn tìm thấy mối  
liên quan mạnh giữa việc không ăn sáng với  
nguy cơ mắc thừa cân, béo phì ở trꢁ 11 - 14 tuổi  
tại Hà Nội (OR = 19,9, p < 0,001).  
Kết quả phân tích mối liên quan giữa thói  
quen ăn uống ở vị thành niên từ 11 - 14 tuổi tại  
Hà Nội được trình bày ở Bảng 2.  
Kết quả ở Bảng 2 cho thấy những học sinh  
có ăn bữa phụ có nguy cơ mắc thừa cân, béo phì  
thấp hơn những học sinh không ăn bữa phụ (OR  
= 0,5; p < 0,0001). Đồng thời, thời điểm ăn bữa  
phụ và loại thực phẩm sử dụng trong bữa phụ có  
mối liên quan mạnh đến thừa cân, béo phì. Ăn  
bữa phụ trước hoặc sau khi ăn bữa chính ít nhất  
N.T.H. Hanh et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 1 (2021) 90-101  
95  
Bảng 2. Mối liên quan giữa tốc độ ăn và đặc điểm ăn bữa phụ với thừa cân, béo phì  
ở vị thành niên 11 - 14 tuổi tại Hà Nội  
Nhóm chứng  
n (%)  
Nhóm bệnh  
n (%)  
Đặc điểm  
Tốc độ ăn  
OR (95%CI)  
P
Ăn bình thường  
(30 - 40 phút)  
325 (52,8%)  
128 (57,7%)  
1
Ăn nhanh (< 20 phút)  
273 (44,3%)  
18 (2,9%)  
89 (40,1%)  
5 (2,3%)  
0,8 (0,6-1,1)  
0,7 (0,3-1,9)  
0,239  
0,811  
Ăn chậm (> 50 phút)  
Ăn bữa phụ  
Không ăn  
150 (24,4%)  
466 (75,6%)  
88 (39,6%)  
1
Có ăn  
134 (60,4%)  
0,5 (0,4-0,7)  
< 0,001  
Thức ăn sử dụng trong bữa phụ  
Không ăn bữa phụ  
Các sản phẩm từ tinh bột  
Sữa và các sản phẩm từ sữa  
Đồ ăn nhanh  
150 (24,4%)  
55 (8,9%)  
88 (39,6%)  
35 (15,8%)  
2 (0,9%)  
1
1,1 (0,7-1,8)  
0,01 (0,0-0,1)  
1,7 (1,1-2,5)  
0,749  
310 (50,3%)  
101 (16,4%)  
< 0,001  
0,012  
97 (43,7%)  
Thời điểm ăn bữa phụ  
Không ăn  
140 (24,4%)  
76 (12,3%)  
88 (39,6%)  
65 (29,3%)  
1
Trước khi ngủ  
1,5 (0,9-2,2)  
0,081  
0,371  
Trong vòng 1 giờ trước hoặc sau  
khi ăn  
Trước hoặc sau khi ăn ít nhất 2  
giờ  
125 (20,3%)  
265 (43,0%)  
61 (27,5%)  
8 (2,9%)  
0,8 (0,6-1,2)  
0,05 (0,02-0,11)  
< 0,001  
Ăn sáng  
Có ăn sáng  
604 (98,1%)  
12 (1,9%)  
159 (71,6%)  
159 (28,4%)  
1
Không ăn sáng  
19,9 (10,5-37,9)  
< 0,001  
P nhận được từ phân tích hồi quy logistic đa biến điều chỉnh theo tuổi và giới; 95%CI (95% Confidence  
interval): khoảng tin cậy 95%; giá trị % so với số trꢁ trong cùng nhóm.  
3.3. Mối liên quan giữa sở thích ăn uống với thừa  
cân, béo phì ở vị thành niên 11 - 14 tuổi tại Hà Nội  
làm tăng nguy cơ thừa cân, béo phì ở trꢁ với OR  
lần lượt là 1,6 (p = 0,008); 2,1 (p < 0,001); 1,7 (p  
= 0,001) và 1,5 (p = 0,019). Trong khi đó, trꢁ  
thích ăn trái cây có nguy cơ mắc thừa cân, béo  
phì thấp hơn so với những trꢁ không thích ăn trái  
cây (OR = 0,7; p = 0,039).  
