Đề tài Chứng rối loạn trầm cảm ở người cao tuổi

1
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, kiến thức và các dịch vụ y tế....,  
quần thể người cao tuổi ngày càng chiếm một tỷ lệ cao trong dân số, nhất là ở  
các nước đang phát triển (8 -11% dân số) [1]. Theo thống kê của Tổ chức Y tế  
Thế giới (WHO) năm 1950 trên thế giới có khoảng 214 triệu người cao tuổi,  
đến năm 1990 đã có khoảng trên 500 triệu người [2]. Uớc tính đến 2025 sẽ  
có 1121 triệu người cao tuổi. Sự gia tăng dân số người cao tuổi diễn ra rõ  
rệt nhất ở Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La tinh. Các châu lục này hiện nay  
có khoảng 250 triệu người cao tuổi, nhưng đến 2025 sẽ tăng đến 800 triệu  
người[3].  
Trầm cảm là một rối loạn hay gặp trong thực hành tâm thần học cũng  
như trong thực hành đa khoa. Theo WHO và nhiều tác giả có từ 3 đến 5% dân  
số trên thế giới (khoảng 200 triệu người) có các triệu chứng trầm cảm ở một  
giai đoạn nào đó trong cuộc đời. Hơn nữa, người ta còn thấy tỷ lệ tái phát của  
trầm cảm là 50% đến 80% các trầm cảm đơn cực và cao hơn nữa ở rối loạn  
cảm xúc lưỡng cực....Khoảng 45% - 70% những người tự sát có rối loạn trầm  
cảm và 15% số bệnh nhân trầm cảm chết do tự sát[4][5]. Trầm cảm là những  
rối loạn thường gặp nhất trong các rối loạn tâm thần ở người cao tuổi. Theo  
Kohn R, rối loạn trầm cảm trong quần thể dân cư là 5,6% song rối loạn trầm  
cảm người cao tuổi ở cộng đồng là 10,7%[6][7].  
Ở người cao tuổi sự thoái hóa của các tế bào não, sự già hóa của các  
cơ quan trong cơ thể, các bệnh cơ thể, các bệnh cơ hội cùng lúc có nhiều  
trên một người già…, kết hợp với các sang chấn tâm lý có thể do môi  
trường, xã hội làm cho rối loạn trầm cảm ở người cao tuổi có nhiều nét đặc  
thù riêng khác hẳn so với các lứa tuổi trẻ. Bên cạnh các triệu chứng hay  
gặp như khí sắc trầm, giảm năng lượng, dễ mệt mỏi thì còn có các biểu  
hiện khác gồm các biểu hiện cơ thể như các triệu chứng về cơ xương khớp,  
2
tim mạch, hô hấp, tiêu hoá, thần kinh chức năng nhiều khi lại nổi trội, che  
mờ các triệu chứng của rối loạn trầm cảm. Thêm nữa đồng hành với các  
triệu chứng của trầm cảm thường là các rối loạn lo âu[8][9].  
Thực tế việc chẩn đoán trầm cảm ở người cao tuổi thường là khó và hay  
bị bỏ qua, dẫn đến hơn 90% người cao tuổi có các biểu hiện trầm cảm mà  
không được chẩn đoán và điều trị thoả đáng[10][11]. Theo Robert M.  
Kok,Thea J (2005)chỉ có 12% - 15% người cao tuổi có rối loạn trầm cảm  
được thầy thuốc đa khoa chữa trị và khoảng 0,2% trong số họ được các thầy  
thuốc chuyên khoa tâm thần chăm sóc [12]. Khó khăn là do nhiều thầy thuốc,  
bệnh nhân và gia đình vẫn xem các triệu chứng của trầm cảm là một biểu hiện  
bệnh lý nội khoa nào đó mà không đến với thầy thuốc tâm thần. Ngoài ra ở  
người cao tuổi trầm cảm còn có nhiều biểu hiện suy giảm nhận thức, nên rất  
khó phân biệt với mất trí trên lâm sàng[13].  
Ở Việt Nam, cho đến nay trong lĩnh vực tâm thần học chưa có một công  
trình nào nghiên cứu, chuyên sâu và có hệ thống các đặc trưng rối loạn trầm  
cảm ở người cao tuổi. Chúng tôi tập trung vào nghiên cứu đặc điểm lâm sàng,  
các yếu tố liên quan và điều trị các rối loạn trầm cảm ở lứa tuổi này, với hy  
vọng sẽ giúp tăng cường hơn nữa chất lượng chẩn đoán và điều trị, góp phần  
nâng cao chất lượng cuộc sống người cao tuổi.  
