Đồ án Phân lập vi khuẩn lactic trong khoang miệng có khả năng ức chế sự tạo màng sinh học của một số Lactobacillus spp

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HỒ CHÍ MINH  
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
PHÂN LẬP VI KHUẨN LACTIC TRONG KHOANG MIỆNG  
CÓ KHẢ NĂNG ỨC CHẾ SỰ TẠO MÀNG SINH HỌC  
CỦA MỘT SỐ Lactobacillus spp.  
Ngành  
: Công nghệ sinh học  
: Công nghệ sinh học  
Chuyên ngành  
Giảng viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Hoài Hương  
TS. Nguyễn Hoàng Dũng  
Sinh viên thực hiện  
: Nguyễn Tuấn Anh  
MSSV: 1311100148 - Lớp: 13DSH02  
TP. Hồ Chí Minh, 2017  
Đồ án tốt nghiệp  
LỜI CAM ĐOAN  
Người thực hiện đề tài:  
Sinh viên trường:  
Khoa:  
Nguyễn Tuấn Anh  
Đại học Công Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh  
Công nghệ sinh học – Thực phẩm – Môi trường  
Công nghệ sinh học  
Ngành:  
Chuyên ngành:  
Lớp:  
Công nghệ sinh học  
13DSH02  
MSSV:  
1311100148  
Đồ án tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng  
dẫn của TS. Nguyễn Hoài Hương và TS. Nguyễn Hoàng Dũng, thực hiện tại Viện  
Sinh học Nhiệt đới và phòng thí nghiệm lầu 7 trường Đại học Công nghệ Thành phố  
Hồ Chí Minh. Những số liệu và kết quả phân tính trong đề tài này hoàn toàn trung  
thực, không sao chép từ bất kỳ nguồn tài liệu tham khảo nào khác dưới bất kỳ hình  
thức nào. Một số nội dung trong đồ án tốt nghiệp có tham khảo và sử dụng dữ liệu  
trích dẫn được công bố công khai trên các bài báo khoa học, website, tác phẩm theo  
danh mục tài liệu tham khảo của đồ án.  
Nếu có bất cứ sự sao chép và không trung thực trong bài báo này, người thực  
hiện đề tài xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước khoa Công nghệ sinh học – Thực  
phẩm – Môi trường và trươc ban giám hiệu trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ  
Chí Minh.  
Ngày … tháng … năm 2017  
Sinh viên thực hiện  
Nguyễn Tuấn Anh  
i
 
Đồ án tốt nghiệp  
LỜI CÁM ƠN  
Trong suốt quá trình học tập, rèn luyện và trau dồi kiến thức em đã gặp phải  
không ít lần khó khăn nhưng nhờ có sự quan tâm, giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của  
TS. Nguyễn Hoài Hương, cùng những kiến thức và kỹ năng cần thiết Cô truyền dạy  
mà em có thể hoàn thành được tốt đồ án tốt nghiệp lần này. Từ tận đáy con tim, em  
xin chân thành cám ơn cô Hoài Hương.  
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Dũng đã mở  
lòng nhận hướng dẫn em thực hiện đề tài tốt nghiệp tại Viện Sinh học Nhiệt đới  
(VSHND). Đây là một cơ hội cực kỳ quý báu mà thầy đã dành cho em, em xin cám  
ơn thầy Dũng rất nhiều.  
Ngoài ra, trên VSHND em còn nhận không ít sự giúp đỡ từ Thạc sĩ Lê Quỳnh  
Loan . Suốt thời gian làm việc và nghiên cứu tại VSHND, chị là người luôn bên cạnh  
và nhắc nhở em rất nhiều những điều cần thiết khi thực hiện các thí nghiệm nghiên  
cứu. Em xin cám ơn chị Loan.  
Ngoài ra, con xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến ba mẹ, gia đình, những người  
đã bên con và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho con trong quá trình thực hiện đồ án tốt  
nghiệp.  
Lời cuối cùng, em xin gửi lời chúc tới toàn thể quý thầy quý cô đang giảng  
dạy, nghiên cứu tại Viện Sinh học Nhiệt Đới cũng như tại Đại học thành phố Hồ Chí  
Minh, thật dồi dào sức khỏe, để tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền  
đạt kiến thức cho thế hệ mai sau.  
