Đề tài Ứng dụng phần mềm Mepbay để phân tích lựa chọn tuyến công trình đập chắn sóng tại cửa Đề Gi, tỉnh Bình Định

Hội nghị Nghiên cứu Khoa học Sinh viên Khoa Kỹ Thuật Bờ Biển 2015  
ỨNG DỤNG PHẦN MỀM MEPBAY ĐỂ PHÂN TÍCH LỰA CHỌN TUYẾN CÔNG  
TRÌNH ĐẬP CHẮN SÓNG TẠI CỬA ĐỀ GI, TỈNH BÌNH ĐỊNH  
SVTH :  
Đỗ Thị Tuyết  
Trần Thị Nguyệt  
53B2  
Lớp :  
GVHD: PGS.TS. Trần Thanh Tùng  
Cửa Đề Gi nằm trên ranh giới phía Đông của xã Mỹ Chánh, huyện Phù Mỹ, và xã Cát  
Minh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Nằm ở cực Bắc của tiểu vòng cung được giới hạn từ mũi  
Vĩnh Lợi đến mũi Hòn Héo, phía Bắc là các dãy núi kéo dài ra biển chắn gió Đông Bắc, phía Nam là  
dãy cồn cát kéo dài đến mũi Hòn Héo. Do nằm trong tiểu vòng cung Vĩnh Lợi – Hòn Héo nên cửa  
Đề Gi chịu ảnh hưởng quyết định của sự dao động và bồi xói của tiểu vòng cung này theo chu kỳ  
mùa. Dưới tác động của các quá trình biển và lục địa , cửa Đề Gi thường có những biến đổi rất lớn  
theo chu kỳ mùa. Để khắc phục những sự biến đổi đó, và ổn định bãi biển phía nam cửa Đề Gi, cần  
lựa chọn để xây dựng được tuyến công trình đập chắn sóng, giảm cát phù hợp ở bờ bắc.  
Nghiên cứu này sẽ đánh giá trạng thái cân bằng bãi biển ở bờ nam với các kịch bản xây  
dựng đập chắn sóng và bùn cát ở mũi đá bờ bắc thông qua việc ứng dụng mô hình phân tích cân  
bằng bãi biển (trên mặt bằng) MEPBAY. Các kết quả tính toán trên mô hình sẽ góp phần vào việc  
lựa chọn tuyến đập chắn sóng phù hợp ở bờ bắc và tạo đường bờ ổn định ở bờ nam cửa Đề Gi.  
1.Giới thiệu lưu vực nghiên cứu.  
1.1 Vị trí địa lý  
Cửa Đề Gi nằm trên ranh giới phía Đông của xã Mỹ Chánh , huyện Phù Mỹ và xã Cát  
Minh,huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.Khu Vực nghiên cứu có tọa độ (140 07’ – 140 11’N) và (1090  
08’ -1090 14’E). Cửa Đề Gi là cửa thoát nước của hệ thống sông La Tinh với diện tích lưu vực  
719Km2.Nằm ở cửa cực Bắc của tiểu vòng cung được giới hạn từ mũi Vĩnh Lợi đến mũi Hòn Héo,  
Phía Bắc cửa Đề Gi là các dãy núi kéo dài ra biển chắn gió Đông Bắc , Phía Nam là dãy cồn cát cao  
kéo dài đến mũi Hòn Héo. Do nằm trong tiểu vòng cung (Vĩnh Lợi –Hòn Héo) nên cửa Đề Gi chịu  
ảnh hưởng quyết định của sự dao động và xói bồi của tiểu vòng cung này theo chu kì mùa.Ngoài  
việc chịu tác dụng của các quá trình động lực biển, cửa Đề Gi còn chịu ảnh hưởng của nước do mưa  
lũ đổ ra cửa song qua đầm Nước ngọt.  
Dưới tác dụng của các quá trình biển và lục địa cửa Đề Gi thường có những biến đổi rất lớn  
theo chu kì mùa.  
