Khóa luận Đánh giá hiện trạng thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ

i
LỜI CẢM ƠN  
Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn cần thiết và hết sức quan trọng của mỗi  
sinh viên, đó là thời gian để sinh viên tiếp cận với thực tế, nhằm hệ thống lại toàn bộ  
chương trình đã được học và vận dụng lý thuyết vào trong thực tiễn. Được sự nhất trí  
của Ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm Khoa Môi Trường, em đã thực tập tại  
Khoa Môi Trường. Đến nay em đã hoàn thành quá trình thực tập tốt nghiệp.  
Để hoàn thành đề tài này, trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: Ban  
giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Ban chủ nhiệm khoa Môi trường  
và tập thể các thầy giáo, cô giáo trong trường đã truyền đạt lại cho em những kiến  
thức quý báu trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại nhà trường.  
Em xin cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Môi Trường đã tạo điều kiện giúp  
đỡ em trong suốt quá trình thực tập tại khoa. Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn sự  
quan tâm, chỉ đạo tận tình của thầy giáo hướng dẫn: ThS. HÀ ĐÌNH NGHIÊM đã  
giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.  
Cuối cùng, em xin được gửi tới gia đình và bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ,  
tạo niềm tin và là chỗ dựa vững chắc cho em trong suốt khoảng thời qua cũng như  
vượt qua những khó khăn trong khoảng thời gian thực hiện khóa luận.  
Em xin chân thành cảm ơn!  
Thái Nguyên, ngày .... tháng ... năm 2018  
Sinh viên  
TRẦN THỊ THÙY DUNG  
ii  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
DANH MỤC CÁC HÌNH  
iii  
Hình 4.5. Khu t6382823 \h thải sinh hoạt của xã Hưn ............................................... 36  
Hình 4.6. Khu t6382823 \h thải sinh hoạt của xã Hưn ............................................... 36  
iv  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
Chữ viết tắt  
BVMT  
CCN  
Chữ viết đầy đủ  
Bảo vệ môi trường  
Cụm công nghiệp  
Chung học cơ sở  
Chất thải rắn  
CHCS  
CTR  
CTSH  
HTX  
Chất thải sinh hoạt  
Hợp tác xã  
TNHH  
TTCN  
UBND  
XDCB  
Trách nhiệm hưu hạn  
Trung tâm công nghiệp  
Ủy ban nhân dân  
Xây dựng cơ bản  
v
MỤC LỤC  
1
PhAGER  
MhAGER  
1.1. Đặt vấn đề  
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đang có những bước chuyển  
mình mạnh mẽ. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra hết sức khẩn  
trương, bộ mặt xã hội đã có những chuyển biến tích cực. Cho đến nay, nó không chỉ  
phát triển ở các thành phố, khu đô thị lớn của nước ta mà đang mở rộng ra các quận,  
huyện, các thị trấn và phạm vi nhỏ hẹp hơn là các xã, các xóm.  
Song song với quá trình phát triển đó, chất lượng cuộc sống của người dân  
cũng được nâng cao. Mức sống của người dân càng cao thì nhu cầu tiêu dùng các sản  
phẩm xã hội càng lớn, điều này đồng nghĩa với việc gia tăng lượng rác thải sinh hoạt  
và nó được thải vào môi trường ngày càng nhiều.  
Huyện Yên Lập là một huyện miền núi nằm ở phía Tây của tỉnh Phú Thọ, có  
địa giới hành chính tiếp giáp: Phía Bắc và Đông Bắc giáp huyện Hạ Hoà, Phía Đông  
giáp huyện Cẩm Khê, Phía Đông Nam giáp huyện Tam Nông, Phía Tây giáp huyện  
Văn Chấn - Tỉnh Yên Bái, Phía Nam và Tây Nam giáp huyện Tân Sơn và Thanh  
Sơn, với số dân là 92.581 người sinh sống trên địa bàn 16 xã và 1 thị trấn.  
