Eating habits associated with overweight and obesity: A case-control study of 11-14 year-old adolescents in Hanoi
VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 1 (2021) 90-101
Original Article
Eating Habits Associated with Overweight and Obesity:
A Case-control Study of 11-14 Year-old Adolescents in Hanoi
Nguyen Thi Hong Hanh1,*, Than Thi Thu Hang2, Pham Hoang Lam2,
Duong Nam Khanh2, Do Hoang Ngoc Ha2
1Hanoi National University of Education, 136, Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam
2Nguyen Gia Thieu High School, 27 Ngoc Lam, Long Bien, Hanoi, Vietnam
Received 27 October 2020
Revised 03 December 2020; Accepted 04 February 2021
Abtract: This study analyzes the association of eating habits with overweight and obesity among
adolescents at the age of 11-14 from 9 junior high schools in Hanoi to help design a model for
predicting overweight and obesity resulted from eating habits. A case-control study was conducted
on 222 overweight/obese adolescents and 616 normal-weight adolescents (according to the
International Obesity Taskforce Standards, IOTF). The research results show that protective factors
of overweight and obesity include snacking (snacking at least 2 hours before or after a main meal),
consumption of milk and dairy products in snacks, and sensory liking for fruit. Risk factors include
sensory liking for: fat, sweet, fast food, carbonated soft drinks; skipping breakfast; and snacking
before bed. The best predictive model of overweight and obesity is built from logistic regression
analysis including 8 of the above eating habits with AUC (Area under the Curve) value of 0.931.
The study concludes that eating habits are closely related to overweight and obesity among 11-14
year-old adolescents in Hanoi.
Keywords: Eating habits, overweight, obesity, adolescence, risk factor.*
________
* Corresponding author.
E-mail address: [email protected]
90
N.T.H. Hanh et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 1 (2021) 90-101
91
Thói quen ăn uống liên quan đến thừa cân, béo phì:
nghiên cứu bệnh - chứng ở vị thành niên 11 - 14 tuổi
tại Hà Nội năm 2020
Nguyễn Thị Hồng Hạnh1,*, Thân Thị Thu Hằng2, Phạm Hoàng Lâm2,
Dương Nam Khánh2, Đỗ Hoàng Ngọc Hà2
1Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, số 136, Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
2Trường Trung học Phổ thông Nguyễn Gia Thiều, 27 Ngọc Lâm, Long Biên, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 27 tháng 10 năm 2020
Chỉnh sửa ngày 03 tháng 12 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 04 tháng 02 năm 2021
Tóm tắt: Thói quen ăn uống dường như là một yếu tố quan trọng quyết định đến khẩu phần ăn và
do đó có thể ảnh hưởng đến thừa cân và béo phì. Hiểu được mối quan hệ giữa tình trạng dinh dưỡng
và thói quen ăn uống là cơ sở để đề xuất các biện pháp dự phòng và can thiệp hiệu quả với thừa cân,
béo phì ở vị thành niên. Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích phân tích mối liên quan của một
số thói quen ăn uống với thừa cân, béo phì ở học sinh 11 - 14 tuổi tại 9 trường thuộc thành phố Hà
Nội giúp xây dựng mô hình dự đoán thừa cân, béo phì từ thói quen ăn uống. Nghiên cứu bệnh -
chứng thực hiện trên 222 vị thành niên thừa cân, béo phì và 616 vị thành niên có tình trạng dinh
dưỡng bình thường (theo tiêu chuẩn của Tổ chức phòng chống béo phì quốc tế (International Obesity
Taskforce, IOTF). Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố bảo vệ bao gồm ăn bữa phụ; ăn bữa
phụ trước hoặc sau bữa chính ít nhất 2 giờ; sử dụng sữa và các sản phẩm từ sữa trong bữa phụ; thích
trái cây. Các yếu tố nguy cơ bao gồm thích thức ăn giàu chất béo, thích thức ăn ngọt, thích thức ăn
nhanh, thích nước ngọt có ga, không ăn sáng, ăn bữa phụ trước khi ngủ. Mô hình dự đoán thừa cân,
béo phì tốt nhất được xây dựng từ phân tích hồi quy logistic gồm 8 trong số các thói quen ăn uống
kể trên với giá trị AUC (Area Under the Curve) là 0,931. Như vậy, thói quen ăn uống có liên quan
chặt chẽ đến tình trạng thừa cân, béo phì ở vị thành niên 11 - 14 tuổi tại Hà Nội.
Từ khóa: thói quen ăn uống, thừa cân, béo phì, vị thành niên, yếu tố nguy cơ.
1. Mở đầu*
Tình trạng thừa cân, béo phì ở lứa tuổi vị
thành niên ngày một tăng nhanh dẫn đến những
hậu quả nghiêm trọng về cả thể chất và tinh thần,
tạo nên gánh nặng cho ngành y tế và xã hội [1].
Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (World
Health Organization, WHO) thì các chi phí trực
tiếp cho điều trị béo phì chiếm tới 6,8% (hay 70
tỉ đô la Mꢀ) trong tổng chi phí cho chăm sóc sức
khoꢁ [2]. Béo phì làm tăng nguy cơ mắc các bệnh
mạn tính không lây nguy hiểm như bệnh nội tiết,
tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, tim mạch, ung
thư, viêm xương khớp,... [3]. Bên cạnh đó, béo
phì còn là một trong những nguyên nhân dẫn đến
dậy thì sớm, làm ngừng tăng trưởng chiều cao
sớm đồng thời còn gây ra những ảnh hưởng nặng
nề về tâm lý ở trꢁ như tự ti, nhút nhát, kém hòa
________
* Tác giả liên hệ.
Địa chỉ email: [email protected]
N.T.H. Hanh et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 1 (2021) 90-101
92
đồng. Đặc biệt, tình trạng thừa cân, béo phì trong
giai đoạn dậy thì có thể ảnh hưởng đến sức khoꢁ
trong giai đoạn trưởng thành nếu không có biện
pháp can thiệp và phòng ngừa từ sớm [4].