1
Hội nghị Nghiên cứu Khoa học Sinh viên Khoa Kỹ Thuật Bờ Biển 2015  
Hình 1 Hình ảnh cửa Đề Gi-Tỉnh Bình Định  
1.2 Thời tiết – Khí hậu.  
Khu vực cửa Đề Gi cũng như vùng phụ cận nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa .Mùa đông  
kéo dài từ tháng 10 năm trước đến hết tháng 3 năm sau.Thời kì này ngoại trừ tháng 10 còn mang  
tính chất chuyển mùa, thì các tháng còn lại đều chiu sự chi phối của gió mừa Đông Bắc. Từ tháng 4  
đến hết tháng 9 chịu sự thay đổi chi phối của gió mùa Tây Nam.Tuy nhiên ở khu vực miền Trung do  
núi tiến sát ra biển nên gió mùa khi tiến vào đất liền đã bị biến dạng dưới tác dụng của địa  
hình.Ngoài sự tác dụng của 2 hướng gió chính, vùng nghiên cứu còn chịu ảnh hưởng của quy luật  
miền duyên hải đó là gió đất và gió biển , vận tốc gió trung bình năm là 1.7m/s. Tháng 11 là tháng  
có vận tốc gió trung bình lớn nhất 2.5m/s.Nhiệt độ không khí trung bình năm là 26.10C.  
Do thời tiết khí hậu vậy nên sự phân bố hướng sóng diễn ra theo các tháng trong năm như  
sau:  
Từ tháng 11 năm trước đến tháng 04 năm sau trên thềm lục địa tỉnh bình Định sóng có  
hướng Đông Bắc (NE). Riêng trong thời kì tháng 11 năm trước đến tháng 02 năm sau có xuất hiện  
sóng hướng Bắc(N). nhưng tần suất và cường độ rất nhỏ so với hướng Đông Bắc. Tháng 05 là thơi  
kì chuyển mùa , sóng không ổn định và khá yếu.Từ tháng 6 đến tháng 9 trên toàn vùng nghiên cứu  
có sóng hướng Tây Nam .Nhưng trong mùa gió Tây Nam không quan trắc được sóng có độ cao lớn,  
nên ta không xét tới.Các sóng hướng khác có tần suất không đáng kể và cường độ nhỏ.  
2
Hội nghị Nghiên cứu Khoa học Sinh viên Khoa Kỹ Thuật Bờ Biển 2015  
Hình 2-1.Sơ đồ khúc xạ sóng gió hướng Đông Bắc tại vùng ven biển Đề Gi – Bình Định  
1.3 Địa hình  
Khu vực cửa Đề Gi khá nông và hẹp với luồng chính đi sát mạch núi phía Đông Bắc với độ  
sâu tại bãi cạn khoảng từ -2,2m đến -2.5m. Phía Nam cửa Đề Gi là bờ biển thuộc xã Cát Khánh dài  
khoảng12km với các đụn cát cao khoảng 10m chạy dài về phía Đông Nam tới chân núi Hòn Héo.  
3
Hội nghị Nghiên cứu Khoa học Sinh viên Khoa Kỹ Thuật Bờ Biển 2015  
2.Giới thiệu mô hình nghiên cứu MEPBAY.  
Với địa mạo của bờ biển dạng vòng cung, một vài mô hình kinh nghiệm bấy lâu nay đã  
được đưa ra để những đường cong bờ biển phù hợp với mô hình ngoài thực tế này .Trong đó,việc  
đưa mô hình hình dạng vịnh parabolic này bới Hsu và Evans (1989) là một mô hình nhận được  
nhiều thu hút nhất. Tuy nhiên hướng áp dụng của mô hình parabolic này đòi hỏi việc tính toán thủ  
công của các vị trí trên đường bờ theo lí thuyết và tính toán kết quả trên bản đồ hoặc ảnh vệ tinh.  
Quy trình tính toán mặc dù rắc rối, do việc lặp lại nhiều và thiếu khoa học, đặc biệt là khi nhiều kết  
quả của nhiều phương án được đưa ra để chọn lựa. Để cải thiện trong việc ứng dụng hiệu quả , gói  
phần mềm MEPBAY đã được phát triển để thuận tiện cho quá trình tính toán cho cân bằng những  
bãi biển vịnh.  
Hình 2-2. Bãi biển ở trạng thái cân bằng tĩnh  
Hsu và Evans (1989) đã phát triển mô hình vịnh dạng parabolic cho bờ biển mũi đá trong  
cân bằng tĩnh dưới dạng công thức:  
Rn/Rβ= Co+ C1*(β/θ)+ C2*(β/θ)2.  