Yên Lập sau những năm đổi mới đã thu được nhiều kết quả tốt về mọi mặt, từ  
đó bộ mặt Huyện đã có sự thay đổi rõ nét, tốc độ đô thị hóa cao, các công trình kiến  
trúc xây dựng ngày càng nhiều, đa dạng và phong phú. Kinh tế phát triển, đời sống  
vật chất của cộng đồng được nâng cao, kéo theo đó là sự gia tăng về khối lượng -  
thành phần rác thải sinh hoạt, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống.  
Rác thải sinh hoạt phát sinh ngày càng đa dạng về số lượng và chủng loại,  
xuất hiện ngày càng nhiều loại khó xử lý, trong khi công tác phân loại, thu gom, vận  
chuyển, xử lý của Huyện còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu. Tình trạng xả rác  
thải không đúng nơi quy định tại các khu vực công cộng vẫn còn diễn ra khá phổ  
biến, gây ô nhiễm môi trường, mất vệ sinh, đặc biệt là khu vực nông thôn. Và, việc  
thu gom, xử lý rác thải khu vực nông thôn cải thiện còn chậm.  
Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng  
thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt tại Huyện Yên Lập, Tỉnh Phú Thọ” làm cơ sở để  
đề xuất giải pháp quản lý, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn Huyện  
Yên Lập.  
     
2
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
- Đánh giá hiện trạng thành phần, khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên  
địa bàn Huyện Yên Lập.  
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại Huyện Yên Lập.  
- Đánh giá nhận thức của cộng đồng về công tác quản lý rác thải sinh hoạt trên  
địa bàn Huyện Yên Lập.  
1.3. Yêu cầu của đề tài  
- Đánh giá được khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn huyện,  
hiện trạng thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt  
- Số liệu thu thập phải khách quan, trung thực, chính xác.  
- Bố trí thí nghiệm phải đại diện cho địa bàn nghiên cứu.  
1.4. Ý nghĩa của đề tài  
- Đề tài là tài liệu để học tập và tham khảo  
- Số liệu của đề tài là cơ sở để thiết kế mô hình thu gom, vận chuyển và xử lý  
rác thải sinh hoạt của Huyện Yên Lập.  
- Phát hiện những khó khăn bất cập và những thiếu sót trong công tác thu  
gom, quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện.  
     
3
PhPhát  
ThPhát hiện những  
2.1. Cơ sở khoa học  
2.1.1. Các khái niệm liên quan  
2.1.1.1. Khái niệm về chất thải  
Chất thải là sản phẩm được phát sinh ra trong quá trình sinh hoạt của con  
người, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại du lịch, giao thông, sinh  
hoạt tại các gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn. Ngoài ra  
còn phát sinh trong giao thông vận tải như khí thải của các phương tiện giao thông  
đường bộ, đường thủy… Chất thải là kim loại, hóa chất và từ các vật liệu khác  
(Nguyễn Xuân Nguyên và cs, 2004) [8].  
2.1.1.2. Khái niệm về chất thải rắn  
Theo Điều 3, Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 04 năm 2007  
của Chính phủ về quản lý chất thải rắn quy định:  
- Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh  
doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. Chất thải rắn bao gồm chất thải  
rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại.  
- Chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình nơi công cộng  
gọi chung là chất thải rắn sinh hoạt. Chất thải rắn phát thải từ hoạt động sản xuất  
công nghiệp, làng nghề, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác được gọi  
chung là chất thải rắn công nghiệp.  
- Thu gom chất thải rắn là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ  
tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan  
nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.  
- Lưu giữ chất thải rắn là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian  
nhất định ở nơi được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận trước khi vận chuyển đến  
cơ sở xử lý.  
- Vận chuyển chất thải rắn là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát  
sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi  
chôn lấp cuối cùng.  
       
4
- Xử lý chất thải rắn là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật  
làm giảm, loại bỏ, tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải  
rắn; thu hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích trong chất thải rắn.  