TP.HCM, ngày … tháng … năm 2017  
Sinh viên thực hiện  
Nguyễn Tuấn Anh  
ii  
 
Đồ án tốt nghiệp  
MỤC LỤC  
iii  
 
Đồ án tốt nghiệp  
iv  
Đồ án tốt nghiệp  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
Extracellular polymeric substance  
Decayed teeth  
EPS  
DT  
FT  
Filled teeth  
MT  
Missing teeth  
DFMT  
HA  
Decayed teeth, filled teeth, and missing teeths  
Hydroxyapatite  
LBS  
LAB  
MRS  
LBM  
OD600  
BG  
Lactobacillus Selection medium  
Lactic acid batería  
deMan, Rogosa and Sharpe  
Lactobacillus biofilm medium  
Opical density at 600 nm  
Biofilm group  
NBG  
Non-biofilm group  
v
 
Đồ án tốt nghiệp  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
vi  
 
Đồ án tốt nghiệp  
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH  
Hình 1.13. Cơ chế bảo vệ răng của các ion F- ..........................................................26  
vii  
 
Đồ án tốt nghiệp  
12R2a, 30B2b nhiều hơn so với chủng 21B2i ............................................................68  
viii  
Đồ án tốt nghiệp  
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Bệnh sâu răng là bệnh khá phổ biến, gây hậu quả ở nhiều mức độ về sức khoẻ  
răng miệng và sức khoẻ chung. Bệnh sâu răng được Tổ chức Y tế Thế giới (World  
Health Organization) xếp vào loại tai họa thứ ba của loài người sau bệnh ung thư và  
tim mạch. Tháng 5 năm 2007, tại hội nghị sức khỏe răng miệng thế giới lần thứ 60,  
các nước thành viên của Tổ chức Y tế Thế giới đã thông qua nghị quyết, đưa xúc tiến  
và phòng ngừa bệnh sâu răng vào quy hoạch phòng ngừa và điều trị tổng hợp bệnh  
mãn tính. Hiện nay, sức khỏe răng miệng là một trong 10 tiêu chuẩn lớn về sức khỏe  
theo xác định của Tổ chức Y tế Thế giới [1]. Vì vậy, việc chăm sóc, dự phòng bệnh  
sâu răng là một vấn đề lớn được chính phủ các nước quan tâm.  
Mối quan hệ giữa Lactobacillus spp. và sâu răng đã được xác định hơn một thế  
kỷ qua. Một số nhà khoa học cũng đã khảo sát và nhận thấy rằng mật độ Lactobacillus  
spp. trong khoan miệng sẽ tăng lên sau giai đoạn đầu của bệnh sâu răng [2]. Sigurjons  
và cộng sự xác định được tỷ lệ Lactobacillus spp. trong mảng bám răng miệng chiếm  
tới 62% [3]. Beighton và cộng sự cũng đã tiến hành một cuộc khảo sát răng miệng ở  
trẻ từ 3 - 4 tuổi, kết quả là tỷ lệ phân lập được Lactobacillus spp. trong trẻ sâu răng  
là 54%, trong khi ở trẻ không sâu răng chỉ chiếm 7% [4]. Ngoài ra Matee và cộng sự  
cũng đã nhận định trong kết quả nghiên cứu của họ rằng tỷ lệ Lactobacillus spp. trong  
miệng trẻ sâu răng cao gấp 100 lần trẻ không sâu răng [5]. Chủ yếu L. fermentum là  
loài chiếm đa số trong miệng của trẻ lẫn người lớn đang bị sâu răng [6] [7].  
Mảng bám răng là một màng sinh học hình thành trong miệng, bao gồm nhiều  
loài vi sinh vật khác nhau và gắn kết với nhau bởi mạng lưới polysacchrides không  
tan. Vì khả năng tạo màng sinh học là một yếu tố chính quyết định sự hình thành  
mảng bám răng, nên các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu tìm ra các mối liên hệ giữa  
Lactobacillus spp. và sự hình thành mảng bám răng miệng. Wilcox và cộng sự đã  
phát hiện ra được 2/4 chủng L. salivarius và 2/3 chủng L. fermentum của họ có khả  
năng gắn kết màng sinh học với S. salivarius, S. gordonii, S. crista, S. sanguis (một  
10  
 
Đồ án tốt nghiệp  
số loài trong chi Streptococcus có khả năng gây sâu răng) [8]. Filoche và cộng sự  
cũng đã phát hiện ra rằng, khả năng hình thành màng sinh học của các Lactobacillus  
spp. khi nuôi cấy đơn lẻ thì rất thấp, nhưng khi đồng nuôi cấy với một số loài  
Actinomyces thì lại tăng gấp 4 – 20 lần [9].  