Trong đó có 2 thông số cơ bản : góc nghiêng song β( so với hướng sóng chủ yếu) và đường  
khống chế Rβ (hình 2-1).việc xác định góc nghiêng song này là để tính toán bãi biển dạng cong  
giữa đường đỉnh song tới tại điểm nhiễu xạ song và đường không chế.Biểu thị khoảng cách của  
đường khống chế dựa vào điểm nhiễu xạ bãi biển trên (Xo,Yo), điểm khống chế bãi biển dưới  
(X1,Y1), được cho như ở hình 2-2,giá trị của bất kì điểm nào ở trên hay bên cạnh tại các phân đoạn  
đường thẳng bãi dưới của bãi biển có thể là sự lựa chọn thuận lợi giống như là điểm kiểm soát bãi  
4
Hội nghị Nghiên cứu Khoa học Sinh viên Khoa Kỹ Thuật Bờ Biển 2015  
biển dưói, đối với các điểm lựa chọn tiện ích hay không này đều đã được chú ý trong Silvester và  
Hsu (1997). Điều này cho biết làm thế nào để xác định các điểm này từ bản đồ, từ hình ảnh thiên  
văn, thậm chí là từ 1 kế hoạch dự thảo..Từ điểm nhiễu xạ, các tia có bán kính R sẽ quét nên đường  
bờ cong theo θ thay đổi và góc θ làgóc giữa mặt sóng nghiêng β với bán kính R. Các hằng số Co, C1  
và C2 được xác định nhờvào phân tích tương quan số liệu của mô hình vật lý khi β thay đổi (Hình 2-  
2).Những hệ số này có thể được xác định bởi hàm đa thức dưới đây:  
C0=0.0707-0.0047β+0.000349β2 -0.00000875β3+0.00000004765β4  
C1=0.9536+0.0078β-0.00004879β2+0.00001823-0.00000128β4  
C2=0.0214-0.0078β+0.0003004β2-0.00001183β3+0.00000009343β4  
Tất cả những giá trị C nằm trong khoảng -1<C<2.5 với giá trị góc β (100,800) điều kiện này  
ứng dụng hấu hết ở các vùng., giá trị tỉ lệ không thứ nguyên Rn/Rβ .  
Hình 2-1. Các thông số được xác định dựa trên mô hình hình dạng parabolic  
Các nước ứng dụng mô hình parabolic được miêu tả như dưới đây, như sau:  
. Lựa chọn đường khống chế với chiều dài là Rβ: đường thẳng này được nối từ điểm nhiễu  
xạ song của bãi biển phía trên đến điểm kiểm soát thích hợp bằng đường thẳng khu vực  
bãi dưới.  
. Xác định hướng song chủ đạo và góc sóng tới β : từ điểm kiểm soát dưới , đường tiếp  
tuyến đường bờ bãi dưới có thể được vẽ, Để tạo ra đường đỉnh sóng , đường này vuông  
góc với những con sóng đang đi vào tại điểm nhiễu xạ bãi trên vào vịnh bãi biển. Góc β  
tạo bởi đường khống chế và đường đỉnh sóng này.  
5
Hội nghị Nghiên cứu Khoa học Sinh viên Khoa Kỹ Thuật Bờ Biển 2015  
. Tính toán chiều dài tỉaRn : bắt đầu từ θ=β tại đường biên bãi dưới, tia Rn và góc θ được  
tính toán nhưng góc θ tăng nhiều nhất mỗi lần là 10- 100 , và tăng tối đa đến 1500 hoặc  
1800.  
. Dự tính hình dạng đường bờ trong cân bằng tĩnh: cuối cùng , dạng đường bờ cong trong  
cân bằng tĩnh đã được dự tính tren bản đồ hiện hữu sau khi tính ra các điểm ( Rn,θn), đối  
với sự đánh giá cân bang đối với cân bang bờ biển.  
+ Xác định đường kiểm soát Rβ  
Bước đầu tiên của việc xác định là tìm kiếm và định nghĩa đường khống chế trên từng  
phân khúc đường bờ thẳng. Chiều dài của đường bờ này ,Rβ là khoảng cách giữa điểm kiểm  
soát ường bờ trên và điểm kiểm soát đường bờ dưới, vị trí tương ứng là (X0,Y0) và (X1,Y1),  
tương ứng như hình 2-2, khoảng cách giữa 2 vị trí này được cho bởi :  
Rβ= ((X1-X0)2+(Y1-Y0)2)1/2  
[1]  
Rβ là chiều dài đường khống chế ( xác đinh dựa trên từng phân đoạn trên hình) , X0 và Y0  
tương ứng là tọa độ của điểm kểm soát bãi trên bờ biển , là điểm bắt đầu của đường khống  
chế. Và X1 và Y1 tương úng là tọa độ của điểm kiểm soát dưới, là điểm kết thúc của đường  
khống chế.  
+ Tính toán góc nghiêng sóng  
Sau khi lựa chọn được giá trị Rβ, bước tiếp theo là định nghĩa hướng sóng chủ đạo cho  
việc duy trì bờ biển hiện hữu. Tuy nhiên,thay vì đang sử dụng hướng sóng trực quan, đường  
đỉnh sóng trực quan đã được sử dụng thay thế cho hướng sóng. Từ đó góc sóng β đã được  
xác định.(hình 2-1), hướng của sóng chủ đạo được vẽ vuông góc với tiếp tuyến đường bờ bãi  
biển dưới, đồng thời cũng vuông góc đường đỉnh sóng tại điểm sóng nhiễu xạ trên bãi biển.  