2.1.1.3. Khái niệm về chất thải rắn sinh hoạt  
Rác thải sinh hoạt là những chất thải có liên quan đến các hoạt động của  
con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các  
trung tâm dịch vụ, thương mại.  
Rác thải sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch  
ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương  
động vật, tre, gỗ, lông gà lông vịt, vải, giấy, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rau quả vv…  
2.1.2. Sự hình thành chất thải rắn sinh hoạt  
Chất thải  
Nguyên vật liệu  
Chế biến  
Chất thải  
Thu hồi và tái chế  
Chế biến lần 2  
Tiêu thụ  
Thải bỏ  
Hình 2.1. Sự hình thành chất thải rắn sinh hoạt  
Ghi chú:  
Chất thải  
Nguyên vật liệu, sản phẩm, các vật liệu thu hồi và tái sử dụng  
     
5
2.1.3. Nguồn gốc, phân loại và thành phần rác thải  
2.1.3.1. Nguồn gốc  
Khối lượng rác thải sinh hoạt ngày càng tăng do tác động của sự gia tăng dân số,  
sự phát triển kinh tế - xã hội, sự thay đổi tính chất tiêu dùng trong các đô thị và các vùng  
nông thôn. Trong đó các nguồn chủ yếu phát sinh chất thải bao gồm:  
- Từ các khu dân cư (chất thải sinh hoạt).  
- Từ các trung tâm thương mại, các công sở, trường học, công trình công cộng.  
- Từ các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, các hoạt động xây dựng.  
- Từ các làng nghề v.v…  
2.1.3.2. Phân loại rác thải  
a./. Phân loại theo mức độ nguy hại  
- Rác thải nguy hại: Là rác thải chứa các chất hoặc hợp chất có một trong  
những đặc tính sau: phóng xạ, dễ cháy,dễ nổ,dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc  
hoặc các đặc tính nguy hại khác.  
- Rác thải không nguy hại: là những loại rác thải không có chứa các chất và  
hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại tới môi trường và sức khỏe con người.  
b./. Phân loại theo nguồn thải  
- Rác thải sinh hoạt: Là rác thải phát sinh trong sinh hoạt cá nhân,hộ gia đình,  
nơi công cộng được gọi chung là rác thải sinh hoạt.  
- Rác thải công nghiệp: Là rác thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất công  
nghiệp, làng nghề, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác được gọi chung là  
rác thải công nghiệp.  
- Rác thải nông nghiệp: Là lượng rác thải phát sinh từ các hoạt động như:  
trồng trọt, thu hoạch các loại cây trồng, chăn nuôi, các sản phẩm thải ra từ chế biến  
sữa, các lò giết mổ…được gọi chung là rác thải nông nghiệp.  
- Rác thải xây dựng: Là các phế thải như: đất, cát, gạch, ngói, bê tông vỡ do các  
hoạt động tháo dỡ, xây dựng công trình…. Được gọi chung là rác thải xây dựng.  
- Rác thải y tế: Rác thải phát sinh từ các hoạt động y tế như: khám bệnh, bào  
chế, sản xuất, đào tạo, nghiên cứu, thú y,… Sinh ra từ các bệnh viện, các trung tâm  
điều dưỡng, cơ sở y tế dự phòng. Bao gồm:  
6
Rác thải y tế thông thường (sinh hoạt) bao gồm: bìa, bao hộp đóng gói, khăn  
giấy lau tay, thức ăn bỏ đi….  
Rác thải y tế có nguy cơ lây nhiễm như: bông, băng thấm dịch hoặc máu, các  
hộp thuốc quá hạn, kim tiêm…  
- Rác thải từ các nguồn khác như: thương mại, dịch vụ…  
Để tiện cho việc quản lý còn có cách phân loại khác  
c./. Cách phân loại khác  
- Rác thải sinh hoạt hữu cơ: Là chất thải trong sinh hoạt hàng ngày có nguồn  
gốc từ động vật hoặc thực vật, thường là các gốc rau, quả, thức ăn, rơm rác, xương,  
ruột gà…  
- Rác thải sinh hoạt vô cơ: Là các chất nilon, nhựa, da, cao su, vải, sợi… được  
thải ra trong sinh hoạt hàng ngày, đây là chất thải có thành phần tái chế được.  