Mốiliênquan giữa sởthíchăn uốngvàthừacân,  
béo phì được thể hiện qua Bảng 3. Các đặc điểm  
thích thức ăn giàu chất béo, thích thức ăn ngọt,  
thích thức ăn nhanh, thích uống nước ngọt có ga  
N.T.H. Hanh et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 1 (2021) 90-101  
96  
Bảng 3. Mối liên quan giữa sở thích ăn uống và thừa cân, béo phì ở vị thành niên từ 11 - 14 tuổi tại Hà Nội  
Nhóm chứng  
n (%)  
Nhóm bệnh  
n (%)  
Đặc điểm  
OR (95%CI)  
p
Ăn rau  
Không thích  
Thích  
405 (65,7%)  
211 (34,3%)  
148 (66,7%)  
74 (33,3%)  
1
0,8 (0,6-1,1)  
0,231  
0,039  
0,008  
<0,001  
0,019  
0,001  
0,217  
Trái cây  
Không thích  
Thích  
197 (32,0%)  
419 (68,0%)  
88 (39,6%)  
1
134 (60,4%)  
0,7 (0,5-0,9)  
Thức ăn giàu chất béo  
Không thích  
Thích  
227 (36,9%)  
398 (63,1%)  
60 (27,0%)  
1
162 (73,0%)  
1,6 (1,1-2,2)  
Thức ăn ngọt  
Không thích  
Thích  
330 (53,6%)  
286 (46,4%)  
78 (35,1%)  
1
144 (64,9%)  
2,1 (1,5-2,9)  
Nước ngọt có ga  
Không thích  
Thích  
298 (48,4%)  
318 (51,6%)  
87 (39,2%)  
1
135 (60,8%)  
1,5 (1,1-2,0)  
Thức ăn nhanh  
Không thích  
Thích  
309 (50,2%)  
306 (49,8%)  
83 (37,4%)  
1
139 (62,6%)  
1,7 (1,2-2,3)  
Nội tạng động vật  
Không thích  
Thích  
559 (90,7%)  
57 (9,3%)  
195 (87,8%)  
27 (12,2%)  
1
1,4 (0,8-2,2)  
P nhận được từ phân tích hồi quy logistic đa biến điều chỉnh theo tuổi và giới; 95%CI (95% Confidence  
interval): khoảng tin cậy 95%; giá trị % so với số trꢁ trong cùng nhóm.  
3.4. Phân tích tổng hợp mối liên quan của thói  
quen ăn uống với thừa cân béo phì ở vị thành  
niên 11 - 14 tuổi tại Hà Nội  
Tuổi và giới là các yếu tố gây nhiễu có thể  
ảnh hưởng tới tất cả các biến trong mô hình, các  
yếu tố màu xanh bao gồm ăn bữa phụ, sử dụng  
sữa và các sản phẩm từ sữa trong bữa phụ, thích  
trái cây làm giảm nguy cơ thừa cân, béo phì với  
hệ số thể hiện mức độ ảnh hưởng lần lượt là -  
1,2; -5,4 và -0,2. Các yếu tố làm tăng nguy cơ  
bao gồm thích thức ăn giàu chất béo, thích thức  
ăn ngọt, thích thức ăn nhanh, thích nước ngọt có  
ga, không ăn sáng, ăn bữa phụ trước khi ngủ.  
Trong đó, ăn bữa phụ trước khi ngủ có mức độ  
ảnh hưởng lớn nhất (= 4,2; p < 0,001).  
3.4.1. Hệ số ảnh hưởng của một số thói quen  
ăn uống với thừa cân béo phì ở vị thành niên 11  
- 14 tuổi tại Hà Nội  
Kết quả các yếu tố liên quan đến thừa cân,  
béo phì và hệ số ảnh hưởng của từng yếu tố được  
thể hiện ở Hình 1. Các yếu tố có ý nghĩa thống  
kê với nguy cơ thừa cân, béo phì ở vị thành niên  
11 - 14 tuổi tại Hà Nội được đưa vào phân tích  
đa biến hồi quy logistic để đánh giá mức độ ảnh  
hưởng, kết quả thể hiện ở Hình 1.  