Năm 2001, Tổ chức lương nông thế giới (FAO) và Tổ chức y tế thế giới (WHO)  
đã đưa ra định nghĩa cho probiotic: “Probiotic những vi sinh vật còn sống khi đưa  
vào cơ thể một lượng vừa đủ sẽ có lợi cho sức khỏe của vật chủ”. Hầu hết các vi  
khuẩn probiotic thuộc chi Lactobacillus và Bifidobacterium, chúng đã được ứng dụng  
trong gần 1 thế kỷ qua [10]. Trong những năm gần đây, ứng dụng vi khuẩn probiotic  
vào công cuộc chống sâu răng đang rất được chú trọng. Một số các thử nghiệm lâm  
sàng trên động vật đã khẳng định được khả năng bảo vệ răng miệng của probiotic  
[11]. Các phương thức bảo vệ răng miệng của probiotic được giả định bởi: khả năng  
tiết bacteriocin, cạnh tranh chất dinh dưỡng, cạnh tranh diện tích sống. Nhưng bản  
chất đối kháng thực sự với các vi khuẩn gây hại trong khoan miệng của probiotic vẫn  
chưa được thấu hiểu.  
Để góp phần tìm ra các chủng vi khuẩn tìềm năng mới có thể ứng dụng để phòng  
ngừa bệnh sâu răng, đồng thời khảo sát khả năng tạo màng sinh học của vi khuẩn chi  
Lactobacillus, nhóm thực hiện đồ án sẽ bước đầu phân lập một số vi khuẩn lactic  
trong khoang miệng có khả năng ức chế sự hình thành màng sinh học của các  
Lactobacillus spp. có trong mảng bám răng miệng.  
2. Tình hình nghiên cứu  
Nhiều năm qua, đã có nhiều nghiên cứu in vivo và in vitro nhằm tìm ra tác động  
của vi khuẩn lactic trong khoang miệng. Các nhà khoa học cũng mong muốn khi vi  
khuẩn lactic được sử dụng dưới dạng probiotic sẽ có khả năng tồn tại một thời gian  
nhất định trong nước bọt. Năm 2006, Haukioja và cộng sự đã tìm được một số chủng  
probiotic có khả năng này [12], khiến cho việc ứng dụng vi khuẩn lactic nói chung  
và probiotic nói riêng để bảo vệ răng miệng trở nên khả quan hơn.  
11  
Đồ án tốt nghiệp  
Bussher và cộng sự đã xác định được rằng L. acidophilus và L. casei có trong  
sữa chua đã làm giảm tỷ lệ của các Lactobacillus spp. khác và Streptococcus mutans  
trong nước bọt và mảng bám răng của các đối tượng nghiên cứu xuống sau một tuần  
sử dụng [13]. Ahola và cộng sự cũng khảo sát tương tự nhưng trong sản phẩm lên  
men pho – mát, LGG và Lactobacillus rhamnosus LC 705 có trong pho – mát có thể  
giảm được tỷ lệ sâu răng ở trẻ nhỏ [14].  
Tại Việt Nam, hiện tại chỉ có duy nhất TS. Nguyễn Thị Mai Phương (Viện Công  
nghệ sinh học, Viện Hàn lâm KH & CN Việt Nam) là đang tập trung nghiên cứu về  
vấn đề bảo vệ răng miệng, nhưng chủ yếu là các hợp chất thứ cấp ức chế  
Streptococcus mutans như: Alpha-mangostin ức chế sự hình thành biofilm của vi  
khuẩn gây sâu răng Streptococcus mutans UA159; Ethyl acetate extract from  
(Rhodomyrtus tomentosa (Aliton) Hassk) leaves inhibits acid production and biofilm  
formation by Streptcocccus mutans; H2O2 inhibits NADH oxidase activity purified  
from streptococcus mutans,... [15] [16].  