- Các chất trơ: thủy tinh, đá, kim loại, sành sứ, đất sét.  
2.1.3.3. Thành phần chất thải rắn  
Chất thải rắn nói chung là một hỗn hợp đồng nhất và phức tạp của nhiều vật  
chất khác nhau. Tùy theo cách phân loại, mỗi một loại chất thải rắn có một số thành  
phần đặc trưng nhất định. Thành phần chất thải rắn đô thị là bao quát hơn tất cả vì nó  
bao gồm mọi thứ chất thải rắn từ nhiều nguồn gốc phát sinh khác nhau (sinh hoạt,  
công nghiệp, y tế, xây dựng, chăn nuôi, xác chết, rác đường phố).  
Các đặc trưng điển hình của chất thải rắn như sau:  
- Hợp phần có nguồn gốc hữu cơ cao (50,27% - 62,22%)  
- Chứa nhiều đất và cát, sỏi vụn, gạch vỡ  
- Độ ẩm cao, nhiệt trị thấp (900cal/kg) (Trần Hiếu Nhuệ và cs, 2001) [9].  
2.1.4. Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường và sức khoẻ cộng đồng  
Mức sống của con người càng cao thì lượng rác thải phát sinh ngày càng  
nhiều. Sự thải ra các chất rắn trong quá trình sinh hoạt và sản xuất của con người đã  
sinh ra hàng loạt các vấn đề ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, ô nhiễm đất, nước,  
phá hủy cảnh quan, mất cân bằng sinh thái.  
2.1.4.1. Ảnh hưởng của chất thải rắn đến sức khoẻ cộng đồng  
Một trong những dạng chất thải nguy hại xem là ảnh hưởng đến sức khỏe của  
con người và môi trường là các chất hữu cơ bền. Những hợp chất này vô cùng bền  
vữmg, tồn tại lâu trong môi trường, có khả năng tích lũy sinh học trong nông sản  
 
7
phẩm, thực phẩm, trong các nguồn nước mô mỡ của động vật gây ra hàng loạt các  
bện nguy hiểm đối với con người, phổ biến nhất là ung thư. Đặc biệt, các chất hữu cơ  
trên được tận dụng nhiều trong trong đời sống hàng ngày của con người ở các dạng  
dầu thải trong các thiết bị điện trong gia đình, các thiết bị ngành điện như máy biến  
thế, tụ điện, đèn huỳnh quang, dầu chịu nhiệt, dầu chế biến, chất làm mát trong  
truyền nhiệt...Theo đánh giá của các chuyên gia, các loại chất thải nguy hại ảnh  
hưởng đến sức khoẻ cộng đồng nghiêm trọng nhất là đối với khu dân cư khu vực  
làng nghề, gần khu công nghiệp, bãi chôn lấp chất thải và vùng nông thôn ô nhiễm  
môi trường do chất thải rắn cũng đã đến mức báo động (Hội bảo vệ thiên nhiên và  
Môi trường Việt Nam, 2004) [5].  
2.1.4.2. Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường đất  
Đất bị ô nhiễm bởi các nguyên nhân chủ yếu sau:  
+ Do thải vào đất một khối lượng lớn chất thải công nghiệp như xỉ than, căng  
kháng, hóa chất…Các chất ô nhiễm không khí lắng đọng trên bề mặt sẽ gây ô nhiễm  
đất, tác động đến các hệ sinh thái đất.  
+ Do thải ra mặt đất những rác thải sinh hoạt, các chất thải của quá trình xử  
lý nước.  