N.T.H. Hanh et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 1 (2021) 90-101  
97  
Chú thích: Màu xanh: yếu tố làm giảm nguy cơ; màu đỏ: yếu tố làm tăng nguy cơ  
Hình 1. Các yếu tố liên quan và hệ số ảnh hưởng đến thừa cân, béo phì ở vị thành niên 11 - 14 tuổi tại Hà Nội.  
Mô hình  
1
2
3
4
5
Tuổi  
Giới  
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
Thích ngọt có ga  
Thích thức ăn giàu chất béo  
Thích ăn trái cây  
Thích thức ăn ngọt  
Thích thức ăn nhanh  
Ăn bữa phụ  
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
Không ăn sáng  
Ăn bữa phụ trước khi ngủ  
Sử dụng sữa và các sản phẩm từ  
sữa trong bữa phụ  
AUC  
0,934  
0,935  
0,932  
0,932  
0,931  
Chú thích: AUC: Area under the curve; X: Có  
Hình 2. Mô hình phân tích hồi quy logistic đa biến các yếu tố liên quan đến thừa cân, béo phì ở vị thành niên 11  
- 14 tuổi tại Hà Nội sử dụng phương pháp backward liên tục.  
Hình 3. Biểu đồ đường cong ROC của mô hình dự đoán thừa cân, béo phì ở vị thành niên 11 - 14 tuổi tại Hà Nội.  
N.T.H. Hanh et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 1 (2021) 90-101  
98  
3.4.2. Mô hình dự đoán thừa cân, béo phì ở  
vị thành niên 11 - 14 tuổi tại Hà Nội  
bổ thời gian cho các bữa ăn có liên quan chặt chẽ  
đến việc giảm cân nặng. Nghiên cứu trên 8.153  
người từ 40 - 54 tuổi cho thấy, ăn trước khi ngủ  
làm tăng nguy cơ béo phì lên 2,11 lần (95%CI =  
1,42-3,15) ở nam và 3,02 lần (95%CI = 1,72-  
5,29) ở nữ [14].  
Mô hình phân tích hồi quy logistic đa biến  
theo phương pháp backward liên tục và biểu đồ  
đường cong ROC các yếu tố liên quan đến thừa  
cân, béo phì ở trꢁ thể hiện ở Hình 2 và Hình 3.  
Khi đưa các biến liên quan đến thiếu cân vào mô  
hình backward liên tục, có 5 mô hình được lựa  
chọn để dự đoán nguy cơ thừa cân, béo phì ở trꢁ  
với giá trị AUC dao động từ 0,931 - 0,935 với  
khả năng dự đoán ở mức rất tốt. Trong đó, mô  
hình thứ 5 có ít yếu tố nhất nhưng có giá trị AUC  
tương đương với các mô hình còn lại nên được  
chọn làm mô hình dự đoán thừa cân, béo phì từ  
yếu tố thói quen ăn uống và hoạt động thể lực ở  
trꢁ 11 - 14 tuổi tại Hà Nội.  
Bữa phụ cần đảm bảo cân đối giữa 3 nhóm  
chất dinh dưỡng chính bao gồm đạm, béo, đường  
bột, đồng thời cần bổ sung vitamin và khoáng  
chất. Ngược lại, nếu cho trꢁ ăn thêm bữa phụ  
không đúng cách như cho trꢁ ăn quá nhiều thức  
ăn trong bữa phụ dẫn đến dư thừa năng lượng,  
cho trꢁ ăn những thực phẩm ăn nhanh, thực phẩm  
chiên rán,… sẽ làm tăng nguy cơ mắc béo phì  
[13]. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh vai trò  
của sữa trong chế độ ăn giúp phát triển chiều cao  
và kiểm soát cân nặng, đặc biệt là đối với trꢁ vị  
thành niên [15]. Nghiên cứu thuần tập (nghiên  
cứu theo thời gian) trên 50 trꢁ không uống sữa  
và 200 trꢁ uống sữa cho thấy, những trꢁ không  
uống sữa có chiều cao thấp hơn, khung xương  
nhỏ hơn, hàm lượng khoáng chất trong xương  
thấp hơn và mật độ xương thấp hơn so với những  
trꢁ cùng tuổi và giới tính trong cùng cộng đồng.  