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:  
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng của rối loạn trầm cảm khởi phát ở người cao tuổi.  
2. Đánh giá các yếu tố liên quan đến trầm cảm ở nhóm tuổi này.  
3. Nhận xét về điều trị trầm cảm ở người cao tuổi.  
3
Chương 1  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
1.1.KHÁI NIỆM VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VỀ TRẦM CẢM  
1.1.1. Khái niệm  
1.1.1.1. Khái niệm về rối loạn trầm cảm.  
Buồn chán là một phản ứng cảm xúc thường gặp ở bất cứ ai trong cuộc  
sống. Khi các biểu hiện trở nên trầm trọng, kéo dài, cản trở đến chất lượng  
cuộc sống và khả năng thích nghi của họ, thì được gọi là rối loạn TC [14][15].  
Các nhà tâm thần học trước đây mô tả trầm cảm là một giai đoạn u sầu  
điển hình (melancholia). Rối loạn phản ánh sự ức chế nặng nề các mặt hoạt  
động tâm thần, song chủ yếu là tam chứng cổ điển: khí sắc giảm, buồn; các  
quá trình tư duy bị chậm lại; sự ức chế tâm thần vận động nhiều khi đến sững  
sờ, bất động [8][14][16].  
Theo Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) về các rối loạn tâm  
thần và hành vi, TC là một hội chứng bệnh lý của cảm xúc biểu hiện đặc  
trưng bởi khí sắc trầm, mất mọi quan tâm thích thú, giảm năng lượng dẫn tới  
tăng sự mệt mỏi và giảm hoạt động, phổ biến là mệt mỏi rõ rệt chỉ sau một cố  
gắng nhỏ. Các triệu chứng này tồn tại trong một khoảng thời gian tối thiểu là  
2 tuần liên tục. Những biểu hiện này được coi là các triệu chứng có ý nghĩa  
lâm sàng nhất trong việc chẩn đoán [14].  
Những biểu hiện của RLTC cũng thay đổi hình thái và mức độ theo sự  
phát triển của tuổi tác và phản ứng cá biệt của từng người. Ở người cao tuổi  
triệu chứng thường có dấu hiệu riêng, nổi bật là các phàn nàn cơ thể như đau  
mỏi; các biểu hiện buồn chán, với ý tưởng tự sát, rối loạn thần kinh thực vật,  
hoặc biểu hiện bằng những rối loạn hành vi như thô bạo, kích động. Trong khi  
đó ở người trẻ tuổi các biểu hiện của trầm cảm chủ yếu là buồn chán, phàn  
4
nàn về cuộc sống và sức khỏe của bản thân. Ngoài ra biểu hiện trầm cảm còn  
mang sắc thái của văn hoá xã hội, truyền thống gia đình họ tộc, lối sống của  
mọi người trong gia đình.  
1.1.1.2. Khái niệm về người cao tuổi.  
- TheoTổ chức Y tế Thế giới năm 1980, những người từ 60 tuổi trở lên là  
người có tuổi và trên 80 tuổi là tuổi già [11][17]. Cũng vào năm 1980 Hội  
nghị Lão khoa Thế giới quy ước về người cao tuổi khi tiến hành nghiên cứu  
như sau[18]:  
Trường phái Hippocrate:  
* Thơ ấu  
: Trước 14 tuổi  
: 15 - 42 tuổi  
: 43 - 60 tuổi  
* Trưởng thành  
* Suy thoái  
* Già  
: 60 tuổi trở lên  
Theo WHO:  
* Trung niên  
: 45 - 59 tuổi  
: 60 - 74 tuổi  
: 74 - 90 tuổi  
: Trên 90 tuổi  
* Người có tuổi  
* Người già  
* Người sống lâu  
Đại hội Thế giới về người già, lần đầu tiên trong lịch sử do Liên hiệp  
quốc triệu tập tại Vienne năm 1982, đã thống nhất quy định người già là từ 60  
tuổi trở lên. Đến cuối thập niên 80, khái niệm người cao tuổi dần dần được  
dùng thay thế cho khái niệm người già.  
Tuy nhiên việc quy định tuổi già ở các nước cũng có sự khác biệt, do căn  
cứ vào tuổi thọ trung bình của người dân tại nước đó.  
Tại Việt Nam, Pháp lệnh người cao tuổi (số: 23/2000/PL-UBTVQH10  
ngày 28/4/2000) quy định, người cao tuổi là người có độ tuổi từ 60 trở lên.  