3. Mục đích nghiên cứu  
Phân lập các vi khuẩn lactic trong khoang miệng có khả năng ức chế sự hình  
màng sinh học của Lactobacillus spp.  
4. Nhiệm vụ nghiên cứu  
- Khảo sát mức độ sâu răng ở một nhóm đối tượng  
- Phân lập vi khuẩn lactic trong khoang miệng  
- Khảo sát khả năng tạo màng sinh học của các vi khuẩn lactic trong răng miệng  
- Chọn ra các chủng có khả năng tạo màng sinh học mạnh có khả năng là tác nhân  
gây sâu răng. Định danh các chủng, chọn ra chi Lactobacillus.  
- Khảo sát khả năng ức chế màng sinh học của các vi khuẩn lactic lên các  
Lactobacillus spp. phân lập được  
5. Phương pháp nghiên cứu  
- Thu mẫu răng miệng của 30 đối tượng từ 11 hộ gia đình. Bên cạnh đó ghi nhận  
tình trạng răng miệng của các đối tượng.  
12  
Đồ án tốt nghiệp  
- Phân lập vi khuẩn lactic trên môi trường LBS thông qua việc quan sát hình thái tế  
bào, khuẩn lạc, các thử nghiệm sinh lý (khả năng di động, khả năng sinh bào tử)  
và các thử nghiệm sinh hóa (catalase).  
- Khảo sát khả năng tạo màng sinh học của các chủng vi khuẩn lactic bằng phương  
pháp nuôi cấy trên đĩa 96 giếng, từ đó phân loại nhóm vi khuẩn lactic có khả năng  
tạo màng sinh học mạnh để chọn làm tác nhân gây sâu răng.  
- Tách chiết DNA của các chủng vi khuẩn lactic nghi ngờ có khả năng gây sâu răng,  
thực hiện phản ứng PCR với cặp mồi 27F và 1492R.  
- Gửi mẫu giải trình tự DNA tại công ty Nam Khoa  
- Dựa vào hình thái kết hợp với kết quả thử nghiệm sinh hóa trước đó để định danh  
chính xác các chủng này.  
- Thí nghiệm khảo sát khả năng ức chế sự hình thành màng sinh học của  
Lactobacillus spp. được thực hiện bằng phương pháp đồng nuôi cấy vi khuẩn lactic  
và Lactobacillus spp. trong môi trường LBM trên đĩa giếng 96. Màng sinh học  
trong các giếng sẽ được nhuộm bằng Crystal violet, và định lượng bằng phương  
pháp đo mức độ hấp thụ màu tím ở bước sóng 570 nm.  
6. Các kết quả đạt được  
- Từ 60 mẫu thu răng miệng đã chọn lọc ra được 30 chủng vi khuẩn lactic.  
- Chọn lọc được 3 chủng lactic có khả năng tạo màng sinh học mạnh.  
- Kết quả định danh 3 chủng 1B, 12R2, 30B2 đều thuộc loài L. fermentum.  
- Chọn ra được 11 chủng vi khuẩn lactic có khả năng ức chế ít nhất 1 trong 4 vi  
khuẩn gây sâu răng được khảo sát (3 chủng L. fermentum phân lập được và nấm  
Candida albicans)  
7. Kết cấu của đồ án tốt nghiệp  
Chương 1: Tổng quan  
Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu  
Chương 3: Kết quả và thảo luận  
Chương 4: Kết luận và kiến nghị  
13  
Đồ án tốt nghiệp  
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN  
1.1.  
SÂU RĂNG  
1.1.1. Bệnh học  
1.1.1.1. Định nghĩa  
Sâu răng là hiện tượng các tổ chức cứng của răng (men, ngà và cement) bị tổn  
thương, đặc trưng bởi sự khử khoáng ở men răng, ngà răng tạo thành các lỗ sâu và  
không hoàn nguyên được. Có nhiều định nghĩa về bệnh sâu răng, dựa trên những  
nghiên cứu và nhận xét khác nhau về nguyên nhân cũng như tiến trình của bệnh, sâu  
răng có thể được định nghĩa như sau:  
- Bệnh sâu răng là một quá trình động, diễn ra trong mảng bám vi khuẩn dính trên  
mặt răng, đưa đến mất cân bằng giữa mô răng với chất dịch xung quanh và theo  
thời gian, hậu quả là sự mất khoáng của mô răng [17].  
