Đồ án Nghiên cứu hệ thống thông tin di động tiền 4G LTE (Long Term Evolution)

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG  
ISO 9001:2015  
NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG  
THÔNG TIN DI ĐỘNG 4G LTE  
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY  
NGÀNH ĐIỆN TỬ TRUYỀN THÔNG  
HẢI PHÒNG - 2019  
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG  
ISO 9001:2015  
NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG  
THÔNG TIN DI ĐỘNG 4G LTE  
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY  
NGÀNH ĐIỆN TỬ TRUYỀN THÔNG  
Sinh viên: Nguyễn Chiến Thắng  
Người hướng dẫn: Th.S Đỗ Anh Dũng  
HẢI PHÒNG - 2019  
2
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam  
Độc lập – Tự Do – Hạnh Phúc  
----------------o0o-----------------  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÒNG  
NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP  
Sinh viên : Nguyễn Chiến Thắng – MSV : 1412103003  
Lớp : ĐT1801- Ngành Điện Tử Truyền Thông  
Tên đề tài : Nghiên cứu hệ thống thông tin di động 4G LTE  
3
CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT  
AMPS Advanced Mobile Phone Sytem Hệ thống điện thoại di động tiên  
tiến  
BCCH Broadcast Control Channel  
BCH Broadcast Channel  
DCCH Dedicated Control Channel  
Kênh điều khiển quảng bá  
Kênh quảng bá  
Kênh điều khiển dành riêng  
Kênh chia sẻ đường xuống  
DL-  
Downlink Shared Channel  
SCH  
EDGE  
Enhanced Data Rates for GSM Tốc độ số liệu tăng cường để  
Evolution  
phát triển GSM  
GPRS  
General Packet Radio Service  
Dịch vụ vô tuyến gói chung  
Số liệu chuyển mạch kênh tốc  
độ cao  
HSCSD High Speed Circuit Switched  
Data  
HSDPA High Speed Downlink Package Truy nhập gói đường xuống tốc  
Access  
độ cao  
MAC  
Medium Access Control  
Điều khiển truy cập môi trường  
Kênh điều khiển multicast  
Kênh multicast  
MCCH Multicast Control Channel  
MCH Multicast Channel  
MIMO Multiple input Multiple Output Đa nhập đa xuất  
MTCH Multicast Traffic Channel Kênh lưu lượng multicast  
PCCH  
PCH  
Paging Control Channel  
Paging channe  
Kênh điều khiển tìm gọi  
Kênh tìm gọi  
PDCP  
Packet Data Convergence  
Protocol  
Giao thức hội tụ số liệu gói  
PDU  
PHY  
Protocol Data Unit  
Physical layer  
Đơn vị dữ liệu giao thức  
Lớp vật lý  
4
DTCH Dedicated Traffic Channel  
Kênh lưu lượng dành riêng  
Điều khiển liên kết vô tuyến  
Đơn vị dữ liệu dịch vụ  
Hệ thống giao tiếp truy cập tổng  
hợp  
RLC  
Radio Link Control  
Service Data Unit  
Total Access Communication  
Sytem  
SDU  
TACS  
UL-  
Uplink shared channel  
Kênh chia sẻ đường lên  
SCH  
5
MỤC LỤC  
CHƯƠNG 3 - TRUY CẬP VÔ TUYẾN TRONG LTE………………….55  
6
 
7
8
DANH MỤC HÌNH  
9
10  
11  
LỜI NÓI ĐẦU  
Trong những năm gần đây,mạng không dây ngày càng trở nên phổ biến  
với sự ra đời của hàng loạt những công nghệ khác nhau như Wi-Fi (802.1x),  
WiMax (802.16)... Cùng với đó là tốc độ phát triển nhanh, mạnh của mạng  
viễn thông phục vụ nhu cầu sử dụng của hàng triệu người mỗi ngày. Hệ thống  
di động thế hệ thứ hai, với GSM và CDMA là những ví dụ điển hình đã phát  
triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia. Tuy nhiên, thị trường viễn thông càng mở  
rộng càng thể hiện rõ những hạn chế về dung lượng và băng thông của các hệ  
thống thông tin di động thế hệ thứ hai. Sự ra đời của hệ thống di động thế hệ  
thứ ba với các công nghệ tiêu biểu như WCDMA hay HSPA là một tất yếu để  
có thể đáp ứng được nhu cầu truy cập dữ liệu, âm thanh, hình ảnh với tốc độ  
cao, băng thông rộng của người sử dụng.  