Từ đó tạo ra được 1 hình tam giác, với những giá trị của 3 cạnh tam giác, đường khống chế  
đường bờ, đường hướng sóng chủ đạo và đường tiếp tuyến bãi biển dưới, (hình2- 1):  
β=arcos(b/Rβ) hoặc β=arcsin(d/Rβ)  
Trọng đó: b là độ dài tiếp tuyến dọc bãi biển dưới.  
d là độ dài trên hướng của hướng sóng chủ đạo.  
+ Thực hiện mô hình parabolic  
[2]  
Thay thế các giá trị của Rβ và β vào mô hình hình dạng vịnh dang parabolic ý nghĩa này  
(công thức [1] và [2]) ,tia Rn thay đổi ứng với mỗi góc θn ương ứng (giá trị góc β giới hạn  
đến 1500 hoặc 1800), cặp giá trị Rn và θn được xác định dưới dạng vector , góc sóng tới chủ  
yếu β . Giá trị của các thông số C0, C1, C2 xác định dựa trên hàm số biên là góc β(Hsu và  
Evans, 1989):  
C0=0.0707-0.0047β+0.000349β2 -0.00000875β3+0.00000004765β4  
6
Hội nghị Nghiên cứu Khoa học Sinh viên Khoa Kỹ Thuật Bờ Biển 2015  
C1=0.9536+0.0078β-0.00004879β2+0.00001823-0.00000128β4  
C2=0.0214-0.0078β+0.0003004β2-0.00001183β3+0.00000009343β4  
+ Dự tính hình dạng vịnh tĩnh  
Sau khi tính các giá trị của Rn cho tất cả các tia đến tất cả cá điểm trên toàn bộ phạm vi  
của vịnh, giá trị này trở nên cần thiết cho việc xác định ổn định đường bờ tại đây, để biết  
được vị trí học cần phải xuất hiên chính xác các công trình ở đây  
3.Nghiên cứu lựa chọn tuyến đập bờ bắc cửa Đề Gi bằng phần mềm MEPBAY  
3.1.Thiết lập mô hình MEPBAY  
Mô hình MEPBAY được thiết lập qua các bước trình bày ở sơ đồ dưới đây:  
Dựa vào  
kết quả,  
dự tính  
phương  
án phù  
hợp cho  
ổn định  
đường  
bờ.  
Đặt các  
Trên  
Chọn  
Nhập hình  
ảnh bãi  
biển cần  
nghiên  
cứu  
điểm  
thanh  
phân đoạn  
đường bờ  
có nguy  
cơ bị mất  
ổn định  
khống chế  
trên ,dưới,  
tiếp tuyến  
bãi biển  
công cụ  
(Tool)  
chọn  
đường  
cong  
parabolic  
curves  
Nghiên cứu này sẽ đánh giá trạng thái cân bằng bãi biển ở bờ nam với các kịch bản xây  
dựng đập chắn sóng và bùn cát ở mũi đá bờ bắc bằng mô hình MEPBAY. Các kết quả tính  
toán trên mô hình sẽ góp phần vào việc lựa chọn tuyến đập chắn sóng phù hợp ở bờ bắc và  
tạo đường bờ ổn định ở bờ nam cửa Đề Gi.  
Chia ra làm 3 phân đoạn nhỏ dự tính cho cân bằng đường bờ, để xây dựng tuyến công  
trình đập chắn sóng. Chọn phân đoạn đường bờ có nguy cơ bị biến đổi nhất để tính toán.  
7
Hội nghị Nghiên cứu Khoa học Sinh viên Khoa Kỹ Thuật Bờ Biển 2015  
Hình 3 Hình ảnh đường bờ dọc cửa Đề Gi-Bình Định  
Xét trên phân đoạn đường bờ phía nam dọc cửa Đề Gi có tọa độ (14°4'2"N ; 109°13'20"E)  
đến mũi cửa Đề Gi, sử dụng phần mềm MEPBAY đánh giá diễn biến đường biển ở phía nam  
cửa Đề Gi với 3 phương án xây dựng đập ở bờ bắc khác nhau.  