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Một nghiên cứu bệnh - chứng được tiến hành
trên học sinh trong độ tuổi 11 đến 14 tại 9 trường
trung học cơ sở (THCS) tại Hà Nội gồm: THCS
Ái Mộ (quận Long Biên), THCS Ngô Sꢀ Liên
(quận Hoàn Kiếm), THCS Đống Đa (quận Đống
Đa), THCS Thượng Thanh (quận Long Biên),
THCS Ngô Gia Tự (quận Long Biên), THCS
Mai Dịch (quận Cầu Giấy), THCS Hermann
Gmeiner Hà Nội (quận Cầu Giấy), THCS Mꢀ
Đình (quận Nam Từ Liên), THCS Phụng
Thượng (huyện Phúc Thọ). Các trường được
chọn vào nghiên cứu theo phương pháp chọn
mẫu ngẫu nhiên. Học sinh tại mỗi trường được
lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu theo cụm.
Các đối tượng bị mắc các bệnh cấp tính, bị gù,
vẹo cột sống bẩm sinh và mắc các bệnh mạn tính
như lao, HIV/AIDS, các bệnh về thần kinh, tim
mạch, những học sinh bị thừa cân, béo phì do
dùng một số thuốc như corticoid được loại trừ
khỏi nghiên cứu.
Trong những năm gần đây, tỉ lệ thừa cân ở
tuổi vị thành niên tăng lên đáng kể. Nghiên cứu
năm 2013 tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỉ
lệ thừa cân và béo phì ở trꢁ 11 - 14 tuổi lần lượt
là 17,8% và 3,2% [5]. Một cuộc khảo sát được
thực hiện vào năm 2014 tại bốn trường công lập
tại nội thành Hà Nội trên 821 học sinh 11 - 12
tuổi cho thấy có tới 17,1% trꢁ thừa cân và 19,1%
trꢁ béo phì theo tiêu chuẩn của WHO [6]. Nghiên
cứu năm 2020 trên trên 2788 vị thành niên 11 -
14 tuổi cho thấy tỉ lệ thừa cân, béo phì trên cả
nước lần lượt là 17,1% và 5,4% theo tiêu chuẩn
của Tổ chức phòng chống béo phì quốc tế
(International Obesity Taskforce, IOTF) [7].
Nguyên nhân dẫn đến thừa cân, béo phì là do
sự tương tác giữa yếu tố môi trường và yếu tố di
truyền. Trong đó, chế độ ăn và thói quen ăn uống
không lành mạnh đã được chỉ ra là một trong
những yếu tố chính làm tăng nguy cơ mắc thừa
cân, béo phì [6]. Chế độ ăn uống cân bằng là cơ
sở cho sự tăng trưởng và phát triển của vị thành
niên. Các thói quen ăn uống như chế độ ăn dư
thừa năng lượng, thức ăn giàu chất béo, ăn nhiều
đường và muối, không ăn sáng, uống nước ngọt
có ga đã được chỉ ra rằng có liên quan đến thừa
cân, béo phì [8]. Những thói quen ăn uống được
hình thành từ nhỏ và củng cố trong suốt giai đoạn
trưởng thành sẽ rất khó thay đổi [9]. Hiểu được
mối quan hệ giữa tình trạng dinh dưỡng và lối
sống, bao gồm cả thói quen dinh dưỡng, là cần
thiết để dự phòng và điều trị hiệu quả bệnh béo
phì ở thanh niên.
Nhóm bệnh là học sinh mắc thừa cân, béo phì
(222 học sinh); nhóm chứng là học sinh có tình
trạng dinh dưỡng bình thường (616 học sinh). Cỡ
mẫu đảm bảo theo công thức tính cỡ mẫu cho
nghiên cứu bệnh - chứng [10].
2.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán
Tình trạng dinh dưỡng của trꢁ được xác định
theo tiêu chuẩn của IOTF, 2007. Tình trạng dinh
dưỡng được đánh giá qua giá trị chỉ số khối cơ
thể (BMI, Body Mass Index) theo tuổi và giới
tính, điểm cắt giới hạn để xác định “thừa cân” và
“béo phì” tương đương với BMI lần lượt là 25 và
30 kg/m2 ở tuổi 18 [11].
Việc phân tích những yếu tố nguy cơ từ thói
quen ăn uống là cơ sở để đưa ra những khuyến
cáo và đề xuất các biện pháp kịp thời, nhằm giảm
thiểu tỉ lệ thừa cân, béo phì ngay từ lứa tuổi vị
thành niên. Do đó, nghiên cứu này được tiến
hành nhằm mục đích phân tích mối liên quan của
một số thói quen ăn uống với thừa cân, béo phì ở
học sinh 11 - 14 tuổi tại Hà Nội. Từ đó, xây dựng
mô hình dự đoán thừa cân, béo phì từ thói quen
ăn uống. Đây là cơ sở để đề xuất các biện pháp
dự phòng thừa cân, béo phì ở lứa tuổi học đường.
2.3. Các phương pháp thu thập số liệu
2.3.1. Phương pháp đo chiều cao
Đo chiều cao bằng thước đứng. Kết quả đo
được tính bằng cm, đo lặp lại 2 lần và lấy giá trị
trung bình. Thước gỗ được đặt theo chiều thẳng
đứng, vuông góc với mặt đất, áp sát vào tường.
N.T.H. Hanh et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 1 (2021) 90-101
93
2.4. Phân tích thống kê
Đối tượng được đo đi chân không, không buộc
tóc cao, đứng áp lưng vào thước, mắt nhìn thẳng
sao cho 9 điểm: chẩm, hai vai, hai mông, hai bắp
chân và hai gót chân áp sát vào thước. Vai và hai tay
buông xuôi tự nhiên, chân thẳng, hai đầu gối chạm
vào nhau. Dùngthước gỗ áp sátđỉnhđầu, vuông góc
với thước đo, đọc và ghi lại kết quả đo [12].