Hơn nữa, những người trꢁ không uống sữa có chỉ  
số BMI cao hơn [16].  
Kết quả của ghiên cứu này còn tìm thấy mối  
liên quan mạnh giữa việc không ăn sáng với  
nguy cơ mắc thừa cân, béo phì ở vị thành niên.  
Bữa sáng là bữa ăn quan trọng nhất trong ngày  
do bữa sáng cung cấp năng lượng và những  
dưỡng chất cần thiết cho cơ thể sau khoảng thời  
gian dài (qua đêm), tạo năng lượng cho cơ thể  
hoạt động. Việc bỏ bữa sáng có thể làm giảm  
năng lượng cung cấp cho cơ thể trong ngày. Tuy  
nhiên, nếu bỏ bữa sáng nhưng tăng khẩu phần ăn  
của bữa trưa thì có thể làm tăng năng lượng cung  
cấp cho cơ thể. Theo nghiên cứu của Junior và cs  
(2012) trên trꢁ 6 - 16 tuổi thừa cân béo phì, việc  
ăn đầy đủ bữa sáng làm giảm nguy cơ béo phì và  
rối loạn lipid máu [17].  
4. Thảo luận  
Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng, ăn bữa  
phụ cũng như thời điểm và loại thực phẩm sử  
dụng trong bữa phụ có liên quan chặt chẽ đến  
thừa cân, béo phì ở vị thành niên 11 - 14 tuổi tại  
Hà Nội. Bữa phụ là cách gọi để phân biệt với 3  
bữa ăn chính trong ngày (bữa sáng, bữa trưa và  
bữa tối). Dù được gọi là bữa ăn phụ nhưng vai  
trò của các bữa ăn này có vai trò quan trọng đối  
với sự phát triển của trꢁ em và vị thành niên. Vị  
thành niên có nhu cầu năng lượng xấp xỉ so với  
người lớn nhưng dung tích dạ dày lại nhỏ hơn.  
nên không thể ăn đủ lượng thức ăn so với nhu  
cầu năng lượng chỉ bằng 3 bữa ăn chính như  
người lớn. Đối với trꢁ lứa tuổi học đường, ngoài  
3 bữa chính ăn trên lớp và cùng gia đình thì được  
khuyến nghị nên cho ăn thêm 1 - 2 bữa phụ/ngày  
giúp đáp ứng tốt hơn nhu cầu dinh dưỡng của trꢁ.  
Bên cạnh đó, bữa ăn phụ không những giúp đa  
dạng hóa khẩu phần ăn, đảm bảo nguồn dinh  
dưỡng dồi dào cho trꢁ mà còn tạo ra sự khác biệt  
về khẩu vị làm trꢁ thấy ngon miệng. Một số  
nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc ăn thêm bữa phụ  
làm giảm nguy cơ mắc béo phì ở trꢁ [13].  