5
*Để nghiên cứu bệnh lý người cao tuổi, các nhà chuyên môn phân lớp  
tuổi 5 năm.  
Tuổi :  
60 - 64 tuổi; 65 - 69 tuổi; 70 - 74 tuổi;  
75 - 79 tuổi; 80 - 84 tuổi; 85 - 89 tuổi;  
≥ 90 tuổi.  
* Khi nghiên cứu về khả năng hoạt động xã hội của người cao tuổi,  
thường dùng cách phân chia như sau  
- 45 - 59: tuổi tiền lão, hoạt động sung mãn có nhiều kinh nghiệm và hiệu quả  
- 60 - 74: người cao tuổi, hoạt động bắt đầu giảm linh hoạt.  
- 75 -89: người già, thường giảm nhiều, ngừng các hoạt động xã hội  
- Trên 90 tuổi, người quá già, các hoạt động đều cần có sự hỗ trợ của gia  
đình, xã hội.  
Các nghiên cứucho thấy bắt đầu từ tuổi trước già và nhất là tuổi già có  
rất nhiều biến đổi về sinh học và tâm lý.  
1.1.2. Lịch sử nghiên cứutrầm cảm  
Ở thế kỷ XVIII nhiều tác giả đã quan tâm nghiên cứu về các rối loạn  
trầm cảm. Rối loạn trầm cảm, là một thuật ngữ được dùng đầu tiên trong học  
thuyết thể dịch của Hypocrate. Tiếp sau Pinet mô tả trầm uất là một trong bốn  
loại loạn thần. Đến năm 1896 Kraepelin đã thống nhất các quan điểm xếp 2  
trạng thái trầm cảm và hưng cảm trong một bệnh lý chung và đặt tên là loạn  
thần hưng trầm cảm (psychose maniaco – depressive) [19][20][21].  
Sang thế kỷ XX rối loạn trầm cảm được nghiên cứu và hoàn thiện về  
khái niệm bệnh học, cũng như phân loại các rối loạn trầm cảm trong Bảng  
Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) năm 1992 của Tổ chức Y tế Thế  
giới (và mới nhất là DSM-V). Trong phân loại này trầm cảm được xếp trong  
nhóm rối loạn cảm xúc, mục F30 - F39[14][20][21][22].  
6
1.1.3. Bệnh sinh của rối loạn trầm cảm ở người cao tuổi  
Cho đến nay vấn đề bệnh sinh của trầm cảm và những đặc điểm trầm  
cảm người cao tuổi vẫn chưa được hoàn toàn sáng tỏ. Có nhiều luận điểm giải  
thích, triệu chứng dựa trên các hiểu biết về di truyền, sinh hóa não, tâm lý,  
cũng như các mối liên hệ về xã hội, văn hoá[23][24][25].  
1.1.3.1Các yếu tố về sinh học.  
+ Yếu tố di truyền. Nghiên cứu những cặp sinh đôi cho thấy RLTC ở cặp  
sinh đôi một trứng (76%) cao hơn những cặp sinh đôi hai trứng (19%). Các  
nghiên cứu cho rằng cơ chế nhiều gen là phù hợp trong các trường hợp hơn là  
chỉ một hoặc hai gen.  
+Lão hóa và bệnh tật:  
Liên quan rất nhiều với những rối loạn chức năng ở hệ viền và vùng dưới  
đồi. Vùng dưới đồi được xem là đồng hồ sinh học của cơ thể, là trung tâm  
điều hòa cao nhất về các chức năng thực vật nhưng trong sự lão hóa "độ tin  
cậy" của vùng dưới đồi bị suy yếu, tạo điều kiện xuất hiện bệnh tăng huyết áp,  
thiểu năng vành, tiểu đường …  
Trục dưới đồi - tuyến yên - thượng thận có vai trò quan trọng phản ứng  
thích nghi với stress. Khi hệ thống này bị lệch lạc, dẫn đến việc tăng tiết quá  
mức nội tiết tố cortisol.Mức cortisol tăng cao có thể có hiệu ứng xấu trên não.  
Một khi não nhạy cảm với cortisol, nó sẽ hoạt động quá mức khi tiếp xúc với  
stress lần sau nữa, vì thế làm tăng khả năng dễ bị mắc các rối loạn tâm thần  
nói chung và trầm cảm nói riêng. Trong tuổi già khả năng thích nghi này kém  
hơn rõ rệt và kết quả là stress dễ tác động gây tổn thương hơn.  