3.2.Dự tính diễn biến đường bờ theo phương án 1 (PA1)  
Chọn 1 điểm không chế thật tại tọa độ (14° 7'46"N; 109°13'21"E). Điểm khống chế ảo  
chọn cách điểm khống chế thật 0,6 km. Điểm khống chế ảo này là điểm đầu mút của công  
trình tưởng tượng với mục đích ổn định đường bờ hiện hữu có góc sóng chính là β=250-280  
và đường khống chế R=6.6-6.85 km.hoặc R=484.23-451.16m.  
a) Diễn biễn đường bờ khi chưa xây dựng công trình, đường bờ hiện tại có xu hướng  
thoái lui về đường bờ cân bằng tĩnh, tính toán bằng phần mềm MEPBAY, có được các giá trị  
của C0, C1,C2,Rn trong điều kiện khi chưa xây dựng công trình  
Bảng 1. Tính toán các giá trị C0, C1,C2, Rn khi chưa xây dựng công trình- PA1  
θ(độ)  
24.89  
34.89  
44.89  
54.89  
Rn(m)  
484.23  
366.04  
295.93  
249.67  
C0  
C1  
C2  
Rβ(m)  
484.23  
484.23  
484.23  
484.23  
0.053291  
0.053291  
0.053291  
0.053291  
1.079921  
1.079921  
1.079921  
1.079921  
-0.13321  
-0.13321  
-0.13321  
-0.13321  
8
Hội nghị Nghiên cứu Khoa học Sinh viên Khoa Kỹ Thuật Bờ Biển 2015  
Hình 3-2. Dự báo vị trí đường bờ khi chưa có công trình, PA 1  
b) Diễn biến đường bờ sau khi xây dựng công trình đập chắn sóng ở bờ bắc, PA 1 được  
tính toán bằng phần mền MEPBAY, kết quả diễn biến đường bờ trình bày tại hình 3-3.  
Hình 3-2. Dự báo vị trí đường bờ sau khi xây dựng công trình, PA 1  
9
Hội nghị Nghiên cứu Khoa học Sinh viên Khoa Kỹ Thuật Bờ Biển 2015  
Bảng 2. Tính toán các giá trị C0, C1,C2,Rn sau khi xây dựng công trình – PA 1  
θ (độ)  
28.09  
38.09  
48.09  
58.09  
Rn(m) Co  
C1  
C2  
Rβ(m)  
451.16  
451.16  
451.16  
451.16  
451.16 0.049785 1.114914  
352.99 0.049785 1.114914  
290.92 0.049785 1.114914  
248.32 0.049785 1.114914  
-0.1647  
-0.1647  
-0.1647  
-0.1647  
Sau khi đưa ra Phương án, so sánh giữa 2 TH khi có công trình và không có công trình.  
Ta lập được bảng so sánh cho thấy các vị trí dự tính thoái lui theo cách tính thủ công và chạy  
bằng phần mềm MEPBAY.  
Bảng 3. So sánh Rn và θ trước và sau khi đã xây dựng đập bờ bắc, PA 1  
Trước khi xây dựng đập bờ bắc  
Sau khi xây dựng đập bờ bắc  
Rn  
(m) Rn  
(m)  
Rn  
(m) Rn  
(m)  
θ(độ)  
θ(độ)  
MEPBAY thủ công  
MEPBAY thủ công  
35  
45  
55  
65  
75  
85  
95  
105  
115  
125  
135  
145  
366  
296  
250  
217  
192  
174  
159  
146  
136  
127  
120  
41  
368  
309  
267  
236  
212  
193  
177  
164  
153  
144  
136  
129  
28  
38  
48  
58  
68  
78  
88  
98  
108  
118  
128  
138  
451  
353  
291  
248  
217  
194  
175  
160  
148  
138  
129  
122  
467  
381  
323  
281  
249  
225  
205  
188  
175  
163  
153  
145  
Đường cong màu xanh thể hiện khi chưa xây dựng công trình, phần đất liền phía dưới  
bị thoái lui vào sâu bên trong. Đường cong màu đỏ thể hiện khi xây dựng công trình, đường  
bờ có xu hướng ổn định hơn. Giữa 2 đường bờ dự tính và hiện tại khi có công trình và  
10  
Hội nghị Nghiên cứu Khoa học Sinh viên Khoa Kỹ Thuật Bờ Biển 2015  
không có công trình cho thấy: khi không có công trình thì đường bờ bị thoái lui vào trong  
đất liền, khi có công trình thì đường bờ dự tính khá ổn định so với đường bờ hiện tại. Vây  
đường bờ ở đây được dự tính là cân bằng động và không cân bằng. biện pháp đưa ra ở đây là  
xây dung một tuyến đập công trình dài 0.6km. tại Mũi Vĩnh Lợi (14° 7'46.21"N;  
109°13'21.07"E)  
Hình 3-3. So sánh vị trí đường bờ khi có công trình và không có công trình, PA 1  
3.3.Dự tính diễn biến đường bờ theo phương án 2  
Chọn điểm không chế thật trên bãi biển trên tại vị trí có tọa độ (14°7'35.06"N;  
109°13'7.01"E). Chọn 1 điểm khống chế ảo cách điểm khống chế thật 0.54km. Điểm khống  
chế ảo này là điểm đầu mút của công trình tưởng tượng với mục đích ổn định đường bờ hiện  
hữu có góc sóng chính là β=190-210 và đường khống chế R= 421-447.07m  
a) Diễn biễn đường bờ khi chưa xây dựng công trình, đường bờ hiện tại có xu hướng  
thoái lui về đường bờ cân bằng tĩnh như tại hình 3-5. Các giá trị C0, C1,C2,Rn khi chưa xây  
dựng công trình- PA2 tính bằng phần mềm MEPBAY trình bày tại bảng 4.  