Tất cả số liệu được kiểm tra, làm sạch trước
khi nhập và phân tích kết quả. Sử dụng phần
mềm Epidata 3.1 để nhập và quản lý số liệu. Kết
quả được phân tích bằng phần mềm Excel 2010,
SPSS 16.0 với các test thống kê dùng trong y
sinh học. Số liệu phân tích được trình bày theo
bảng tỉ lệ, trung bình. Các biến định lượng được
trình bày dưới dạng số trung bình ± độ lệch
2.3.2. Phương pháp đo cân nặng và tỉ lệ mỡ
cơ thể
̅
chuẩn (푋 ± 푆퐷) với biến phân phối chuẩn hoặc
Cân nặng và các chỉ số tỉ lệ mỡ cơ thể, tỉ lệ
cơ xương, tỉ lệ mỡ dưới da được đo bằng cân
ORMON (HBF 362, Nhật Bản). Cân được đặt ở
nền nhà bằng phẳng, không trải thảm. Nhập các
dữ liệu cá nhân của trꢁ (tuổi, giới tính, chiều cao)
trước khi cân đo. Khi cân đo, trꢁ mặc ít quần áo,
bỏ giày dép. Trꢁ bước chân trần lên máy, hai gót
chân đặt vào hai điện cực, lưng thẳng, tay giơ
ngang, duỗi thẳng tay sao cho tạo thành 1 góc
90o so với cơ thể, đầu gối thẳng, mắt nhìn thẳng
phía trước và giữ màn hình sao cho có thể nhìn
thẳng thấy màn hình của máy. Đợi máy hiển thị
số liệu, đọc và ghi lại kết quả.
trung vị (25th - 75th percentiles) với biến phân
phối không chuẩn.
Các biến định lượng được so sánh bằng kiểm
định Student t-test đối với biến phân phối chuẩn;
kiểm định Man-Withney- U-test hoặc Kruskall-
Wallis test đối với các biến phân phối không
chuẩn. Các biến định tính được so sánh bằng
kiểm định Chi-square test hoặc Fisher Exact test.
Các giá trị có ý nghĩa thống kê khi P < 0,05 theo
2 phía.
Ảnh hưởng của các yếu tố nguy cơ đến thừa
cân, béo phì được phân tích bằng phương pháp
hồi quy logistic đơn biến và đa biến. Mô hình dự
đoán tối ưu đối với thừa cân, béo phì được xác
định bằng phương pháp phân tích backward liên
tục. Đường cong ROC (Receiver Operating
Characteristic) được vẽ với trục tung biểu diễn
độ nhạy (Se), trục hoành biểu diễn 1 trừ độ đặc
hiệu (1-Sp). Ứng với mỗi giá trị của Se trên trục
tung, tìm được 1-Sp trên trục hoành. Nối các
điểm biểu diễn của cùng một chỉ số với nhau ta
có đường cong ROC của chỉ số đó. Đồng thời
xác định diện tích dưới đường cong AUC (Area
Under the Curve). Diện tích dưới đường cong
được tính để thể hiện độ chính xác của một test
chẩn đoán và giá trị sử dụng của mô hình dự
đoán. Tùy vào giá trị của AUC mà test chẩn đoán
được kết luận như sau [10]: AUC ≤ 0,5: test
không chính xác, mô hình không thể áp dụng
được. 0,5 < AUC ≤ 0,6: test có độ chính xác rất
thấp, không thể áp dụng được. 0,6 < AUC ≤ 0,7:
test có độ chính xác thấp. 0,7 < AUC ≤ 0,8: test
có độ chính xác trung bình. 0,8 < AUC ≤ 0,9: test
có độ chính xác cao, mô hình dự đoán tốt. AUC
> 0,9 - 1: test có độ chính xác rất cao, mô hình
dự đoán rất tốt.
2.3.3. Phương pháp đo vòng eo, vòng mông
Sử dụng thước dây không co dãn để đo chu
vi vòng eo và vòng mông. Kết quả đo tính bằng
cm, đo lặp lại 2 lần và lấy giá trị trung bình. Trꢁ
đứng thẳng, trọng lượng dồn đều lên hai chân.
Chu vi vòng eo được đo ở giữa xương sườn số
12 và gai chậu trước khi trꢁ thở ra hết, vòng
thước dây song song với mặt phẳng ngang. Chu
vi vòng mông được đo ở mức ngang 2 mấu
chuyển xương đùi, người đo đứng bên cạnh trꢁ,
kéo thước dây vừa chặt [12].
2.3.4. Phương pháp thu thập thông tin về thói
quen ăn uống
Sử dụng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn để thu
thập thông tin của học sinh gồm: Tốc độ ăn; số
bữa ăn trong ngày; có hay không ăn bữa phụ; thời
điểm và thực phẩm sử dụng trong bữa phụ; sở
thích ăn uống (rau, trái cây, nước ngọt có ga,
thức ăn giàu chất béo, thức ăn ngọt, thức ăn sẵn,
nội tạng động vật); có hay không ăn bữa sáng.
N.T.H. Hanh et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 1 (2021) 90-101
94
về tuổi, giới và chiều cao giữa nhóm bệnh và
nhóm chứng. Tỉ lệ cơ xương ở nhóm chứng cao
hơn so với nhóm bệnh trong khi cân nặng, chu vi
vòng mông, chu vi vòng eo, BMI, tỉ lệ mỡ dưới
da, tỉ lệ mỡ cơ thể ở nhóm bệnh đều cao hơn đáng
kể so với các giá trị này ở nhóm chứng (p < 0,001).