Kết quả của nghiên cứu cũng đã chỉ ra sở  
thích ăn uống có liên quan đến thừa cân, béo phì  
ở vị thành niên 11 - 14 tuổi tại Hà Nội. Đặc điểm  
thích thức ăn nhanh, thức ăn giàu chất béo, thức  
ăn ngọt, nước ngọt có ga làm tăng nguy cơ thừa  
cân, béo phì. Thức ăn nhanh, thức ăn giàu chất  
Bên cạnh đó, theo các chuyên gia dinh  
dưỡng, thời gian xen kẽ giữa các bữa chính và  
bữa phụ nên cách nhau khoảng 2 giờ [13]. Một  
số nghiên cứu đã chỉ ra rằng thời điểm ăn, phân  
N.T.H. Hanh et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 1 (2021) 90-101  
99  
béo, thức ăn ngọt chứa hàm lượng chất béo,  
đường cao, làm tăng cân. Đồng thời, chất béo  
(acid béo no) trong thức ăn nhanh còn nguy hại  
cho trꢁ em và vị thành niên vì quy trình chế biến  
đồ ăn nhanh luôn thực hiện ở nhiệt độ cao khiến  
dầu chiên bị hydro hóa, sản sinh ra acid béo có  
hại. Phân tích tổng hợp từ 16 nghiên cứu (6  
nghiên cứu cắt ngang, 7 nghiên cứu thuần tập và  
3 thử nghiệm) đã chỉ ra tác động của việc tiêu thụ  
thức ăn nhanh ở vị thành niên làm tăng nguy cơ  
béo phì [18]. Nghiên cứu thuần tập trên 24.776  
ngườitrưởngthànhPhápcũngchothấysởthíchchất  
béo làm tăng nguy cơ béo phì (p < 0,001) ở cả hai  
giới trong khi cảm giác thích ăn ngọt làm giảm nguy  
cơ béo phì [19]. Các nghiên cứu thực nghiệm đã báo  
cáo không có sự khác biệt về mức độ thích thức  
ăn ngọt trên BMI hoặc thậm chí là mức độ thích  
thức ăn ngọt thấp hơn ở những người béo phì  
[7,15,18,19] và một nghiên cứu đã báo cáo mức  
độ thích thức ăn ngọt cao ở những người gầy  
nhưng không thích ở những người béo phì [20].  
Các nghiên cứu về mối liên quan giữa sở thích  
ăn ngọt và béo phì vẫn còn nhiều tranh cãi. Sự  
khác biệt trong kết qủa có thể là do cảm giác  
thích ngọt thường thay đổi theo các kích thích  
nên các kiểu phản ứng liên quan đến thích ngọt  
riêng biệt được xác định ở những cá nhân khác  
nhau [20].  
mật và acid mật, do đó làm giảm béo phì. Bên  
cạnh đó, hoa quả còn bổ sung vitamin, khoáng  
chất, acid folic, pectin, acid acetic có lợi cho sức  
khỏe giúp phòng chống nguy cơ mắc bệnh tim  
mạch. Theo nghiên cứu của Hung và cs (2004),  
ăn hoa quả làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch  
với OR = 0,87 (0,80 - 0,94). Trꢁ thường xuyên  
ăn đồ ăn chiên rán và chế biến sẵn có nồng độ  
LDL-C và TG cao hơn so với những trꢁ có chế  
độ ăn hợp lý, nhiều chất xơ, ít chất béo [20].  
Từ những yếu tố này, mô hình dự đoán thừa  
cân, béo phì đã được xây dựng, sử dụng kĩ thuật  
ROC - là kĩ thuật được sử dụng rộng rãi trong  
các thử nghiệm chẩn đoán y sinh [10] nói chung  
và trong xây dựng mô hình dự đoán béo phì nói  
riêng [22]. Tuy nhiên, các biến đưa vào mô hình  
dự đoán còn ít, mới chỉ dừng lại ở phân tích các  
yếu tố về thói quen ăn uống. Do vậy, trong tương  
lai, nghiên cứu cần phân tích thêm các yếu tố  
hoạt động thể chất và lối sống để xây dựng các  
mô hình dự đoán thừa cân, béo phì ở vị thành  
niên chính xác hơn.  
5. Kết luận  
Các thói quen ăn uống liên quan đến thừa  
cân, béo phì bao gồm:  
- Các yếu tố bảo vệ: ăn bữa phụ; ăn bữa phụ  
trước hoặc sau bữa chính ít nhất 2 giờ; sử dụng  
sữa và các sản phẩm từ sữa trong bữa phụ; thích  
trái cây.  
- Các yếu tố nguy cơ: thích thức ăn giàu chất  
béo, thích thức ăn ngọt, thích thức ăn nhanh,  
thích nước ngọt có ga, không ăn sáng, ăn bữa phụ  
trước khi ngủ.  