Bảng 4. Tính toán các giá trị C0, C1,C2,Rn khi chưa xây dựng công trình- PA2  
θ (độ)  
Rn(m)  
C0  
C1  
C2  
Rβ(m)  
21.36  
447.07  
0.054185  
1.049797  
-0.10398  
447.07  
11  
Hội nghị Nghiên cứu Khoa học Sinh viên Khoa Kỹ Thuật Bờ Biển 2015  
31.36  
41.36  
51.36  
322.33  
254.2  
0.054185  
0.054185  
0.054185  
1.049797  
1.049797  
1.049797  
-0.10398  
-0.10398  
-0.10398  
447.07  
447.07  
447.07  
211.37  
Hình 3-4. Dự báo vị trí đường bờ khi chưa có công trình, PA 2  
b) Diễn biến đường bờ sau khi xây dựng công trình đập chắn sóng ở bờ bắc, PA 2  
Bảng 5 trình bày các kết quả tính toán các thông số C0, C1,C2, Rn sau khi xây dựng công  
trình – PA 2.  
Bảng 5. Tính toán các giá trị C0, C1,C2, Rn sau khi xây dựng công trình –  
PA 2  
θ(độ)  
19.09  
29.09  
39.09  
49.09  
Rn(m)  
421  
C0  
C1  
C2  
Rβ(m)  
421  
0.053617  
0.053617  
0.053617  
0.053617  
1.034291  
1.034291  
1.034291  
1.034291  
-0.08791  
-0.08791  
-0.08791  
-0.08791  
292.38  
226.39  
186.3  
421  
421  
421  
12  
Hội nghị Nghiên cứu Khoa học Sinh viên Khoa Kỹ Thuật Bờ Biển 2015  
Hình 3-5. Dự báo vị trí đường bờ sau khi xây dựng công trình, PA 2  
Ta lập được bảng so sánh cho thấy các vị trí dự tính thoái lui theo cách tính thủ công và  
chạy bằng phần mềm:  
Bảng 6. So sánh Rn và θ trước và sau khi đã xây dựng đập bờ bắc, PA2  
Trước khi xây dựng đập bờ bắc  
Sau khi xây dựng đập bờ bắc  
Rn  
(m) Rn  
(m)  
Rn  
(m) Rn  
(m)  
θ(độ)  
θ(độ)  
MEPBAY thủ công  
MEPBAY thủ công  
19  
29  
39  
49  
59  
69  
79  
89  
421  
292  
226  
186  
159  
140  
126  
114  
105  
98  
337  
259  
213  
181  
159  
142  
129  
118  
109  
102  
96  
21  
31  
41  
51  
61  
71  
81  
91  
101  
111  
121  
131  
141  
447  
322  
254  
211  
182  
161  
144  
131  
121  
113  
105  
99  
383  
300  
248  
213  
187  
168  
152  
140  
130  
121  
114  
108  
102  
99  
109  
119  
129  
139  
91  
86  
82  
91  
86  
94  
So sánh giữa 2 trường hợp khi có công trình và không có công trình tại PA 2  
13  
Hội nghị Nghiên cứu Khoa học Sinh viên Khoa Kỹ Thuật Bờ Biển 2015  
Đường cong màu xanh thể hiện khi chưa xây dựng công trình, phần đất liền phía dưới bị  
thoái lui vào sâu bên trong. Đường cong màu đỏ thể hiện khi xây dựng công trình, đường bờ  
có xu hướng ổn định hơn. Giữa 2 đường bờ dự tính và hiện tại khi có công trình và không  
có công trình cho thấy: khi không có công trình thì đường bờ bị thoái lui vào trong đất liền,  
khi có công trình thì đường bờ dự tính khá ổn định so với đường bờ hiện tại. Vây đường bờ  
ở đây được dự tính là cân bằng động và không cân bằng. biện pháp đưa ra ở đây là xây dung  
một tuyến đập công trình dài0.54km. tại Mũi Vĩnh Lợi (14° 7'35.06"N; 109°13'7.01"E).  