3. Kết quả
3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Kết quả về đặc điểm đối tượng nghiên cứu
được thể hiện ở Bảng 1. Không có sự khác nhau
Bảng 1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Nhóm chứng
(n = 616)
13,2 (12,2 - 13,9)
Nhóm bệnh
p
Chỉ số
(n = 222)
Tuổi (năm)b
12,9 (11,6 - 13,5)
128 (57,7% )
155,2 ± 8,7
0,065
Giới tính nam (n, %)c
Chiều cao (cm)a
323 (52,4%)
154,4 ± 8,4
0,650
0,275
Cân nặng (kg)a
43,7 ± 6,8
56,6 ± 10,7
<0,001
<0,001
<0,001
<0,001
<0,001
<0,001
0,005
Chu vi vòng mông (cm)a
Chu vi vòng eo (cm)b
BMI (Kg/m2)b
83,7 ± 5,5
91,9 ± 8,1
66,0 (62,0 - 70,0)
18,1 (16,9 - 19,4 )
14,6 ± 4,6
77 (71,0 - 83,0)
22,7 (21,4 - 25,0)
18,7 ± 4,9
Tỉ lệ mỡ dưới da (%)a
Tỉ lệ mỡ cơ thể (%)b
Tỉ lệ cơ xương (%)a
19,4 (15,3 - 21,8)
33,1 ± 5,4
24,6 (21,5 - 26,7)
30,9 ± 4,2
aCác biến tuân theo phân phối chuẩn được biểu diễn bằng giá trị trung bình và độ lệch chuẩn, p nhận được từ
kiểm định Student’s t - test; bCác biến không tuân theo phân phối chuẩn được biểu diễn bằng trung vị và 25th -
75th percentile, p nhận được từ kiểm định Mann - Withney U test; cBiến định tính, p nhận được từ kiểm định Chi-
square test; BMI: chỉ số khối cơ thể.
3.2. Mối liên quan giữa tốc độ ăn và ăn bữa phụ
với thừa cân, béo phì ở vị thành niên 11 - 14 tuổi
tại Hà Nội
2 giờ làm giảm nguy cơ mắc thừa cân, béo phì
(OR = 0,05; p < 0,001) trong khi ăn bữa phụ ngay
sau khi ngủ có xu hướng làm tăng nguy cơ mắc
thừa cân, béo phì (OR = 1,5; p = 0,081).
Sử dụng sữa và các sản phẩm từ sữa trong
bữa phụ làm giảm nguy cơ mắc thừa cân, béo phì
(OR = 0,01; p < 0,0001) trong khi sử dụng đồ ăn
nhanh trong bữa phụ làm tăng nguy cơ mắc thừa
cân, béo phì (OR = 1,7; p = 0,012).
Kết quả của ghiên cứu này còn tìm thấy mối
liên quan mạnh giữa việc không ăn sáng với
nguy cơ mắc thừa cân, béo phì ở trꢁ 11 - 14 tuổi
tại Hà Nội (OR = 19,9, p < 0,001).
Kết quả phân tích mối liên quan giữa thói
quen ăn uống ở vị thành niên từ 11 - 14 tuổi tại
Hà Nội được trình bày ở Bảng 2.
Kết quả ở Bảng 2 cho thấy những học sinh
có ăn bữa phụ có nguy cơ mắc thừa cân, béo phì
thấp hơn những học sinh không ăn bữa phụ (OR
= 0,5; p < 0,0001). Đồng thời, thời điểm ăn bữa
phụ và loại thực phẩm sử dụng trong bữa phụ có
mối liên quan mạnh đến thừa cân, béo phì. Ăn
bữa phụ trước hoặc sau khi ăn bữa chính ít nhất
N.T.H. Hanh et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 1 (2021) 90-101
95
Bảng 2. Mối liên quan giữa tốc độ ăn và đặc điểm ăn bữa phụ với thừa cân, béo phì
ở vị thành niên 11 - 14 tuổi tại Hà Nội
Nhóm chứng
n (%)
Nhóm bệnh
n (%)
Đặc điểm
Tốc độ ăn
OR (95%CI)
P
Ăn bình thường
( 30 - 40 phút)
325 (52,8%)
128 (57,7%)
1
Ăn nhanh (< 20 phút)
273 (44,3%)
18 (2,9%)
89 (40,1%)
5 (2,3%)
0,8 (0,6-1,1)
0,7 (0,3-1,9)
0,239
0,811
Ăn chậm (> 50 phút)
Ăn bữa phụ
Không ăn
150 (24,4%)
466 (75,6%)
88 (39,6%)
1
Có ăn
134 (60,4%)
0,5 (0,4-0,7)
< 0,001
Thức ăn sử dụng trong bữa phụ
Không ăn bữa phụ
Các sản phẩm từ tinh bột
Sữa và các sản phẩm từ sữa
Đồ ăn nhanh
150 (24,4%)
55 (8,9%)
88 (39,6%)
35 (15,8%)
2 (0,9%)
1
1,1 (0,7-1,8)
0,01 (0,0-0,1)
1,7 (1,1-2,5)
0,749
310 (50,3%)
101 (16,4%)
< 0,001
0,012
97 (43,7%)
Thời điểm ăn bữa phụ
Không ăn
140 (24,4%)
76 (12,3%)
88 (39,6%)
65 (29,3%)
1
Trước khi ngủ
1,5 (0,9-2,2)
0,081
0,371
Trong vòng 1 giờ trước hoặc sau
khi ăn
Trước hoặc sau khi ăn ít nhất 2
giờ
125 (20,3%)
265 (43,0%)
61 (27,5%)
8 (2,9%)
0,8 (0,6-1,2)
0,05 (0,02-0,11)
< 0,001
Ăn sáng
Có ăn sáng
604 (98,1%)
12 (1,9%)
159 (71,6%)
159 (28,4%)
1
Không ăn sáng
19,9 (10,5-37,9)
< 0,001
P nhận được từ phân tích hồi quy logistic đa biến điều chỉnh theo tuổi và giới; 95%CI (95% Confidence
interval): khoảng tin cậy 95%; giá trị % so với số trꢁ trong cùng nhóm.