Mô hình dự đoán thừa cân, béo phì gồm:  
thích thức ăn ngọt, thích thức ăn nhanh, thích ăn  
trái cây, không ăn sáng, có ăn bữa phụ, ăn bữa  
phụ trước khi ngủ, sử dụng sữa và các sản phẩm  
từ sữa trong bữa phụ với giá trị AUC là 0,931.  
Bên cạnh đó, sở thích uống nước có ga làm  
tăng nguy cơ thừa cân, béo phì lên 1,5 lần (p =  
0,019). Nhiều nghiên cứu đã chứng minh mối  
tương quan giữa sự gia tăng béo phì và việc tiêu  
thụ nước ngọt có ga. Nghiên cứu trên chuột đã  
chỉ ra rằng, những con chuột tiêu thụ đồ uống có  
ga trong 1 năm sẽ tăng cân với tốc độ nhanh hơn  
so với những con chuột uống nước máy thông  
thường. Điều này là do đồ uống có ga làm mức  
độ hormone ghrelin tăng cao (gấp hơn 20 lần) và  
do đó lượng thức ăn tiêu thụ ở chuột uống đồ  
uống này nhiều hơn so với chuột đối chứng [21].  
Ngược lại, kết quả của nghiên cứu cho thấy  
những trꢁ thích ăn trái cây có xu hướng giảm  
nguy cơ mắc thừa cân, béo phì. Trong trái cây có  
chứa lượng lớn chất xơ (polysaccharide).  
Polysaccharide hoạt động trong đường ruột làm  
giảm cholesterol máu bằng cách giảm hấp thu  
cholesterol, acid béo hoặc giảm hấp thu muối  
Lời cảm ơn  
Đề tài được sự hỗ trợ của quý đồng nghiệp  
tại Viện Dinh dưỡng Quốc gia, giáo viên, phụ  
N.T.H. Hanh et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 1 (2021) 90-101  
100  
environment, Annals  
Environmental Medicine 19 (2012) 557-561.  
PMID: 23020056.  
of  
Agricultural  
and  
huynh và học sinh các trường THCS tham gia  
vào nghiên cứu.  
e?articleId=2116928  
[10] N.V. Tuan, Evidence-Based Medicine, Medical  
publisher, Hanoi, 2008 (in Vietnamese).  
[11] T.J. Cole, M.C. Bellizzi, K.M. Flegal, and W.H.  
Dietz, Establishing a standard definition for child  
overweight and obesity worldwide: international  
survey, Bmj 320 (2000) 1240-1245.  
Tài liệu tham khảo  
[1] A.S. French, M. Story and C.L. Perry, Self-esteem  
and obesity in children and adolescents: a literature  
review, Obesity Research 3 (1995) 479-490.  
[2] E.A. Finkelstein, C.J. Ruhm, and K.M. Kosa,  
Economic causes and consequences of obesity,  
Annual Review of Public Health 26 (2005) 239-257.  
304.144628 ꢀ  
[12] L.T. Hop và Huynh Phuong Nam, Assessment of  
nutritional status using anthropometric variables,  
Journal of Food and Nutrition Sciences 7 (2011) 1-  
7 (in Vietnamese).  
[13] X. Guo, L. Zheng, Y. Li Y, S. Yu, G. Sun, H. Yang,  
X. Zhou, X. Zhang, Z. Sun, and Y. Sun,  
Differences in lifestyle behaviors, dietary habits,  
and familial factors among normal-weight,  
overweight, and obese Chinese children and  
adolescents, International Journal of Behavioral  
Nutrition and Physical Activity 9 (2012) 120-128.  
[3] N.T.H. Hanh, L.T. Tuyet, D.T.A. Dao, Y. Tao, and  
D.T. Chu, Childhood obesity is a high-risk factor  
for hypertriglyceridemia: a case-control study in  
Vietnam, Osong public health and research  
perspectives 8 (2017) 138-146.  
[4] J.K. Dibaise, and A.E. Foxx-Orenstein, Role of the  
gastroenterologist in managing obesity, Expert  
Review of Gastroenterology  
(Review) 7 (2013) 439-451  
&
Hepatology  
[14] J. Yoshida, E. Eguchi, K. Nagaoka, T. Ito, and K.  