Trong lão khoa thực nghiệm:Khi nghiên cứu biến đổi ở mức tế bào  
trong quá trình già hóa, các tác giả chú ý đến hai vấn đề.  
7
* Sự già hóa cơ thể không đồng đều. Một số tổ chức không già hoặc già  
ít, thường là những tổ chức luôn luôn được đổi mới như tế bào biểu mô. Tế  
bào biểu mô ruột khi chết đi được nhanh chóng đổi mới và thay thế.  
* Có những tế bào không bao giờ đổi mới một khi đã được hình thành.  
Các tế bào hạch của hệ thần kinh trung ương không phân chia, vì thế không  
thể nhân lên được. Các đại phân tử DNA không được đổi mới sẽ già đi . . .  
Hậu quả có thể dẫn đến rối loạn truyền "mã" vàsản xuất ra các protein không  
thích hợp. Khi các rối loạn đó liên quan đến các nhân tế bào hạch thần kinh,  
các tế bào sẽ chết đi. Dẫn đến quá trình teo não, lão hóa…..  
Trong cơ thể sự già hóa có tính khác biệt. Hệ vận động là cơ quan thực  
bị rối loạn sớm nhất, lực cơ bắt đầu giảm ở tuổi trên 30; Ở hệ tuần hoàn, thành  
động mạch lớn giãn nở đối lập với thành các động mạch ngoại biên dày lên, gây  
những rối loạn huyết động ở người cao tuổi; Về nội tiết, nồng độ testosteron tự  
do trong huyết tương thấp hơn từ một nửa đến hai phần ba so với người trẻ.  
Có sự thoái triển rõ rệt ở hệ thần kinh sau 60 tuổi, đặc biệt sau 80 tuổi. Ở  
não các mô liên kết tăng lên, xâm lấn các tế bào “ quý phái”, nơron thưa dần, các  
tế bào đệm tăng... việc cấp máu cho tổ chức não bắt đầu giảm ở tiền tuổi già và  
nhất lứa tuổi 60 - 74 (Maucovskin 1987).  
Các biến đổi đó dẫn đến các nét đặc trưng về mặt tâm lý của tuổi già:  
hiện tượng xơ cứng về mặt tâm thần, các phản ứng bù trừ..., dẫn đến tính bảo  
thủ, không dễ thay đổi tập quán cũ và nhất là dẫn đến sự khác biệt rõ rệt của  
các biểu hiện triệu chứng, hội chứng, bệnh lý về cơ thể và tâm thần ở người  
cao tuổi so với lứa tuổi trẻ.  
Những thay đổi cơ bản trên cũng tạo điều kiện cho bệnh cơ thể dễ phát  
sinh, phát triển. Ở người cao tuổi các bệnh lý thường kết hợp với nhau làm  
cho bệnh cảnh lâm sàng phức tạp, khó phân biệt nguyên nhân, kết quả. Theo  
thống kê của Viện Lão khoa Việt Nam (1999) các bệnh cơ thể ở người già hay  
8
gặp là: Tim mạch (59,3%); Hô hấp (35,6%); Tiêu hóa (39%); Tiết niệu (10,8%);  
Thần kinh (4,6%); Các bệnh khác (16,8%) [1].  
Các rối loạn tâm thần người cao tuổi cũng rất đa dạng: rối loạn giấc ngủ,  
rối loạn trầm cảm, suy giảm trí nhớ, trí tuệ... Các biểu hiện này có thể là các rối  
loạn chức năng não hoặc tổn thương thực thể tại não (thoái hóa não, rối loạn  
tuần hoàn não, u não, teo não...) hoặc là các triệu chứng của các bệnh cơ thể.  
1.1.3.2. Vai trò các chất dẫn truyền thần kinh  
1.1.3.2.1. Nghiên cứu liên quan serotonin với rối loạn trầm cảm  
* Serotonin là chất dẫn truyền thần kinh, có nhiều trong thực vật (như  
chuối), nhưng khó hấp thu qua ruột và bị chuyển hóa nhanh nên không bị ngộ  
độc khi ăn thức ăn có nhiều serotonin. Trên động vật có vú, khoảng 70%  
serotonin có trong tế bào ưa crôm của ruột, 8% ở tiểu cầu, 20% ở thần kinh  
trung ương (đặc biệt là ở tuyến Tùng và vùng Dưới đồi thị). Bình thường  
serotonin trong máu là vào khoảng 0,06 - 0,22 ug/ml, chủ yếu nằm ở trong  
tiểu cầu và trong tế bào mastocyt [39].  