3.3. Mối liên quan giữa sở thích ăn uống với thừa
cân, béo phì ở vị thành niên 11 - 14 tuổi tại Hà Nội
làm tăng nguy cơ thừa cân, béo phì ở trꢁ với OR
lần lượt là 1,6 (p = 0,008); 2,1 (p < 0,001); 1,7 (p
= 0,001) và 1,5 (p = 0,019). Trong khi đó, trꢁ
thích ăn trái cây có nguy cơ mắc thừa cân, béo
phì thấp hơn so với những trꢁ không thích ăn trái
cây (OR = 0,7; p = 0,039).
Mốiliênquan giữa sởthíchăn uốngvàthừacân,
béo phì được thể hiện qua Bảng 3. Các đặc điểm
thích thức ăn giàu chất béo, thích thức ăn ngọt,
thích thức ăn nhanh, thích uống nước ngọt có ga
N.T.H. Hanh et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 1 (2021) 90-101
96
Bảng 3. Mối liên quan giữa sở thích ăn uống và thừa cân, béo phì ở vị thành niên từ 11 - 14 tuổi tại Hà Nội
Nhóm chứng
n (%)
Nhóm bệnh
n (%)
Đặc điểm
OR (95%CI)
p
Ăn rau
Không thích
Thích
405 (65,7%)
211 (34,3%)
148 (66,7%)
74 (33,3%)
1
0,8 (0,6-1,1)
0,231
0,039
0,008
<0,001
0,019
0,001
0,217
Trái cây
Không thích
Thích
197 (32,0%)
419 (68,0%)
88 (39,6%)
1
134 (60,4%)
0,7 (0,5-0,9)
Thức ăn giàu chất béo
Không thích
Thích
227 (36,9%)
398 (63,1%)
60 (27,0%)
1
162 (73,0%)
1,6 (1,1-2,2)
Thức ăn ngọt
Không thích
Thích
330 (53,6%)
286 (46,4%)
78 (35,1%)
1
144 (64,9%)
2,1 (1,5-2,9)
Nước ngọt có ga
Không thích
Thích
298 (48,4%)
318 (51,6%)
87 (39,2%)
1
135 (60,8%)
1,5 (1,1-2,0)
Thức ăn nhanh
Không thích
Thích
309 (50,2%)
306 (49,8%)
83 (37,4%)
1
139 (62,6%)
1,7 (1,2-2,3)
Nội tạng động vật
Không thích
Thích
559 (90,7%)
57 (9,3%)
195 (87,8%)
27 (12,2%)
1
1,4 (0,8-2,2)
P nhận được từ phân tích hồi quy logistic đa biến điều chỉnh theo tuổi và giới; 95%CI (95% Confidence
interval): khoảng tin cậy 95%; giá trị % so với số trꢁ trong cùng nhóm.
3.4. Phân tích tổng hợp mối liên quan của thói
quen ăn uống với thừa cân béo phì ở vị thành
niên 11 - 14 tuổi tại Hà Nội
Tuổi và giới là các yếu tố gây nhiễu có thể
ảnh hưởng tới tất cả các biến trong mô hình, các
yếu tố màu xanh bao gồm ăn bữa phụ, sử dụng
sữa và các sản phẩm từ sữa trong bữa phụ, thích
trái cây làm giảm nguy cơ thừa cân, béo phì với
hệ số thể hiện mức độ ảnh hưởng lần lượt là -
1,2; -5,4 và -0,2. Các yếu tố làm tăng nguy cơ
bao gồm thích thức ăn giàu chất béo, thích thức
ăn ngọt, thích thức ăn nhanh, thích nước ngọt có
ga, không ăn sáng, ăn bữa phụ trước khi ngủ.
Trong đó, ăn bữa phụ trước khi ngủ có mức độ
ảnh hưởng lớn nhất ( = 4,2; p < 0,001).
3.4.1. Hệ số ảnh hưởng của một số thói quen
ăn uống với thừa cân béo phì ở vị thành niên 11
- 14 tuổi tại Hà Nội
Kết quả các yếu tố liên quan đến thừa cân,
béo phì và hệ số ảnh hưởng của từng yếu tố được
thể hiện ở Hình 1. Các yếu tố có ý nghĩa thống
kê với nguy cơ thừa cân, béo phì ở vị thành niên
11 - 14 tuổi tại Hà Nội được đưa vào phân tích
đa biến hồi quy logistic để đánh giá mức độ ảnh
hưởng, kết quả thể hiện ở Hình 1.
N.T.H. Hanh et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 1 (2021) 90-101
97
Chú thích: Màu xanh: yếu tố làm giảm nguy cơ; màu đỏ: yếu tố làm tăng nguy cơ
Hình 1. Các yếu tố liên quan và hệ số ảnh hưởng đến thừa cân, béo phì ở vị thành niên 11 - 14 tuổi tại Hà Nội.
Mô hình
1
2
3
4
5
Tuổi
Giới
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
Thích ngọt có ga
Thích thức ăn giàu chất béo
Thích ăn trái cây
Thích thức ăn ngọt
Thích thức ăn nhanh
Ăn bữa phụ
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
Không ăn sáng
Ăn bữa phụ trước khi ngủ
Sử dụng sữa và các sản phẩm từ
sữa trong bữa phụ
AUC
0,934
0,935
0,932
0,932
0,931
Chú thích: AUC: Area under the curve; X: Có
Hình 2. Mô hình phân tích hồi quy logistic đa biến các yếu tố liên quan đến thừa cân, béo phì ở vị thành niên 11
- 14 tuổi tại Hà Nội sử dụng phương pháp backward liên tục.
Hình 3. Biểu đồ đường cong ROC của mô hình dự đoán thừa cân, béo phì ở vị thành niên 11 - 14 tuổi tại Hà Nội.