Hình 3-6. So sánh vị trí đường bờ khi có công trình và không có công trình, PA 2  
3.4.Dự tính diễn biến đường bờ theo phương án 3  
Trong phương pháp này ,chọn 1 điểm không chế thật trên bãi biển trên(14° 7'51.15"N;  
109°13'30.87"E) chọn 1 điểm khống chế ảo cách điểm khống chế thật 0.3km. Điểm  
khống chế ảo này là điểm đầu mút của công trình tưởng tượng với mục đích ổn định  
đường bờ hiện hữu có góc sóng chính là β=24.350-260 và đường khống chế R= 6.85-  
7.01km ( thực tế). trong mô hình R=624.98-602.08m  
a) Diễn biễn đường bờ khi chưa xây dựng công trình, đường bờ hiện tại có xu hướng  
thoái lui về đường bờ cân bằng tĩnh như tại hình 3-8. Các giá trị C0, C1,C2,Rn khi chưa xây  
dựng công trình- PA3 tính bằng phần mềm MEPBAY trình bày tại bảng 8.  
14  
Hội nghị Nghiên cứu Khoa học Sinh viên Khoa Kỹ Thuật Bờ Biển 2015  
Bảng 7. Tính toán các giá trị C0, C1,C2,Rn khi chưa xây dựng công trình- PA3  
θ(độ)  
24.35  
34.35  
44.35  
54.35  
Rn(m)  
624.98  
469.35  
378.11  
318.34  
C0  
C1  
C2  
Rβ(m)  
624.98  
624.98  
624.98  
624.98  
0.053607  
0.053607  
0.053607  
0.053607  
1.074762  
1.074762  
1.074762  
1.074762  
-0.12837  
-0.12837  
-0.12837  
-0.12837  
Hình 3-7. Dự báo vị trí đường bờ khi chưa có công trình, PA 3  
b) Diễn biến đường bờ sau khi xây dựng công trình đập chắn sóng ở bờ bắc, PA 3  
Bảng 8 trình bày các kết quả tính toán các thông số C0, C1,C2, Rn sau khi xây dựng công  
trình – PA 3.  
Bảng 8. Tính toán các giá trị C0, C1,C2,Rn sau khi xây dựng công trình – PA 3  
θ
Rn  
C0  
C1  
C2  
Rβ  
26  
36  
46  
56  
602.08  
460.97  
375.3  
317.97  
0.052404  
0.052404  
0.052404  
0.052404  
1.091202  
1.091202  
1.091202  
1.091202  
-0.14361  
-0.14361  
-0.14361  
-0.14361  
602.08  
602.08  
602.08  
602.08  
15  
Hội nghị Nghiên cứu Khoa học Sinh viên Khoa Kỹ Thuật Bờ Biển 2015  
Hình 3-8. Dự báo vị trí đường bờ sau khi xây dựng công trình, PA 3  
Ta lập được bảng so sánh cho thấy các vị trí dự tính thoái lui theo cách tính thủ công và chạy  
bằng phần mềm:  
Bảng 9. So sánh Rn và θ trước và sau khi đã xây dựng đập bờ bắc, PA3  
Trước khi xây dựng đập bờ bắc  
Sau khi xây dựng đập bờ bắc  
Rn  
(m) Rn  
(m)  
Rn  
(m) Rn  
(m)  
θ(độ)  
θ(độ)  
MEPBAY thủ công  
MEPBAY thủ công  
26  
36  
46  
56  
66  
76  
86  
96  
106  
116  
126  
136  
146  
602  
461  
375  
318  
277  
246  
222  
203  
188  
174  
163  
154  
146  
589  
475  
400  
347  
307  
276  
251  
231  
214  
200  
188  
177  
168  
24  
34  
44  
54  
64  
74  
84  
94  
104  
114  
124  
134  
144  
625  
469  
378  
318  
276  
245  
221  
202  
186  
173  
162  
153  
145  
583  
466  
390  
337  
298  
267  
243  
223  
207  
193  
182  
172  
163  
16  
Hội nghị Nghiên cứu Khoa học Sinh viên Khoa Kỹ Thuật Bờ Biển 2015  
So sánh giữa 2 trường hợp khi có công trình và không có công trình tại PA 3  
Hình 3-9. So sánh vị trí đường bờ khi có công trình và không có công trình, PA 3  
Đường cong màu xanh thể hiện khi chưa xây dựng công trình, phần đất liền phía dưới bị  
thoái lui vào sâu bên trong. Đường cong màu đỏ thể hiện khi xây dựng công trình, đường bờ  
có xu hướng ổn định hơn. Giữa 2 đường bờ dự tính và hiện tại khi có công trình và không  
có công trình cho thấy: khi không có công trình thì đường bờ bị thoái lui vào trong đất liền,  
khi có công trình thì đường bờ dự tính khá ổn định so với đường bờ hiện tại. Vây đường bờ  
ở đây được dự tính là cân bằng động và không cân bằng. biện pháp đưa ra ở đây là xây dung  
một tuyến đập công trình dài0.54km. tại Mũi Vĩnh Lợi (14° 7'51.15"N; 109°13'30.87"E).  