Serotonin được tổng hợp từ trytophan và bị khử amin - oxy hóa bởi men  
Mono-Amino-Oxydaza (MAO) để thành axit hydroxy-indol-axetic (5-HIAA),  
chất này được thải trừ ra nước tiểu 2-10 mg/ngày. Nghiên cứu các trường hợp  
bệnh nhân bị ung thư tế bào niêm mạc ruột các tác giả nhận thấy, tốc độ thải  
trừ chất này qua nước tiểu tăng lên tới 100 mg/ngày [39].  
- Tác dụng sinh lý của serotonin: bình thường serotonin là chất dẫn  
truyền thần kinh trung gian, tham gia điều hòa nhiều chức năng hoạt động của  
cơ thể, cụ thể:  
+Trên hệ thần kinh trung ương:  
• Serotonin được coi là một chất trung gian hóa học dẫn truyền xung  
động thần kinh trên hệ thần kinh trung ương.  
• Serotonin có tác dụng an thần, gây ngủ.  
9
• Sự cân bằng serotonin và các chất như nor-adrenaline và axetylcholine  
có tham gia vào quá trình điều hòa thân nhiệt  
+ Trên các cơ quan:  
• Trên tim cô lập, serotonin làm tim đập nhanh và mạnh, nhưng làm giãn  
mạch vành.  
• Trên huyết áp: serotonin làm tăng huyết áp do co mạch nhưng lại hạ  
huyết áp nhẹ, kéo dài do giãn mạch.  
• Trên cơ trơn (ruột, tử cung): serotonin làm tăng cường co bóp.  
• Tác dụng cầm máu: serotonin có nhiều trong tiểu cầu, khi chảy máu,  
tiểu cầu vỡ, giải phóng serotonin, làm co mạnh cầm máu.  
• Serotonin giải phóng cùng histamine trong tế bào mastocyte và tham  
gia vào cơ chế sốc phản vệ [39][40].  
Liên quan serotonin với rối loạn trầm cảm  
- Tác động của serotonin đến rối loạn trầm cảm  
Nghiên cứu của nhiều tác giả đã nhận xét, rối loạn trầm cảm là hậu quả  
của giảm nồng độ serotonin (5-Hydrotryptamie - 5HT) ở khe xinap và nhấn  
mạnh một số điểm như sau [41][42]:  
- Có hiện tượng giảm trytophan (tiền chất của serotonin) trong huyết  
tương của bệnh nhân rối loạn trầm cảm.  
- Có hiện tượng giảm chuyển hóa serotonin trong dịch não tủy ở bệnh  
nhân rối loạn trầm cảm, đặc biệt là các bệnh nhân rối loạn trầm cảm có hành  
vi tự sát.  
- Tác dụng của các thuốc ức chế tái hấp thụ serotonin, thay đổi nhạy cảm  
của các thụ cảm thể 5-HT sau xinap thần kinh có hiệu quả tốt trong điều trị  
cho những bệnh nhân rối loạn trầm cảm.  
Theo Angst, J., Merkangas, K và cộng sự (1997),nồng độ serotonin trong  
máu và trong các tổ chức não của bệnh nhân rối loạn trầm cảm giảm rõ rệt so  
10  
với người bình thường. Tác giả cho rằng sự suy giảm nồng độ serotonin có  
liên quan rất nhiều đến bệnh sinh của rối loạn trầm cảm [43].  
Dan J.S và cộng sự (2006), nhận thấy rằng có sự tương ứng giữa nồng độ  
serotonin trong dịch não tủy và các triệu chứng của rối loạn trầm cảm ở các  
mức độ khác nhau. Các tác giả thấy có hiện tượng nồng độ serotonin trong  
dịch não tủy càng thấp thì rối loạn trầm cảm càng nặng [44].  
Theo Sadock B.J và cộng sự (2007), không chỉ nồng độ serotonin trong  
dịch não tủy của bệnh nhân rối loạn trầm cảm giảm thấp hơn so với bình  
thường mà ngay cả các sản phẩm chuyển hóa của serotonin là 5-HT1A cũng  
giảm thấp hơn [45].  
Các nghiên cứu định lượng nồng độ serotonin trong huyết tương của  
bệnh nhân rối loạn, trầm cảm điển hình giai đoạn cấp tính, nhận thấy có hiện  
tượng giảm nồng độ serotonin, trong đó 50% trường hợp giảm thấp hơn một  
nửa so với người bình thường và 30% trường hợp có serotonin huyết tương  
giảm thấp hơn 2/3 so với người bình thường.  