N.T.H. Hanh et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 1 (2021) 90-101
98
3.4.2. Mô hình dự đoán thừa cân, béo phì ở
vị thành niên 11 - 14 tuổi tại Hà Nội
bổ thời gian cho các bữa ăn có liên quan chặt chẽ
đến việc giảm cân nặng. Nghiên cứu trên 8.153
người từ 40 - 54 tuổi cho thấy, ăn trước khi ngủ
làm tăng nguy cơ béo phì lên 2,11 lần (95%CI =
1,42-3,15) ở nam và 3,02 lần (95%CI = 1,72-
5,29) ở nữ [14].
Mô hình phân tích hồi quy logistic đa biến
theo phương pháp backward liên tục và biểu đồ
đường cong ROC các yếu tố liên quan đến thừa
cân, béo phì ở trꢁ thể hiện ở Hình 2 và Hình 3.
Khi đưa các biến liên quan đến thiếu cân vào mô
hình backward liên tục, có 5 mô hình được lựa
chọn để dự đoán nguy cơ thừa cân, béo phì ở trꢁ
với giá trị AUC dao động từ 0,931 - 0,935 với
khả năng dự đoán ở mức rất tốt. Trong đó, mô
hình thứ 5 có ít yếu tố nhất nhưng có giá trị AUC
tương đương với các mô hình còn lại nên được
chọn làm mô hình dự đoán thừa cân, béo phì từ
yếu tố thói quen ăn uống và hoạt động thể lực ở
trꢁ 11 - 14 tuổi tại Hà Nội.
Bữa phụ cần đảm bảo cân đối giữa 3 nhóm
chất dinh dưỡng chính bao gồm đạm, béo, đường
bột, đồng thời cần bổ sung vitamin và khoáng
chất. Ngược lại, nếu cho trꢁ ăn thêm bữa phụ
không đúng cách như cho trꢁ ăn quá nhiều thức
ăn trong bữa phụ dẫn đến dư thừa năng lượng,
cho trꢁ ăn những thực phẩm ăn nhanh, thực phẩm
chiên rán,… sẽ làm tăng nguy cơ mắc béo phì
[13]. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh vai trò
của sữa trong chế độ ăn giúp phát triển chiều cao
và kiểm soát cân nặng, đặc biệt là đối với trꢁ vị
thành niên [15]. Nghiên cứu thuần tập (nghiên
cứu theo thời gian) trên 50 trꢁ không uống sữa
và 200 trꢁ uống sữa cho thấy, những trꢁ không
uống sữa có chiều cao thấp hơn, khung xương
nhỏ hơn, hàm lượng khoáng chất trong xương
thấp hơn và mật độ xương thấp hơn so với những
trꢁ cùng tuổi và giới tính trong cùng cộng đồng.
Hơn nữa, những người trꢁ không uống sữa có chỉ
số BMI cao hơn [16].
Kết quả của ghiên cứu này còn tìm thấy mối
liên quan mạnh giữa việc không ăn sáng với
nguy cơ mắc thừa cân, béo phì ở vị thành niên.
Bữa sáng là bữa ăn quan trọng nhất trong ngày
do bữa sáng cung cấp năng lượng và những
dưỡng chất cần thiết cho cơ thể sau khoảng thời
gian dài (qua đêm), tạo năng lượng cho cơ thể
hoạt động. Việc bỏ bữa sáng có thể làm giảm
năng lượng cung cấp cho cơ thể trong ngày. Tuy
nhiên, nếu bỏ bữa sáng nhưng tăng khẩu phần ăn
của bữa trưa thì có thể làm tăng năng lượng cung
cấp cho cơ thể. Theo nghiên cứu của Junior và cs
(2012) trên trꢁ 6 - 16 tuổi thừa cân béo phì, việc
ăn đầy đủ bữa sáng làm giảm nguy cơ béo phì và
rối loạn lipid máu [17].
4. Thảo luận
Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng, ăn bữa
phụ cũng như thời điểm và loại thực phẩm sử
dụng trong bữa phụ có liên quan chặt chẽ đến
thừa cân, béo phì ở vị thành niên 11 - 14 tuổi tại
Hà Nội. Bữa phụ là cách gọi để phân biệt với 3
bữa ăn chính trong ngày (bữa sáng, bữa trưa và
bữa tối). Dù được gọi là bữa ăn phụ nhưng vai
trò của các bữa ăn này có vai trò quan trọng đối
với sự phát triển của trꢁ em và vị thành niên. Vị
thành niên có nhu cầu năng lượng xấp xỉ so với
người lớn nhưng dung tích dạ dày lại nhỏ hơn.
nên không thể ăn đủ lượng thức ăn so với nhu
cầu năng lượng chỉ bằng 3 bữa ăn chính như
người lớn. Đối với trꢁ lứa tuổi học đường, ngoài
3 bữa chính ăn trên lớp và cùng gia đình thì được
khuyến nghị nên cho ăn thêm 1 - 2 bữa phụ/ngày
giúp đáp ứng tốt hơn nhu cầu dinh dưỡng của trꢁ.
Bên cạnh đó, bữa ăn phụ không những giúp đa
dạng hóa khẩu phần ăn, đảm bảo nguồn dinh
dưỡng dồi dào cho trꢁ mà còn tạo ra sự khác biệt
về khẩu vị làm trꢁ thấy ngon miệng. Một số
nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc ăn thêm bữa phụ
làm giảm nguy cơ mắc béo phì ở trꢁ [13].