Cũng giống như các thuật ngữ 2G hay 3G, 4G chỉ là một từ viết tắt của cụm  
từ “fourth generation” (thế hệ thứ 4) để thuận tiện cho các chương trình  
marketing của các nhà mạng. Dịch vụ viễn thông hay kết nối không dây sử  
dụng công nghệ này thực ra rất khác biệt nhau và phụ thuộc vào các nhà cung  
cấp dịch vụ nhưng thông thường, một mạng không dây sử dụng công nghệ 4G  
sẽ có tốc độ nhanh hơn mạng 3G từ 4 đến 10 lần.  
Hiện thế giới đang tồn tại 2 chuẩn công nghệ lõi của mạng 4G là WiMax và  
Long Term Evolution (LTE). WiMax là chuẩn kết nối không dây được phát  
triển bởi IEEE (Institute of Electrical and Electronics Engineers) còn LTE là  
chuẩn do 3GPP, một bộ phận của liên minh các nhà mạng sử dụng công nghệ  
GSM. Cả WiMax và LTE đều sử dụng các công nghệ thu phát tiên tiến để  
nâng cao khả năng bắt sóng và hoạt động của thiết bị, mạng lưới. Tuy nhiên,  
mỗi công nghệ đều sử dụng một dải băng tần khác nhau.  
Mạng 4G với tốc độ cao hơn hẳn sẽ giúp cho tốc độ truyền tải của dữ liệu trên  
các hệ thống mạng được cải thiện đáng kể và đưa các dịch vụ cao cấp như sử  
dụng ứng dụng di động, trên video trực tiếp trên mạng, hội nghị truyền hình  
hay chơi game trực tuyến… sẽ bùng nổ thực sự.  
13  
Tuy nhiên, điểm “lợi hại” nhất của mạng 4G là nó có thể thay thế một cách hoàn  
hảo các đường truyền Internet cố định (kể cả đường truyền cáp quang) với tốc độ  
không thua kém, vùng phủ sóng rộng lớn hơn và có tính di động rất cao.  
Để tài “Nghiên cứu hệ thống thông tin di động tiền 4G LTE (Long Term  
Evolution)” của em tập trung đi vào tìm hiểu tổng quan về công nghệ LTE  
cũng như là những kỹ thuật và thành phần được sử dụng trong công nghệ này  
để có thể hiểu rõ thêm về những tiềm năng hấp dẫn mà công nghệ này mang  
lại và tình hình triển khai công nghệ này trên thế giới và tại VIỆT NAM .  
Đề tài gồm 5 chương :  
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN HỆ THỐNG THÔNG TIN DI  
ĐỘNG VÀ GIỚI THIỆU CÔNG NGHỆ LTE 4  
CHƯƠNG 2: KIẾN TRÚC MẠNG VÀ GIAO THỨC 4  
CHƯƠNG 3: TRUY NHẬP VÔ TUYẾN TRONG LTE  
CHƯƠNG 4: LỚP VẬT LÝ LTE  
CHƯƠNG 5: CÁC THỦ TỤC TRUY NHẬP  
Để thực hiện đồ án tốt nghiệp này, em đã sử dụng những kiến thức được  
trang bị trong 5 năm đại học và những kiến thức chọn lọc từ các tài liệu của  
các thầy giáo, cô giáo trong và ngoài trường . Ngoài ra, đồ án còn sử dụng  
những tài liệu phổ biến rộng rãi trên Internet.  
Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng do hạn chế về thời gian cũng như những  
hiểu biết có hạn của một sinh viên nên đồ án không tránh khỏi thiếu sót. Để  
đồ án được hoàn thiện hơn, em rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của  
các thầy giáo, cô giáo cũng như các bạn sinh viên.  
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Chiến Thằng  
14  
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN DI  
ĐỘNG & GIỚI THIỆU VỀ MẠNG 4G LTE  
1.Tổng quan về hệ thống thông tin di động:  
Các hệ thống thông tin di động đầu tiên ra đời từ những năm 1920, khi đó  
điện thoại di động chỉ được sử dụng như là các phương tiện thông tin giữa các  
đơn vị cảnh sát ở Mỹ. Ngày 17/6/1946 hãng AT&T và Southwestern Bell  
giới thiệu thông tin di động đầu tiên ở Mỹ, hệ thống đầu tiên này gồm 6 kênh  
ở băng tần 150 MHz, là hệ thống bán song công, có độ rộng kênh là 60 KHz  
(gấp 2 lần kênh thông tin di động tương tự ngày nay, trong khi đó CDMA là  
1.25 MHz và WCDMA là 5MHz). Khi hệ thống này ra đời và được ứng dụng  
vào các thành phố lớn ở Mỹ, thì nhu cầu người sử dụng vượt quá dung lượng,  
nên độ rộng kênh được giảm xuống còn 30 KHz. Các hệ thống di động đầu  
tiên này ít tiện lợi và dung lượng rất thấp so với các hệ thống hiện nay.  