Như vậy, mức độ nặng, nhẹ của rối loạn trầm cảm liên quan nhiều với  
mức độ thay đổi nồng độ serotonin trong cơ thể. Mức serotonin trong cơ thể  
càng thấp rối loạn trầm cảm biểu hiện càng nặng hơn.  
Một bằng chứng gián tiếp về vai trò của serotonin trong rối loạn trầm  
cảm là kết quả điều trị rối loạn trầm cảm bằng các thuốc ức chế tái hấp thu có  
chọn lọc serotonin (SSRI). Sử dụng các thuốc chống trầm cảm này làm nồng  
độ serotonin ở khe xinap tăng lên cùng với hiệu lực chống trầm cảm của  
thuốc cũng xuất hiện rõ rệt [41].  
Cơ chế tác dụng của serotonin đến các rối loạn của cơ thể cho đến nay  
vẫn chưa hoàn toàn được biết rõ. Tuy nhiên, người ta nhận thấy cơ chế tác  
động của serotonin đến rối loạn trầm cảm thông qua một số tác dụng sinh lý  
của serotonin:  
11  
- Sự cân bằng serotonin, Nor-Adrenalin và Axetylcholin ở vùng dưới đồi  
ảnh hưởng lớn đến điều hòa thân nhiệt và các chức năng của các  
Catecholamin. Các catecholamine còn tham gia nhiều vào các chức năng điều  
hòa các hoạt động tâm thần như: hoạt động cảm xúc, hoạt động trí nhớ và chú  
ý, cảm giác đau và khoái cảm,…[39][47].  
- Serotonin ức chế hoạt động của hệ thống hoạt hóa cấu tạo lưới và  
những hoạt động khác của não, nên có vai trò tạo nên giấc ngủ. Serotonin  
cũng có tác dụng ức chế dẫn truyền cảm giác đau ở tủy sống nên làm dịu đau.  
Vì có tác dụng này nên serotonin có liên quan đến rối loạn cảm xúc và một số  
triệu chứng của trầm cảm như: thay đổi khí sắc, rối loạn cảm giác đau; rối  
loạn giấc ngủ, lo âu, sợ hãi vô cớ và tâm trạng thất thường [39][47][48][49].  
1.1.3.2.2. Các chất dẫn truyền thần kinh khác  
. Noradrenalin. Nghiên cứu hoạt động của các tế bào hệ Noradrenergic ở  
não, người ta đo nồng độ chất 3-Methoxy 4-Hydroxyphenylglycol (MHPG)  
trong nước tiểu (đây là sản phẩm chuyển hoáchủ yếu của Noradrenalin có  
nguồn gốc từ não). Ở những người bệnh trầm cảm, nồng độ MHPG niệu giảm  
[42][48][49].  
. Dopamin. Sản phẩm chuyển hoá chủ yếu của Dopamin là Homovanilic  
acid(HVA). Nghiên cứu cho thấy nồng độ HVA trong dịch não tuỷ giảm ở  
bệnh nhân trầm cảm[48][49].  
. Acetylcholin có nồng độ cao ở vùng vỏ não vận động và ở Hypothalamus.  
Hệ thống này hoạt hoá cấu trúc lưới. Khi hoạt hoá hệ acetylcholine làm phát  
sinh RLTC. Ở những người trầm cảm có thụ thể rất nhạy cảm với hệ  
acetylcholine[42][50].  
+ Những bất thường về thần kinh nội tiết. Hoạt động của hệ viền có vai  
trò trung gian liên quan đến các trạng thái cảm xúc[51][52][53] thông qua  
12  
điều khiển giải phóng các hormone tuyến yên- một chất quan trọng trong hệ  
thống nội tiếttrục: "Dưới đồi - Tuyến yên - Thượng thận" (HPA); "Dưới đồi -  
Tuyến yên - Tuyến giáp" (HPT); "Dưới đồi - Tuyến yên - Tuyến sinh dục"  
(HPGH).  
Sự tăng hoạt động của trục HPA được nhận thấy ở bệnh nhân trầm cảm  
[53][54] khi mất điều hoà hệ thống HPA làm tăng cortisol trong máu dẫn  
tới làm giảm serotonin. Corticosteroid là chất ức chế hoạt động thụ thể  
5HT-1A hoặc giảm hoạt tính serotonin ở vùng hải mã liên quan đến trầm cảm.  