Kết quả của nghiên cứu cũng đã chỉ ra sở
thích ăn uống có liên quan đến thừa cân, béo phì
ở vị thành niên 11 - 14 tuổi tại Hà Nội. Đặc điểm
thích thức ăn nhanh, thức ăn giàu chất béo, thức
ăn ngọt, nước ngọt có ga làm tăng nguy cơ thừa
cân, béo phì. Thức ăn nhanh, thức ăn giàu chất
Bên cạnh đó, theo các chuyên gia dinh
dưỡng, thời gian xen kẽ giữa các bữa chính và
bữa phụ nên cách nhau khoảng 2 giờ [13]. Một
số nghiên cứu đã chỉ ra rằng thời điểm ăn, phân
N.T.H. Hanh et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 1 (2021) 90-101
99
béo, thức ăn ngọt chứa hàm lượng chất béo,
đường cao, làm tăng cân. Đồng thời, chất béo
(acid béo no) trong thức ăn nhanh còn nguy hại
cho trꢁ em và vị thành niên vì quy trình chế biến
đồ ăn nhanh luôn thực hiện ở nhiệt độ cao khiến
dầu chiên bị hydro hóa, sản sinh ra acid béo có
hại. Phân tích tổng hợp từ 16 nghiên cứu (6
nghiên cứu cắt ngang, 7 nghiên cứu thuần tập và
3 thử nghiệm) đã chỉ ra tác động của việc tiêu thụ
thức ăn nhanh ở vị thành niên làm tăng nguy cơ
béo phì [18]. Nghiên cứu thuần tập trên 24.776
ngườitrưởngthànhPhápcũngchothấysởthíchchất
béo làm tăng nguy cơ béo phì (p < 0,001) ở cả hai
giới trong khi cảm giác thích ăn ngọt làm giảm nguy
cơ béo phì [19]. Các nghiên cứu thực nghiệm đã báo
cáo không có sự khác biệt về mức độ thích thức
ăn ngọt trên BMI hoặc thậm chí là mức độ thích
thức ăn ngọt thấp hơn ở những người béo phì
[7,15,18,19] và một nghiên cứu đã báo cáo mức
độ thích thức ăn ngọt cao ở những người gầy
nhưng không thích ở những người béo phì [20].
Các nghiên cứu về mối liên quan giữa sở thích
ăn ngọt và béo phì vẫn còn nhiều tranh cãi. Sự
khác biệt trong kết qủa có thể là do cảm giác
thích ngọt thường thay đổi theo các kích thích
nên các kiểu phản ứng liên quan đến thích ngọt
riêng biệt được xác định ở những cá nhân khác
nhau [20].
mật và acid mật, do đó làm giảm béo phì. Bên
cạnh đó, hoa quả còn bổ sung vitamin, khoáng
chất, acid folic, pectin, acid acetic có lợi cho sức
khỏe giúp phòng chống nguy cơ mắc bệnh tim
mạch. Theo nghiên cứu của Hung và cs (2004),
ăn hoa quả làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch
với OR = 0,87 (0,80 - 0,94). Trꢁ thường xuyên
ăn đồ ăn chiên rán và chế biến sẵn có nồng độ
LDL-C và TG cao hơn so với những trꢁ có chế
độ ăn hợp lý, nhiều chất xơ, ít chất béo [20].
Từ những yếu tố này, mô hình dự đoán thừa
cân, béo phì đã được xây dựng, sử dụng kĩ thuật
ROC - là kĩ thuật được sử dụng rộng rãi trong
các thử nghiệm chẩn đoán y sinh [10] nói chung
và trong xây dựng mô hình dự đoán béo phì nói
riêng [22]. Tuy nhiên, các biến đưa vào mô hình
dự đoán còn ít, mới chỉ dừng lại ở phân tích các
yếu tố về thói quen ăn uống. Do vậy, trong tương
lai, nghiên cứu cần phân tích thêm các yếu tố
hoạt động thể chất và lối sống để xây dựng các
mô hình dự đoán thừa cân, béo phì ở vị thành
niên chính xác hơn.
5. Kết luận
Các thói quen ăn uống liên quan đến thừa
cân, béo phì bao gồm:
- Các yếu tố bảo vệ: ăn bữa phụ; ăn bữa phụ
trước hoặc sau bữa chính ít nhất 2 giờ; sử dụng
sữa và các sản phẩm từ sữa trong bữa phụ; thích
trái cây.
- Các yếu tố nguy cơ: thích thức ăn giàu chất
béo, thích thức ăn ngọt, thích thức ăn nhanh,
thích nước ngọt có ga, không ăn sáng, ăn bữa phụ
trước khi ngủ.
Mô hình dự đoán thừa cân, béo phì gồm:
thích thức ăn ngọt, thích thức ăn nhanh, thích ăn
trái cây, không ăn sáng, có ăn bữa phụ, ăn bữa
phụ trước khi ngủ, sử dụng sữa và các sản phẩm
từ sữa trong bữa phụ với giá trị AUC là 0,931.
Bên cạnh đó, sở thích uống nước có ga làm
tăng nguy cơ thừa cân, béo phì lên 1,5 lần (p =
0,019). Nhiều nghiên cứu đã chứng minh mối
tương quan giữa sự gia tăng béo phì và việc tiêu
thụ nước ngọt có ga. Nghiên cứu trên chuột đã
chỉ ra rằng, những con chuột tiêu thụ đồ uống có
ga trong 1 năm sẽ tăng cân với tốc độ nhanh hơn
so với những con chuột uống nước máy thông
thường. Điều này là do đồ uống có ga làm mức
độ hormone ghrelin tăng cao (gấp hơn 20 lần) và
do đó lượng thức ăn tiêu thụ ở chuột uống đồ
uống này nhiều hơn so với chuột đối chứng [21].
Ngược lại, kết quả của nghiên cứu cho thấy
những trꢁ thích ăn trái cây có xu hướng giảm
nguy cơ mắc thừa cân, béo phì. Trong trái cây có
chứa lượng lớn chất xơ (polysaccharide).
Polysaccharide hoạt động trong đường ruột làm
giảm cholesterol máu bằng cách giảm hấp thu
cholesterol, acid béo hoặc giảm hấp thu muối
Lời cảm ơn
Đề tài được sự hỗ trợ của quý đồng nghiệp
tại Viện Dinh dưỡng Quốc gia, giáo viên, phụ
N.T.H. Hanh et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 1 (2021) 90-101
100
environment, Annals
Environmental Medicine 19 (2012) 557-561.
PMID: 23020056.
of
Agricultural
and
huynh và học sinh các trường THCS tham gia
vào nghiên cứu.
e?articleId=2116928
[10] N.V. Tuan, Evidence-Based Medicine, Medical
publisher, Hanoi, 2008 (in Vietnamese).