+ Do dùng phân hữu cơ trong nông nghiệp chưa qua xử lý các mầm bệnh ký  
sinh trùng, vi khuẩn đường ruột…đã gây ra các bệnh truyền từ đất cho cây sau đó  
sang người và động vật…  
- Chất thải rắn vứt bừa bãi ra đất hoặc chôn lấp vào đất chứa các chất hữu cơ  
khó phân huỷ làm thay đổi pH của đất.  
- Rác còn là nơi sinh sống của cá loài công trùng, gặm nhấm, vi khuẩn, nấm mốc...  
những loài này di động mang các vi trùng gâybệnh truyền nhiễm cho cộng đồng.  
- Chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp  
khi đưa vào môi trường đất sẽ làm thay đổi thành phần cấp hạt, tăng độ chặt, giảm  
tính thấm nước, giảm lượng mùn, làm mất cân bằng dinh dưỡng... làm cho đất bị chai  
cứng không còn khả năng sản xuất.  
Tóm lại rác thải sinh hoạt là nguyên nhân gây ô nhiễm đất (Hoàng Đức Liên -  
Tống Ngọc Tuấn, 2003) [6].  
8
2.1.4.3. Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường nước  
- Nước ngấm xuống đất từ các chất thải được chôn lấp, các hố phân, nước làm  
lạnh tro xỉ, làm ô nhiễm nước ngầm.  
- Nước chảy khi mưa to qua các bãi chôn lấp, các hố phân, chảy vào các  
mương, rãnh, ao, hồ, sông, suối làm ô nhiễm nước mặt.  
Nước này chứa các vi trùng gây bệnh, các kim loại nặng, các chất hữu cơ, các  
muối vô cơ hoà tan vượt quá tiêu chuẩn môi trường nhiều lần.  
2.1.4.4. Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường không khí  
- Rác thải hữu cơ phân hủy tạo ra mùi và các khí độc hại như CH4, CO2,  
NH3,... gây ô nhiễm môi trường không khí.  
- Khí thoát ra từ các hố hoặc chất làm phân, chất thải chôn lấp chứa rác chứa  
CH4, H2S, CO2, NH3, các khí độc hại hữu cơ...  
- Khí sinh ra từ quá trình thu gom, vận chuyển, chôn lấp rác chứa các vi trùng,  
các chất độc lẫn trong rác.  
2.1.4.5. Chất thải rắn làm giảm mỹ quan đô thị  
Chất thải rắn, đặc biệt là chất thải rắn sinh hoạt nếu không được thu gom, vận  
chuyển, xử lý thì sẽ làm giảm mỹ quan đô thị. Nguyên nhân của hiện tượng này là do ý  
thức của người dân chưa cao. Tình trạng người dân vứt rác bừa bãi ra lòng lề đường và  
mương rãnh hở vẫn còn phổ biến gây ô nhiễm nguồn nước và ngập úng khi mưa.  
2.2. Hiện trạng phát sinh rác thải sinh hoạt trên Thế Giới và Việt Nam  
2.2.1. Hiện trạng phát sinh rác thải trên Thế giới  
Nhìn chung, lượng rác thải sinh hoạt ở mỗi nước trên thế giới là khác nhau,  
phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế, dân số và thói quen tiêu dùng của người dân  
nước đó. Tỷ lệ phát sinh rác thải tăng theo tỷ lệ thuận với mức tăng GDP tính theo  
đầu người. Tỷ lệ phát sinh rác thải theo đầu người ở một số thành phố trên thế giới  
như sau: Băng Cốc (Thái Lan) là 1,6 kg/người/ngày; Singapo là 2kg/người/ngày;  
Hồng Kông là 2,2 kg/người/ngày; NewYork (Mỹ) là 2,65 kg/người/ngày.  
Tỷ lệ chất thải sinh hoạt trong dòng chất thải rắn đô thị rất khác nhau giữa các  
nước. Theo ước tính, tỷ lệ này chiếm tới 60 - 70% ở Trung Quốc (Gao et al.2009);  
chiếm 78% ở Hồng Kông; 48% ở Phillipin và 37% ở Nhật Bản, và chiếm 80% ở Việt  
   
9
Nam. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, các nước có thu nhập cao chỉ có khoảng  
25 - 35% chất thải sinh hoạt trong toàn bộ dòng chất thải rắn đô thị.  