Rối loạn hoạt động của trục HPT cũng được nhận thấy ở bệnh nhân  
trầm cảm [53][54]: TRH là một peptít vùng dưới đồi kích thích tuyến yên giải  
phóng TSH có vai trò điều hoà sản xuất hormone tuyến giáp T3, T4. Khi TSH  
tăng cao dẫn tới rối loạn cảm xúc. Bệnh nhân trầm cảm giảm đáp ứng TSH  
đối với TRH (25-70%) trong dịch não tuỷ thấy tăng TRH.  
1.1.3.3.Bệnh sinh các triệu chứng cơ thể trong rối loạn trầm cảm.  
Nghiên cứu bệnh sinh về các rối loạn trầm cảm với các triệu chứng cơ thể,  
các tác giả Topolianski.VD,1986; Donald Oken.MD,1991; Kojima. K, 1996;  
Zelenima E.V, 1997,Robert C, BaldwinA, Bas et al (2002),[55][56], xem xét con  
người là một chỉnh thể toàn vẹn thống nhất về tâm thần và thể chất.  
Các trạng thái cảm xúc được hình thành trên cơ sở hoạt động của các cấu  
trúc dưới đồi, cấu tạo lưới, đồi thị.., thông qua các chất dẫn truyền thần kinh  
và các hormone trong cơ thể. Các tác giảBougerol T, Brochier T, BaylÐ F.J  
(1995),Ferber Ch (1989),cho rằng, những kích thích từ môi trường bên ngoài  
và bên trong cơ thể được phản ánh thông qua các giác quan. Các xung động  
thần kinh đó đều đi qua thể lưới, hệ limbic rồi lên vỏ não. Tại đây gây ra những  
thay đổi hoạt động của các cấu trúc thần kinh và các chất hoá học dẫn truyền  
thần kinh tương ứng với phản ứng cảm xúc nhất định. Ảnh hưởng của cảm  
13  
xúc đến cơ thể thông qua 3 con đường[24][25][58]: Đường hệ thống tháp đến  
chi phối cơ xương; Đường thần kinh thực vật đến tạng phủ; Đường nội tiết  
dịch thể thông qua sự bài tiết các hormone tuyến yên. Khi có sự tác động của  
các biến cố bất lợi (tình huống đe doạ cuộc sống, xung đột…..) làm thay đổi  
chức năng các cấu trúc thần kinh, đặc biệt hệ limbic, dưới đồi, cấu tạo lưới,  
vỏ não mới,...làm thay đổi hoạt tính các amin sinh học như Serotonin,  
Noradrenalin, ...và các hormone trong cơ thể làm xuất hiện các triệu chứng cơ  
thể- thực vật- nội tạng.  
Ở người cao tuổi, bị rối loạn trầm cảmvới các biểu hiện về cảm xúc  
thường mờ nhạt trong khi các triệu chứng về cơ thể lại rõ nét, có sự tăng  
cường hoạt hoá hệ thần kinh thực vật- nội tạng. Sự rối loạn của hệ thần kinh  
thực vật, gây ra những rối loạn chức năng cho nhiều cơ quan trong cơ thể,  
như: tăng hoặc giảm nhịp tim, đánh trống ngực, tăng hoặc giảm huyết áp, táo  
bón, tăng tiết dịch đường tiêu hoá, tăng co thắt dạ dày gây đau bụng, tăng nhu  
động bài tiết ở ruột già gây ỉa chảy...  
Một số tác giả khác cho rằng, sự gia tăng của CRH trong hệ trục Hạ đồi-  
Tuyến yên- Vỏ thượng thận, kéo theo sự giảm ăn ngon miệng, mệt mỏi, giảm  
ham muốn tình dục, rối loạn giấc ngủ, rối loạn vận động, lo âu, giảm khí  
sắc[49][50][58]. Sự tăng phóng thích CRH trung tâm được tìm thấy ở những  
bệnh nhân trầm cảm, làm tăng tiết Glucocorticoide và cortisol. Sự tăng tiết  
Glucocorticoide ức chế hoạt động thụ thể Serotonin nhóm 5-HT1A ở vùng  
hồi hải mã, làm xuất hiện các triệu chứng lâm sàng. Các tác giả còn tìm thấy  
các triệu chứng rối loạn thần kinh cơ, các triệu chứng cơ thể chung như: đau  
đầu, đau cơ bắp, mệt mỏi, khó ngủ, tình trạng bực bội, cáu gắt, cũng như các  
triệu chứng như mạch nhanh, hồi hộp đánh trống ngực, bồn chồn bất an và  
giảm thích thú tình dục, bất lực đều liên quan đến tăng hoạt động T3  
14  
(Triiodothyronin), T4 (Thyroxin). Rối loạn các hoạt động trục Hạ đồi- Tuyến  
yên- Tuyến giáp, thường gặp trong các bệnh nhân trầm cảm cơ thể.  