Ogino, Association of night eating habits with  
metabolic syndrome and its components:  
a
[5] P.V.N. Nguyen, T.K. Hong, T. Hoang, and A.R.  
Robert, High prevalence of overweight among  
adolescents in Ho Chi Minh City, Vietnam, BMC  
Public Health 13 (2013) 141-147.  
longitudinal study, BMC Public Health 18 (2018)  
6262-3  
[15] L.A. Spence, C.J Cifelli, and G.D. Miller, The role  
of dairy products in healthy weight and body  
composition in children and adolescents, Current  
[6] T.T.P. Pham, Y. Matsushita, L.T.K. Dinh, T.V. Do,  
T.T.T. Nguyen, A.T. Bui, A.Q. Nguyen, and H.  
Kajio, Prevalence and associated factors of  
overweight and obesity among schoolchildren in  
Hanoi, Vietnam, BMC public health 19 (2019) 1478-  
[7] H.D. Phan, T.N.P. Nguyen, P.L. Bui, T.T. Pham, T.V.  
Doan, D.T. Nguyen, and H.V. Minh, Overweight and  
obesity among Vietnamese school-aged children:  
National prevalence estimates based on the World  
Health Organization and International Obesity Task  
Force definition, PloS one 15 (2020) e0240459-  
e0240478.  
Nutrition  
& Food Science 7 (2011) 40-49.  
[16] R.E. Black, S.M. Williams, I.E. Jones, and A.  
Goulding, Children who avoid drinking cow milk  
have low dietary calcium intakes and poor bone  
health, The American journal of clinical  
nutrition 76 (2002) 675-680.  
[17] I.F.F. Júnior, D.G. Christofaro, J.S. Codogno, P.A.  
Monteiro, L.S. Silveira, and R.A. Fernandes, The  
association between skipping breakfast and  
biochemical variables in sedentary obese children  
and adolescents, The Journal of pediatrics 161  
(2012) 871-874.  
[8] M. Zalewska, and E. Maciorkowska, Selected  
nutritional habits of teenagers associated with  
overweight and obesity, PeerJ 5 (2017) e3681-  
[9] K. Sygit, W. Kollataj, M. Gozdziewska, M. Sygit,  
B. Kollataj, and I.D. Karwat, Lifestyle as an  
important factor in control of overweight and  
obesity among schoolchildren from the rural  
[18] R. Rosenheck, Fast food consumption and  
increased caloric intake: a systematic review of a  
trajectory towards weight gain and obesity risk,  
Obesity reviews 9 (2008) 535-547.  
N.T.H. Hanh et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 1 (2021) 90-101  
101  
[19] A. Lampuré, K. Castetbon, A. Deglaire, P. Schlich,  
S. Péneau, S. Hercberg, and C. Méjean,  
Associations between liking for fat, sweet or salt  
and obesity risk in French adults: a prospective  
cohort study. International Journal of Behavioral  
Nutrition and Physical Activity 13 (2016) 74-88.  
[20] H.C. Hung, K.J. Joshipura, E. Jiang, F.B. Hu, D.  
Hunter, S.A. Smith-Warner, G.A. Colditz, B.  
Rosner, D. Spiegelman, and W.C. Willett, Fruit  
and vegetable intake and risk of major chronic  
disease, Journal of the National Cancer Institute 96  
(2004) 1577-1584.  
[21] D.S. Eweis, F. Abed, and J. Stiban, Carbon dioxide  
in carbonated beverages induces ghrelin release  
and increased food consumption in male rats:  
implications on the onset of obesity, Obesity  
research & clinical practice 11 (2017) 534.  
[22] M.K. Siddiqui, R. Morales-Menendez, and S.  
Ahmad, Application of receiver operating  
characteristics (ROC) on the prediction of obesity,  
Brazilian Archives of Biology and Technology 63  
(2020) e20190736-e20190749.  
pdf 12 trang yennguyen 16080 Free
Bạn đang xem tài liệu "Eating habits associated with overweight and obesity: A case-control study of 11-14 year-old adolescents in Hanoi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfeating_habits_associated_with_overweight_and_obesity_a_case.pdf