+ Theo số liệu thống kê mới đây của Bộ Môi trường Nhật Bản, hàng năm  
nước này có khoảng 450 triệu tấn rác thải, trong đó phần lớn là rác công nghiệp (397  
triệu tấn). Trong tổng số rác thải trên, chỉ có khoảng 5% rác thải phải đưa tới bãi  
chôn lấp, trên 36% được đưa đến các nhà máy để tái chế. Số còn lại được xử lý bằng  
cách đốt hoặc chôn tại các nhà máy xử lý rác. Với rác thải sinh hoạt của các gia đình,  
khoảng 70% được tái chế thành phân bón hữu cơ, góp phần giảm bớt nhu cầu sản  
xuất và nhập khẩu phân bón .  
+ Mỗi ngày Singapore thải ra khoảng 16.000 tấn rác. Rác ở Singapore được  
phân loại tại nguồn. Nhờ vậy 56% số rác thải ra mỗi ngày (khoảng 9.000 tấn) quay  
lại các nhà máy để tái chế. Khoảng 41% (7.000 tấn) được đưa vào bốn nhà máy thiêu  
rác để đốt thành tro, nhiệt năng tạo ra được sử dụng để chạy phát điện cung cấp điện  
cho 3% hộ dân.  
+ Hàng năm toàn nước Mỹ phát sinh một khối lượng rác khổng lồ lên tới 10 tỷ  
tấn. Trong đó, rác thải từ quá trình khai thác dầu mỏ và khí chiếm 75%; rác thải từ quá  
trình sản xuất nông nghiệp chiếm 13%; rác thải từ hoạt động công nghiệp chiếm 9,5%;  
rác thải từ cặn cống thoát nước chiếm 1%; rác thải sinh hoạt chiếm 1,5%.  
Bảng 2.1. Thành phần và tỷ lệ rác thải ở Mỹ  
Tỷ lệ % các loại rác theo các nguồn khác nhau  
Thành phần  
Trung bình cả  
nước  
Tại bãi rác colombia  
Theo EPA  
Giấy  
Hữu cơ  
41  
21  
16  
6
33  
17  
12  
6
35 - 47  
18 - 29  
11 - 21  
4 - 8  
Nhựa  
Kim loại  
Thủy tinh  
Các loại khác  
3
6
2 - 6  
13  
24  
10 - 15  
(Nguồn: tạp chí Waste Management Research, Volum 23 số 1,2/2010)  
 
10  
Qua bảng trên thấy, thành phần rác thải sinh hoạt của Mỹ cũng rất đa dạng,  
bao gồm các thành phần như: Giấy, nhựa, kim loại, thủy tinh, và rác thải hữu  
cơ…Tuy nhiên tỷ lệ phần trăm các loại rác có sự khác biệt tùy theo các nguồn khác  
nhau, nhưng theo số liệu thống kê của bảng thì đặc trưng rác thải sinh hoạt tại Mỹ là  
rác thải hữu cơ không chiếm tỷ lệ cao như Việt Nam và một số nước khác. Tỷ lệ  
trung bình của rác thải hữu cơ trong cả nước chỉ dao động từ 18 - 29%, trong khi đó,  
giấy luôn chiếm tỷ lệ cao, tại bãi rác Colombia là 41%, theo EPA là 33%,và trung  
bình cả nước dao động từ 35 - 37%.  