1.1.1. Hệ thống thông tin di động thế hệ thứ nhất ( 1G)  
Những năm cuối thập niên 70, hệ thống điện thoại di động thế hệ thứ nhất  
được phát triển, đó là hệ thống thông tin di động tương tự sử dụng phương  
pháp đa truy cập phân chia theo tần số FDMA (Frequency Division Multiple  
Access) cung cấp những dịch vụ chủ yếu là thoại. Thế hệ mạng điện thoại di  
động đầu tiên sử dụng các chuyển mạch tương tự, là hệ thống truyền tín hiệu  
tương tự.  
Có thể kể đến như NMT (Nordic Mobile Telephone) của công ty Ericsson  
(Thụy Điển); hai versions đang tồn tại là NMT450 hoạt động tại 450 MHz  
band và NMT900 hoạt động tại 900 MHz band. AMPS (Advanced Mobile  
Phone System) là hệ thống điện thoại di động tổ ong do AT&T và công ty  
Motorola (Mỹ) đề xuất sử dụng năm 1982. Các hệ thống kể trên là các hệ  
thống 1G. Tuy nhiên các hệ thống 1G này có những hạn chế như sau: phân bố  
tần số rất hạn chế, dung lượng thấp, tiếng ồn khó chịu và nhiễu xảy ra khi di  
15  
     
động chuyển dịch trong môi trường phađing đa tia, không đáp ứng được các  
dịch vụ mới hấp dẫn đối với khách hàng, không cho phép giảm đáng kể giá  
thành của thiết bị di động và cơ sở hạ tầng, không đảm bảo tính bí mật của  
các cuộc gọi, không tương thích giữa các hệ thống khác nhau, đặc biệt ở châu  
Âu, làm cho thuê bao không thể sử dụng được máy di động của mình ở nước  
khác. Bảng 1.1 liệt kê một vài thông số chính của các hệ thống di động:  
Tham số  
Băng tần  
AMPS  
800 MHz  
30 KHz  
45 MHz  
832  
NMT 900  
900 MHz  
25 / 12.5 KHz  
45 MHz  
NMT 450  
450 – 470 MHz  
25 / 29 KHz  
10 MHz  
Khoảng cách kênh  
Khoảng cách song công  
Các kênh  
1000 ( 1999)  
FM  
180 / 225  
FM  
Loại điều chế  
FM  
Kế hoạch ô  
4, 7, 12  
4, 9, 12  
7
Điều chế kênh điều  
khiển  
FSK  
FFSK  
FFSK  
Độ lệch kênh điều khiển  
Mã kênh điều khiển  
8 KHz  
3.5 MHz  
NRZ  
3.5 MHz  
NRZ  
Manchester  
Dung lượng kênh điều  
khiển  
77000  
13000  
13000  
Tốc độ truyền dẫn  
10 Kbps  
1.2 Kbps  
1.2 Kbps  
Bảng 1.1 Các thông số của một vài hệ thống thông tin di động  
Nhược điểm của thế hệ 1G là dung lượng thấp, xác suất rớt cuộc gọi cao,  
khả năng chuyển cuộc gọi không tin cậy, chất lượng âm thanh kém, không có  
chế độ bảo mật...  
16  
1.1.2. Hệ thống thông tin di động thế hệ thứ hai ( 2G)  
Khi số lượng thuê bao di động tăng lên nhanh chóng, hệ thống thông tin di  
động thứ nhất sử dụng các bộ chuyển mạch tương tự đã không còn đáp ứng  
được nữa. Các nhà mạng cần phải có biện pháp nâng cao dung lượng của  
mạng, chất lượng các cuộc đàm thoại cũng như cung cấp thêm một số lượng  
dịch vụ bổ sung cho mạng. Để giải quyết vấn đề này các nhà nghiên cứu áp  
dụng việc số hóa hệ thống điện thoại di động cùng với các kỹ thuật đa truy  
nhập mới, và điều này dẫn tới sự ra đời của hệ thống điện thoại di động thế hệ  
thứ 2 hay còn gọi tắt là 2G.  