- Là bệnh nhiễm trùng của mô răng biểu hiện đặc trưng bởi các giai đoạn mất và  
tái khoáng xen kẽ nhau [18].  
1.1.1.2. Lịch sử  
Sâu răng là một bệnh phổ biến trên toàn thế giới, xảy ra ở mọi lứa tuổi, giới tính,  
dân tộc. Bệnh đã có từ rất lâu đời, nhưng chỉ thực sự nghiêm trọng khi đồ ngọt trở  
thành thứ không thể thiếu trong chế độ ăn uống của con người. Trong các bệnh thường  
gặp ở trẻ em, sâu răng đứng thứ hai sau bệnh hen suyễn [19]. Suốt một thể kỷ qua  
người ta tin rằng mọi quần xã vi sinh vật có trong miệng đều có thể gây sâu răng và  
việc chữa trị duy nhất đó là đánh răng – loại bỏ các mảng bám vi khuẩn.  
Trong thế chiến thức I, II và chiến tranh Triều Tiên, lý do bị từ chối đi nghĩa vụ  
quân sự nhiều nhất đó là sâu răng. Cuối thế kỷ 19, với dự đoán : nếu một người sống  
đủ lâu thì sau này chắc chắn sẽ không còn răng, người ta đã phân ra nhánh mới riêng  
biệt trong nền y học lúc bấy giờ - nha khoa, với mức đầu tư 34 tỷ đô la (năm 1990).  
Tới những năm cuối thế kỷ 20 thì bệnh sâu răng có thể kiểm soát và phòng ngừa. Gần  
50% trẻ nhỏ không bị sâu răng và tỷ lệ súng răng ở người cao tuổi giảm từ 50% xuống  
còn 20% [20].  
14  
     
Đồ án tốt nghiệp  
Dù không nguy hiểm đến tính mạng nhưng sự khó chịu khi sâu răng và chi phí  
cho việc chữa trị/phòng ngừa là không hề nhỏ (đứng thứ 3 sau tim mạch và ung thư).  
1.1.1.3. Dấu hiệu và triệu chứng  
Dấu hiệu sớm nhất của bệnh là sự xuất hiện các đốm phấn trắng trên bề mặt  
răng, đây là vùng men răng đang bị khử khoáng [21]. Khi các thương tổn tiếp tục diễn  
ra thì lúc này vùng men sẽ chuyển sang màu nâu và bắt đầu lõm xuống, gọi là lỗ sâu.  
Ở giai đoạn đốm trắng, men răng vẫn có thể tái khoáng hóa bởi các ion Ca2+ có trong  
nước bọt. Ở giai đoạn hình thành lỗ sâu thì men răng hoàn toàn không có khả năng  
tái khoáng hóa nhưng quá trình khử khoáng vẫn có thể bị dừng lại [22].  
Hình 1.1. Đốm trắng – dấu hiệu đầu tiên của sự khử khoáng ở men răng  
Khi cả men răng và ngà răng đồng thời bị khử khoáng thì lỗ sâu càng dễ nhìn  
thấy bằng mắt thường, và không cứng chắc như trước. Lúc này tủy răng và mạch máu  
có thể bị hở ra, chịu tác động bởi lực bên ngoài nhiều hơn, dẫn đến các cảm giác đau  
nhói khi nhai hoặc tiếp xúc với đồ ăn nóng/lạnh và kể cả ngọt.  
15  
 
Đồ án tốt nghiệp  
Hình 1.2. Giai đoạn tổn thương nghiêm trọng do quá trình khử khoáng.  
Răng sâu còn là một trong những nguyên nhân gây hôi miệng. Trường hợp xấu  
hơn là nhiễm trùng lan sang vùng mô mềm (nướu). Biến chứng có thể xảy ra là nghẽn  
mạch hang xoang, viêm họng Ludwig, … đe dọa đến tính mạng của người bệnh.  