[11] T.J. Cole, M.C. Bellizzi, K.M. Flegal, and W.H.
Dietz, Establishing a standard definition for child
overweight and obesity worldwide: international
survey, Bmj 320 (2000) 1240-1245.
Tài liệu tham khảo
[1] A.S. French, M. Story and C.L. Perry, Self-esteem
and obesity in children and adolescents: a literature
review, Obesity Research 3 (1995) 479-490.
[2] E.A. Finkelstein, C.J. Ruhm, and K.M. Kosa,
Economic causes and consequences of obesity,
Annual Review of Public Health 26 (2005) 239-257.
304.144628 ꢀ
[12] L.T. Hop và Huynh Phuong Nam, Assessment of
nutritional status using anthropometric variables,
Journal of Food and Nutrition Sciences 7 (2011) 1-
7 (in Vietnamese).
[13] X. Guo, L. Zheng, Y. Li Y, S. Yu, G. Sun, H. Yang,
X. Zhou, X. Zhang, Z. Sun, and Y. Sun,
Differences in lifestyle behaviors, dietary habits,
and familial factors among normal-weight,
overweight, and obese Chinese children and
adolescents, International Journal of Behavioral
Nutrition and Physical Activity 9 (2012) 120-128.
[3] N.T.H. Hanh, L.T. Tuyet, D.T.A. Dao, Y. Tao, and
D.T. Chu, Childhood obesity is a high-risk factor
for hypertriglyceridemia: a case-control study in
Vietnam, Osong public health and research
perspectives 8 (2017) 138-146.
[4] J.K. Dibaise, and A.E. Foxx-Orenstein, Role of the
gastroenterologist in managing obesity, Expert
Review of Gastroenterology
(Review) 7 (2013) 439-451
&
Hepatology
[14] J. Yoshida, E. Eguchi, K. Nagaoka, T. Ito, and K.
Ogino, Association of night eating habits with
metabolic syndrome and its components:
a
[5] P.V.N. Nguyen, T.K. Hong, T. Hoang, and A.R.
Robert, High prevalence of overweight among
adolescents in Ho Chi Minh City, Vietnam, BMC
Public Health 13 (2013) 141-147.
longitudinal study, BMC Public Health 18 (2018)
6262-3
[15] L.A. Spence, C.J Cifelli, and G.D. Miller, The role
of dairy products in healthy weight and body
composition in children and adolescents, Current
[6] T.T.P. Pham, Y. Matsushita, L.T.K. Dinh, T.V. Do,
T.T.T. Nguyen, A.T. Bui, A.Q. Nguyen, and H.
Kajio, Prevalence and associated factors of
overweight and obesity among schoolchildren in
Hanoi, Vietnam, BMC public health 19 (2019) 1478-
[7] H.D. Phan, T.N.P. Nguyen, P.L. Bui, T.T. Pham, T.V.
Doan, D.T. Nguyen, and H.V. Minh, Overweight and
obesity among Vietnamese school-aged children:
National prevalence estimates based on the World
Health Organization and International Obesity Task
Force definition, PloS one 15 (2020) e0240459-
e0240478.
Nutrition
& Food Science 7 (2011) 40-49.
[16] R.E. Black, S.M. Williams, I.E. Jones, and A.
Goulding, Children who avoid drinking cow milk
have low dietary calcium intakes and poor bone
health, The American journal of clinical
nutrition 76 (2002) 675-680.
[17] I.F.F. Júnior, D.G. Christofaro, J.S. Codogno, P.A.
Monteiro, L.S. Silveira, and R.A. Fernandes, The
association between skipping breakfast and
biochemical variables in sedentary obese children
and adolescents, The Journal of pediatrics 161
(2012) 871-874.
[8] M. Zalewska, and E. Maciorkowska, Selected
nutritional habits of teenagers associated with
overweight and obesity, PeerJ 5 (2017) e3681-
[9] K. Sygit, W. Kollataj, M. Gozdziewska, M. Sygit,
B. Kollataj, and I.D. Karwat, Lifestyle as an
important factor in control of overweight and
obesity among schoolchildren from the rural
[18] R. Rosenheck, Fast food consumption and
increased caloric intake: a systematic review of a
trajectory towards weight gain and obesity risk,
Obesity reviews 9 (2008) 535-547.
N.T.H. Hanh et al. / VNU Journal of Science: Medical and Pharmaceutical Sciences, Vol. 37, No. 1 (2021) 90-101
101
[19] A. Lampuré, K. Castetbon, A. Deglaire, P. Schlich,
S. Péneau, S. Hercberg, and C. Méjean,
Associations between liking for fat, sweet or salt
and obesity risk in French adults: a prospective
cohort study. International Journal of Behavioral
Nutrition and Physical Activity 13 (2016) 74-88.
[20] H.C. Hung, K.J. Joshipura, E. Jiang, F.B. Hu, D.
Hunter, S.A. Smith-Warner, G.A. Colditz, B.
Rosner, D. Spiegelman, and W.C. Willett, Fruit
and vegetable intake and risk of major chronic
disease, Journal of the National Cancer Institute 96
(2004) 1577-1584.
[21] D.S. Eweis, F. Abed, and J. Stiban, Carbon dioxide
in carbonated beverages induces ghrelin release
and increased food consumption in male rats:
implications on the onset of obesity, Obesity
research & clinical practice 11 (2017) 534.
[22] M.K. Siddiqui, R. Morales-Menendez, and S.
Ahmad, Application of receiver operating
characteristics (ROC) on the prediction of obesity,
Brazilian Archives of Biology and Technology 63
(2020) e20190736-e20190749.
Bạn đang xem tài liệu "Eating habits associated with overweight and obesity: A case-control study of 11-14 year-old adolescents in Hanoi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
eating_habits_associated_with_overweight_and_obesity_a_case.pdf