Hệ thống 2G dựa trên nền tảng công nghệ kỹ thuật điện tử số, ứng dụng kỹ  
thuật đa truy cập phân chia theo thời gian (TDMA - Time Division Multiple  
Access) và đa truy nhập phân chia theo mã (CDMA – Code Division Multiple  
Access). Hệ thống này có nhiều ưu điểm vượt trội hơn hệ thống thông tin di  
động thế hệ thứ nhất vì ngoài dịch vụ thoại truyền thống.  
Hệ thống 2G còn cung cấp thêm một số dịch vụ truyền dữ liệu, tuy tốc độ  
còn thấp. Một số hệ thống di động 2G tiêu biểu như GSM (Global System for  
Mobile Communication), IS-95 (Iterim Standard-95).  
Trong đó GSM được sử dụng rộng rãi nhất, hệ thống thông tin di động  
GSM đầu tiên được triển khai vào khoảng năm 1991. GSM kết hợp kỹ thuật  
truy nhập TDMA và FDMA và sử dụng hai dải tần số xung quanh 900 MHz,  
(hình 1.1).  
Băng tần đầu tiên cho đường lên hoạt động ở 890 MHz đến 915 MHz.  
Băng tần thứ hai dành cho đường xuống hoạt động tại 935 MHz đến 960  
MHz. Mỗi kênh vật lý có băng thông là 200 KHz và có 8 khe thời gian, mỗi  
khe thời gian được gán cho một người sử dụng. Để tăng thêm dung lượng cho  
các hệ thống thông tin di động, tần số của các hệ thống được chuyển từ vùng  
800 – 900 MHz vào vùng 1.8 – 1.9 GHz. Một số nước đã đưa vào sử dụng cả  
hai tần số (Dual Band).  
17  
 
Uplink  
Downlink  
Frequency  
( MHz )  
890  
915  
935  
960  
Hình 1.1 Sự phân bố tần số trong hệ thống GSM  
TDMA  
Sơ đồ đa truy nhập  
Phân bố tần số  
đường lên: 890-915 MHz  
Đường xuống: 935-960 MHz  
200 KHz  
Băng thông kênh  
Tốc độ điều chế dữ liệu trên kênh vô tuyến  
270.8333 Kb/s  
0.3 GMSK  
Điều chế  
Mã hoá kênh  
kết hợp mã hoá khối và mã xoắn  
Bảng 1.2 Các thông số chính của hệ thống GSM  
Kể từ khi ra đời, các hệ thống GSM đã phát triển với một tốc độ hết sức  
nhanh chóng và có mặt ở nhiều quốc gia. Ở Việt Nam hệ thống thông tin di  
động số GSM được đưa vào từ năm 1993 và được khai thác, áp dụng rộng rãi  
trên toàn quốc  
Có 4 chuẩn chính đối với hệ thống 2G: Hệ Thống Thông Tin Di Động  
Toàn Cầu (GSM); AMPS số (D-AMPS); Đa Truy Cập Phân Chia Theo Mã  
IS-95; và Mạng tế bào Số Cá Nhân (PDC). GSM đạt đuợc thành công nhất và  
đuợc sử dụng rộng rãi trong hệ thống 2G.  
❖ GSM  
GSM cơ bản sử dụng băng tần 900MHz. Sử dụng kỹ thuật đa truy nhập  
theo thời gian TDMA. nhung ở đây cũng có một số những phát sinh, 2 vấn đề  
18  
   
quan trọng là hệ thống mô hình số 1800 (DCS 1800; cũng đuợc biết nhu GSM  
1800) và PCS 1900 (hay GSM 1900). Sau này chỉ đuợc sử dụng ở Bắc Mĩ và  
Chilê, và DCS 1800 thì đuợc tìm thấy ở một số khu vực khác trên thế giới.  
Nguyên do đầu tiên về băng tần số mới là do sự thiếu dung luợng đối với  
băng tầng 900 MHz. Băng tần 1800MHz có thể đuợc sử dụng ý nghĩa và phổ  
biến hơn đối với nguời sử dụng. vì thế nó đã trở nên hoàn toàn phổ biến, đặc  
biệt trong những khu vực đông dân cư. Vì thế đồng thời cả 2 băng tần di động  
đều đuợc sử dụng, ở đây điện thoại sử dụng băng tần 1800MHz khi có thành  
phần khác sử dụng lên trên mạng 900MHz.  
Hệ thống GSM 900 làm việc trong một băng tần hẹp, dài tần cơ bản từ  
(890- 960MHz). Trong đó băng tần cơ bản đuợc chia làm 2 phần :  
+ Đuờng lên từ (890 - 915) MHz.  
+ Đuờng xuống từ (935 - 960)MHz.  