2.2.2. Hiện trạng phát sinh rác thải sinh hoạt ở Việt Nam  
Tình hình phát sinh và xử lý chất thải rắn ở khu vực đô thị vẫn là một trong  
những vấn đề môi trường nổi cộm trong nhiều năm qua. Theo thống kê, lượng chất  
thải rắn sinh hoạt phát sinh ở khu vực đô thị khoảng 38.000 tấn/ngày với mức gia  
tăng trung bình 12% mỗi năm. Chất thải rắn sinh hoạt đô thị có tỷ lệ hữu cơ vào  
khoảng 54 - 77%, chất thải có thể tái chế (thành phần nhựa và kim loại) chiếm  
khoảng 8 - 18%. Chất thải nguy hại còn bị thải lẫn vào chất thải sinh hoạt mang đến  
bãi chôn lấp là 0,02 ÷ 0,82%. Chất thải rắn y tế phát sinh là 600 tấn/ngày với mức độ  
gia tăng khoảng 7,6% mỗi năm. Đối với chất thải rắn công nghiệp khu vực đô thị,  
hiện chưa có thống kê con số cụ thể nhưng ước tính khối lượng chất thải rắn công  
nghiệp phát sinh trong các khu vực đô thị khá cao, tập trung ở các ngành cơ khí, dệt  
may, da giầy và thực phẩm. Ước tính lượng chất thải nguy hại trong chất thải rắn  
công nghiệp chiếm tỷ lệ khoảng20-30%.  
Công tác phân loại, thu gom và xử lý chất thải rắn đã đạt được những kết quả  
nhất định. Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trung bình đạt khoảng 85%  
vào năm 2014 và tăng lên 85,3% trong năm 2015. Công nghệ xử lý chất thải rắn sinh  
hoạt phổ biến là chôn lấp, ủ phân hữu cơ và đốt. Tại khu vực đô thị, tỷ lệ chất thải  
rắn sinh hoạt được chôn lấp trực tiếp khoảng 34%, tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được  
tái chế tại các cơ sở xử lý đạt khoảng 42% và lượng chất thải rắn còn lại là bã thải  
của quá trình xử lý được chôn lấp chiếm khoảng 24%. Phần lớn chất thải rắn sinh  
hoạt đô thị chưa phân loại tại nguồn, tại một số đô thị lớn, hoạt động này mới chỉ  
được triển khai thí điểm tại một số phường, quận. Theo số liệu báo cáo của Cục  
 
11  
Quản lý môi trường y tế (Bộ Y tế) về tình hình quản lý đối với chất thải rắn y tế, có  
khoảng hơn 90% bệnh viện thực hiện thu gom hàng ngày và có thực hiện phân loại  
chất thải từ nguồn. Năm 2015, tỷ lệ chất thải rắn y tế được thu gom đạt trên 75%.  
Tuy nhiên, phương tiện thu gom còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu  
chuẩn, không có các trang thiết bị đảm bảo cho quá trình vận chuyển được an toàn.  
Công nghệ xử lý chất thải rắn y tế chủ yếu bằng các lò đốt. Hiện nay, một số công  
nghệ xử lý chất thải y tế bằng phương pháp không đốt được khuyến khích và ưu tiên  
phát triển. Đối với chất thải rắn công nghiệp, lượng thu gom, xử lý chất thải rắn  
thông thường gia tăng qua các năm. Một số loại chất thải rắn được chính cơ sở tận  
dụng tái sử dụng, tái chế. Một phần được xử lý thông qua hợp đồng với Công ty môi  
trường đô thị. Đối với chất thải công nghiệp nguy hại, được thu gom, xử lý bởi các  
đơn vị có chức năng, được cơ quan quản lý cấp phép thực hiện.  