1.1.1.4. Nguyên nhân  
Cần có bốn yếu tố chính đồng thời xuất hiện để gây nên triệu chứng sâu răng:  
men răng hoặc ngà răng, vi khuẩn gây sâu răng, nguồn carbohydrates (thường là  
sucrose) và thời gian [23]. Mức độ sâu răng thì lại phụ thuộc vào hình dáng của răng,  
thói quen vệ sinh răng miệng, thành phần nước bọt, … Sự sâu răng có thể xảy ra ở  
bất kỳ nơi nào trên răng. Sâu răng là do sự xuất hiện và phát triển của mảng bám  
(màng sinh học) trên răng. Các vi khuẩn trong mảng bám sinh acid khi có sự hiện  
diện của các nguồn carbohydrates khác nhau như sucrose, fructose và glucose.  
16  
 
Đồ án tốt nghiệp  
Hình 1.3. Mô tả lý thuyết nguyên nhâu gây sâu răng  
1.1.1.4.1. Vi khuẩn  
Khoang miệng của người chứa vô số vi khuẩn, nhưng chỉ một số ít trong đó có  
khả năng gây sâu răng, đáng nói đến nhất là Streptococcus mutans, Streptococcus  
sobrinus và một số loài trong chi Lactobacillus.  
Đặc tính để quyết định rằng vi khuẩn có khả năng gây sâu răng hay không bao  
gồm: khả năng tạo nên màng sinh học trên bề mặt răng, sinh ra một lượng acid lactic  
cao khi lên men đường, khả năng sinh trưởng trong môi trường pH thấp [24].  
Những vi khuẩn này đa số đều có mặt trong mảng bám răng miệng, nhưng chỉ  
với mật độ rất thấp, chưa đủ để gây nên sự khử khoáng men răng. Nhưng nếu không  
trực tiếp vệ sinh mảng bám thường xuyên hoặc lượng đường trong miệng liên tục cao,  
thì sẽ diễn ra sự mất cân bằng mật độ vi khuẩn trong mảng bám. Lúc này mật độ của  
những vi khuẩn gây sâu răng sẽ tăng cao, dẫn đến sự mất cân bằng pH trong khoang  
miệng và gây sâu răng. Mảng bám thường hình thành ở những nơi chịu ít tác động  
của quá trình nhai nghiền thức ăn và vệ sinh răng miệng.  
Những vi khuẩn gây sâu răng, thường lây từ người lớn sang trẻ nhỏ thông qua  
việc bú sữa mẹ, hành động móm ăn và hôn của người chăm sóc trẻ [25].  
17  
 
Đồ án tốt nghiệp  
1.1.1.4.2. Nguồn carbohydrates  
Vi khuẩn có khả năng lên men đường glucose, fructose và nhất là sucrose  
(đường ăn) thành acid (thường là acid lactic). Khi acid tiếp xúc với răng sẽ diễn ra  
quá trình khử khoáng, gây sâu răng. Dù vậy nhưng acid sinh ra bởi quá trình lên men  
đường của vi khuẩn có thể bị trung hòa bởi nước bọt hoặc nước súc miệng.  
Đối với môi trường có 2 nguồn đường glucose và fructose thì khả năng gây sâu  
răng không cao so với môi trường chỉ có một nguồn đường sucrose. Dù rằng sucrose  
là đường đôi được cấu thành từ 1 đơn vị đường đơn glucose và fructose. Lý do là vì  
vi khuẩn gây sâu răng cần sử dụng năng lượng của liên kết saccharide giữ glucose và  
fructose trong phân tử sucrose để tạo ra một hợp chất kết dính dextran polysaccharide  
bởi enzyme dextransucranase.  
n sucrose (glucose)n + n fructose  
1.1.1.4.3. Thời gian  
Thời gian răng bị phơi nhiễm trong môi trường acid sẽ quyết định sự sâu răng.  
Sau những bữa ăn, vi khuẩn sẽ bắt đầu lên men đường và sinh acid làm giảm pH.  
Trong khoảng thời gian nước bọt có thể trung hòa lại pH môi trường trong khoang  
miệng, thì một lượng khoáng trên men răng đã bị trung hòa. Vì thế sự khử khoáng  
gây sâu răng phụ thuộc khá nhiều vào tần suất phơi nhiễm trong môi trường pH thấp.  