17  
Hội nghị Nghiên cứu Khoa học Sinh viên Khoa Kỹ Thuật Bờ Biển 2015  
3.5.So sánh tuyến đập của 3 phương án  
Bảng 10. So sánh 3 phương án xây dựng tuyến đập ở bờ bắc  
Phương án công trình Phương Án 1  
Phương Án 2  
β=190-210  
0.54km  
Phương Án 3  
β=24.350-260  
0.3km  
Góc tuyến đập (β)  
β=250-280  
Chiều dài tuyến đập  
0.6km  
Dựa vào kết quả thu được tử 3 phương án, cho thấy phương án 3 là phương án tối ưu để  
lựa chọn xây dựng tuyến đập với chiều dài tuyến đập là 0,3km và góc sóng tới 24.350-260.  
Tại phương án này chiều dài tuyến đập là nhỏ nhất, đường bờ ở đây được bảo vệ tối đa để  
đảm bảo cho bãi biển phía nam cửa Đề Gi ổn định.  
4.Kết luận và kiến nghị  
Nhóm sinh viên đã bước đầu tiếp cận với lý thuyết cân bằng ổn định của bãi biển hình  
vòng cung dạng parabol được khống chế bởi các mũi đá và ứng dụng mô hình MEPBAY để  
tính tính toán cân bằng đường bờ hiện tại ở bờ nam cửa Đề Gi khi không có công trình chắn  
sóng ở mũi đã bờ bắc và sau khi bố trí công trình chắn sóng bờ bắc. Các kết quả tính toán  
của 3 phương án công trình bố trí ở mũi đá bờ bắc cho biết các thông số về vị trí, hướng và  
chiều dài tuyến công trình để đảm bảo cho bãi biển ở phía nam cửa Đề Gi được ổn định.  
Trên đây chỉ là phương án chạy mô hình với mục tiêu ổn định cho bãi biển bờ nam cửa  
Đề Gi (ổn định mặt bằng), nghiên cứu chưa xem xét cụ thể tới các điều kiện địa hình, địa  
chất và kinh phí cũng như khả năng thực hiện xây dựng công trình.  
18  
Hội nghị Nghiên cứu Khoa học Sinh viên Khoa Kỹ Thuật Bờ Biển 2015  
5.Tài liệu tham khảo  
[1] Dang Van To. 2008. The equilibrium stages of headland-bay beaches in the coastal  
provinces of Viet nam. Journal of Water Resources and Environment.  
[2] Hsu, J.R.C., Evans, C., 1989. Parabolic bay shapes and applications. Proceedings of  
the Institute of Civil Engineers Part 2, 87, 557–570.  
[3] Klein, A.H.F., Vargas, A., Raabe, A.L.A., and Hsu, J.R.C, Visual assessment of  
bayed beach stability using computer software, Computer and Geosciences, 29, 1249-  
1257, 2003  
[4] Trương Đình Hiển. 2002. Báo cáo nghiên cứu luận cứ khoa học làm cơ sở ban đầu  
cho việc cải tạo cửa Đề Gi và luồng ra vào đầm Nước Ngọt. Sở KHCN&MT Bình  
Định.  
[5] Silvester, R., Hsu, J.R.C., 1997. Coastal Stabilization. World Scientific, Singapore,  
578pp  
19  
pdf 19 trang yennguyen 35880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đề tài Ứng dụng phần mềm Mepbay để phân tích lựa chọn tuyến công trình đập chắn sóng tại cửa Đề Gi, tỉnh Bình Định", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfde_tai_ung_dung_phan_mem_mepbay_de_phan_tich_lua_chon_tuyen.pdf