Bảng 2.3. Thành phần chất thải rắn ở một số đô thị hiện nay  
Địa điểm  
Thành phần  
TT  
Đơn  
Hà  
Hải  
Hạ  
Đà  
TPHC  
M
rác thải  
vị  
Nội  
Phòng  
Long  
Nẵng  
1
Chất hữu cơ  
(%)  
50,10  
50,58  
40,1-47,1  
31,2  
41,25  
2
3
4
5
6
7
8
9
cao su, nhựa  
Giấy,cactong giẻ vụn  
Kim loại  
(%)  
(%)  
5,50  
4,20  
2,50  
1,80  
35,9  
47,7  
15,9  
0,42  
4,52  
7,52  
2,7-4,5  
5,5-5,7  
0,3-0,5  
3,9-8,5  
36,1-47,5  
40-46  
22,5  
6,81  
1,4  
8,78  
24,83  
1,55  
(%)  
0,22  
Thuỷ tinh, gốm, sứ  
Đất đá, gạch vụn  
Độ ẩm  
(%)  
0,63  
1,8  
5,59  
(%)  
36,53  
45,48  
16,62  
0,45  
36  
18  
(%)  
39,05  
40,25  
0,38  
27,18  
58,75  
0,412  
Độ tro  
(%)  
11,0  
Tấn/m3  
0,57-0,65  
Tỉ trọng  
(Nguồn: Báo cáo kết quả của trạm quan trắc môi trường quốc gia, 2015).  
 
12  
2.3. Tình hình quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên Thế giới và Việt Nam  
2.3.1. Tình hình quản lý, xử lý rác thải trên Thế giới  
Vấn đề quản lý, xử lý rác thải ở các nước trên thế giới ngày càng được quan tâm  
hơn. Đặc biệt tại các nước phát triển, công việc này được tiến hành một cách rất chặt  
chẽ, từ ý thức thải bỏ rác thải của người dân, quá trình phân loại tại nguồn, thu gom, tập  
kết rác thải cho tới các trang thiết bị thu gom, vận chuyển theo từng loại rác.  
* Tại Nhật: Chuyển từ hệ thống quản lý chất thải truyền thống với dòng  
nguyên liệu xử lý theo một hướng sang xã hội có chu trình xử lý nguyên liệu theo mô  
hình 3R (reduce, reuse, recycle).  
Về thu gom chất thải rắn sinh hoạt ở Nhật, các hộ gia đình được yêu cầu phân  
chia rác thành 3 loại: Rác hữu cơ dễ phân hủy, rác khó tái chế nhưng có thể cháy và  
rác có thể tái chế.  
Rác hữu cơ được thu gom hàng ngày được đưa đến nhà máy sản xuất phân  
compost; loại rác khó tái chế, hoặc hiệu quả tái chế không cao, nhưng cháy được sẽ  
đưa đến nhà máy đốt rác thu hồi năng lượng; rác có thể tái chế thì được đưa vào các  
nhà máy tái chế… Với các loại rác cồng kềnh như tivi, tủ lạnh, máy giặt,... thì quy  
định vào ngày 15 hàng tháng đem đặt trước cổng đợi ô tô đến chở đi, không được tuỳ  
tiện bỏ những thứ đó ở hè phố. Sau khi thu gom rác vào nơi quy định, công ty vệ  
sinh đưa loại rác cháy được vào lò đốt để tận dụng nguồn năng lượng cho máy phát  
điện. Rác không cháy được cho vào máy ép nhỏ rồi đem chôn sâu trong lòng đất.  
* Tại các nước đang phát triển: Công tác thu gom rác thải còn nhiều vấn đề  
bất cập. Việc bố trí mạng lưới thu gom, vận chuyển rác thải chưa hợp lý, trang thiết  
bị còn thiếu và thô sơ dẫn đến chi phí thu gom tăng mà hiệu quả lại thấp. Tại thành  
phố Bombay của Ấn Độ việc bố trí phương tiện thu gom, vận chuyển và số trạm  
trung chuyển rác rất ít, chỉ có 2 trạm trung chuyển với số lần vận chuyển là 2  
lần/ngày so với mức dân số 8,5 triệu người thì số lượng trạm trung chuyển và số lần  
vận chuyển trong ngày là rất thấp chưa đáp ứng đủ nhu cầu, trong khi đó thành phố  
Jakarta của Indonexia và thành phố Seoul - Hàn Quốc số trạm trung chuyển là khá  
cao với 776 và 630 trạm.  
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 63 trang yennguyen 15140 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá hiện trạng thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_danh_gia_hien_trang_thu_gom_xu_ly_rac_thai_sinh_ho.pdf