Băng tần gồm 124 sóng mang đuợc chia làm 2 băng, mỗi băng rộng  
25MHz,khoảng cách giữa 2 sóng mang kề nhau là 200KHz. Mỗi kênh sử  
dụng 2 tần số riêng biệt cho 2 đuờng lên và xuống gọi là kênh song công.  
Khoảng cách giữa 2 tần số là không đổi bằng 45MHz. Mỗi kênh vô tuyến  
mang 8 khe thời gian TDMA và mỗi khe thời gian là một kênh vật lý trao đổi  
thông tin giữa MS và mạng GSM. Tốc độ từ 6.5 - 13 Kbps.  
Từ năm 1989 GSM được chuyển nhượng cho Viện tiêu chuẩn viễn  
thông Châu Âu (ETSI) và được viện phát triển qua nhiều giai đoạn. Đến  
năm 1997 mới hoàn thành tiêu chuẩn đầy đủ thành GSM 2G có kết hợp với  
dịch vụ số liệu chuyển mạch tốc độ cao (HSCSD) và dịch vụ truyền sóng vô  
tuyến gói đa dụng (GPRS).  
Trong đó :  
❖ HSCSD ( High Speed Circuit Switched Data) - Chuyển mạch kênh  
tốc độ cao:  
Nhược điểm các hệ thống thông tin di động sử dụng công nghệ GSM là  
tốc độ truyền dữ liệu chậm. Tốc độ về mặt lý thuyêt là 14.4Kbps, thực tế đo  
19  
được chỉ khoảng 9.6Kbps. Do vậy khi áp dụng công nghệ HSCSD sẽ làm tăng  
tốc độ truyền tải dữ liệu cả hệ thống. Cốt lõi công nghệ này là việc sử dụng  
ghép kênh theo thời gian, một trạm di động có thể sử dụng nhiều khe thời  
gian cho một kết nối dữ liệu tối đa là 4 khe thời gian. Một khe thời gian có thể  
sử dụng tốc độ 9.6Kbps hoặc 14.4Kbps. Toàn bộ tốc độ chính là số khe thời  
gian nhân với tốc độ dữ liệu của một khe thời gian. HSCSD phân bố việc sử  
dụng khe thời gian một cách liên tục ngay cả khi không có dữ liệu truyền đi.  
❖ GPRS (General Packet Radio Service) - Dịch vụ truyền dữ liệu theo gói:  
GPRS là một hệ thống vô tuyến thuộc giai đoạn trung gian, nhưng vẫn  
là hệ thống 3G nếu xét về mạng lõi. GPRS cung cấp các kết nối số liệu  
chuyển mạch gói với tốc độ truyền lên tới 171,2Kbps (tốc độ số liệu đỉnh) và  
hỗ trợ giao thức Internet TCP/IP và X25, nhờ vậy tăng cường đáng kể các  
dịch vụ số liệu của GSM.  
Việc tích hợp GPRS vào mạng GSM được thực hiện rất đơn giản. Một  
phần các khe trên giao diện vô tuyến dành cho GPRS, cho phép ghép kênh số  
liệu gói được lập lịch trình trước đối với một số trạm di động. Phân hệ trạm  
gốc chỉ cần nâng cấp một phần nhỏ liên quan đến khối điều khiển gói (PCU-  
Packet Control Unit) để cung cấp khả năng định tuyến gói giữa các đầu cuối  
di động các nút cổng (gateway). Một nâng cấp nhỏ về phần mềm cũng cần  
thiết để hỗ trợ các hệ thống mã hoá kênh khác nhau. Mạng lõi GSM được tạo  
thành từ các kết nối chuyển mạch kênh được mở rộng bằng cách thêm vào các  
nút chuyển mạch số liệu và gateway mới, được gọi là GGSN (Gateway GPRS  
Support Node) và SGSN (Serving GPRS Support Node). GPRS là một giải  
pháp đã được chuẩn hoá hoàn toàn với các giao diện mở rộng và có thể  
chuyển thẳng lên 3G về cấu trúc mạng lõi.  
❖ EDGE ( Enhanced Data Rates for GSM Evolution): Tốc độ số liệu tăng  
cường để phát triển GSM: EDGE có thể phát nhiều bit gấp 3 lần GPRS trong  
một chu kỳ. Đây là lý do chính cho tốc độ bit EDGE cao hơn. ITU đã định  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 140 trang yennguyen 22180 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đồ án Nghiên cứu hệ thống thông tin di động tiền 4G LTE (Long Term Evolution)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdo_an_nghien_cuu_he_thong_thong_tin_di_dong_tien_4g_lte_long.pdf