1.1.1.4.4. Răng  
Hàm lượng khoáng chiếm đến 96% trong men răng. Sự khử khoáng bắt đầu xảy  
ra khi pH môi trường đạt 5.5 [26]. Ngà và lớp cementum dễ bị tổn thương hơn vì  
chúng có hàm lượng khoáng thấp hơn men răng [27].  
Có một số bệnh rối loạn ở răng nhất định ảnh hưởng đến mức độ gây sâu răng  
của cá thể. Bệnh hụt khoáng răng ngày càng phổ biến [28]. Nguyên nhân có thể là do  
yếu tố di truyền hoặc chế độ dinh dưỡng. Ngoài ra các trường hợp khác như nồng độ  
dioxins, polychlorinated biphenyl (PCB) cao trong sữa mẹ; trẻ sinh non, thiếu oxy  
trong lúc sinh; các rối loạn nhất định trong 3 năm đầu đời của trẻ như bệnh quai bị,  
bạch hầu, sốt xuất huyết, sởi, suy giáp, suy dinh dưỡng,… cũng ảnh hưởng đáng kể  
18  
Đồ án tốt nghiệp  
đến mật độ khoáng của răng [29] [30]. Nhưng dù sao rối loạn do bệnh tật cũng không  
phải là nguyên chính gây sâu răng.  
Trường hợp thức ăn bị mắc lại trong các lỗ sâu, chân răng, kẽ răng cũng là  
nguyên nhân dẫn đến gây sâu răng.  
1.1.1.4.5. Yếu tố khác  
Khả năng tiết nước bọt thấp sẽ tăng mức độ sâu răng, do tốc độ trung hòa pH  
trong môi trường khoang miệng diễn ra chậm.  
Một số hiệu thuốc lá không khói chứa hàm lượng đường cao, làm tăng khả năng  
gây sâu răng [31]. Việc hút thuốc có thể dẫn đến bệnh nha chu, khiến nướu co lại, để  
hở chân răng và tạo khoảng trống thuận lợi cho sự hình thành mảng bám.  
1.1.1.5. Điều trị  
Nên kết hợp giữa đánh răng và dùng chỉ nha khoa thường xuyên để loại bỏ triệt  
để mảng bám vi khuẩn. Khám răng định kỳ mỗi 6 tháng để chuẩn đoán trạng thái của  
răng vì các dấu hiệu ban đầu của bệnh sâu răng rất khó nhận thấy. Hơn nữa chỉ có  
nha sĩ mới có đầy đủ phương tiện và khả năng chuyên môn để chẩn đoán, điều trị và  
đưa ra những lời khuyên cần thiết cho hàm răng của bạn. Nếu đợi đến khi răng đau  
rồi mới đi gặp nha sĩ thì việc điều trị sẽ trở nên phức tạp hơn, có khi phải chữa tủy  
răng, mỗ nướu răng hay phải nhổ răng vì đã quá muộn.  
Phương pháp phủ Sealant cũng nên được cân nhắc đến. Phương pháp này  
thường dành cho trẻ em và thanh thiếu niên, những chất liệu nha khoa phủ trên bề  
mặt nhai của răng che phủ đi tâm tinh thể HA, hạn chế được quá trình khử khoáng.  
Những nghiên cứu khoa học cho thấy ngoài việc Florua đóng vai trò ức chế sự  
khử khoáng của acid lên men răng, với một nồng độ cao nhất định Florua còn có khả  
năng diệt khuẩn [32]. Do vậy, Florua trong các sản phẩm răng miệng là một vũ khí  
vô cùng lợi hại trong việc phòng ngừa sâu răng.  
Chỉ nên đáp ứng nhu cầu năng lượng của cơ thể bằng những nguồn  
carbohydrates có trong trái cây, rau đậu, ngũ cốc, tinh bột. Hạn chế tối đa dùng những  
thực phẩm được chế biến từ sucrose (bánh kẹo, syrups, nước ngọt). Ngoài ra trái cây,  
19  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 105 trang yennguyen 15830 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đồ án Phân lập vi khuẩn lactic trong khoang miệng có khả năng ức chế sự tạo màng sinh học của một số Lactobacillus spp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdo_an_phan_lap_vi_khuan_lactic_trong_khoang_mieng_co_kha_nan.pdf