Như vậy, cơ chế hoạt động thần kinh- thể dịch, trong đó vai trò của các  
cấu trúc thần kinh, các axit amin ở não và các hormone trong cơ thể được coi  
là bộ máy sinh hoá thần kinh tự điều chỉnh, chịu trách nhiệm về các rối loạn  
cảm xúc và các rối loạn cơ thể.  
1.2. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG CỦA RỐI LOẠN TRẦM CẢM.  
Theo mô tả kinh điển trầm cảm điển hình được biểu hiện bằng sự ức chế  
toàn bộ hoạt động tâm thần, bao gồm: Cảm xúc bị ức chế, tư duy bị ức chế,  
vận động bị ức chế[9][13].  
Quan điểm mới của trầm cảm được đặc trưng bởi 3 triệu chứng chính,  
đặc trưng là khí sắc giảm, mất quan tâm thích thú, giảm năng lượng dẫn đến  
giảm các hoạt động và 7 triệu chứng phổ biến khác...  
Tuy nhiên đặc điểm triệu chứng của trầm cảm còn thay đổi phụ thuộc vào  
nhiều yếu tố, như mức độ của RLTC, đặc điểm lứa tuổi mắc rối loạn trầm cảm.  
1.2.1. Các biểu hiện lâm sàng của trầm cảm điển hình.Rối loạn trầm cảm  
có các biểu hiện lâm sàng thường gặp như sau:  
1.2.1.1. Khí sắc trầm  
Các biểu hiện giảm khí sắc là biểu hiện thường gặp nhất ở các trạng thái  
trầm cảm. Mức độ của biểu hiện này thay đổi tuỳ theo mức độ trầm cảm.  
Trong trường hợp điển hình bệnh nhân biểu hiện sự đau khổ, chán nản, buồn  
rầu một cách rõ ràng thông qua lời nói, thái độ và dáng điệu. Khí sắc trầm  
thường gặp là uể oải, cảm giác khó chịu, bất an, với nét mặt ủ rũ. Hoặc là biểu  
hiện một nét mặt có những nét đặc trưng như nếp nhăn ở khoé miệng, trán,  
cung lông mày đều cụp xuống, mắt luôn nhìn xuống hoặc đôi khi là nét mặt  
thờ ơ, vô cảm. Sự bế tắc trong suy nghĩ với một nỗi buồn bao phủ mà không  
giải thích được có thể dẫn đến hành vi tự sát ở bệnh nhân trầm cảm. Tuy  
15  
nhiên có một số bệnh nhân vẫn giữ được nụ cười bên ngoài để che dấu khí sắc  
giảm, bởi có 10-15% số bệnh nhân phủ định cảm xúc của mình.  
Khi nghiên cứu RLTC ở những người có bệnh lý dạ dày - ruột, Trần Hữu  
Bình thấy 87% biểu hiện khí sắc giảm [55].  
Theo Đinh Thị Hoan nghiên cứu rối loạn trầm cảm người tiền mãn kinh  
thì rối loạn khí sắc chiếm 87,7%.  
Lâm Tường Minh nghiên cứu về các triệu chứng cơ thể trong rối loạn  
trầm cảm ở người cao tuổi cho thấy tỷ lệ khí sắc giảm 87,2%. [61].  
1.2.1.2.Mất quan tâm thích thú  
Mất quan tâm thích thú là một triệu chứng luôn song hành với giảm khí sắc  
nhưng ở các mức độ khác nhau. Các nghiên cứu đều cho kết quả 80-100% có rối  
loạn này [57][59][62].  
Bệnh nhân cảm thấy quá khứ, hiện tại và tương lai của mình không sáng  
sủa đôi khi người bệnh không thể mô tả được trạng thái của mình. Người  
bệnh phàn nàn rằng họ ít hoặc không còn thích thú với các hoạt động, sinh  
hoạt hàng ngày. Mọi vận động đều làm người bệnh tăng cảm giác chán nản,  
không có được cảm giác vui vẻ và hài lòng với thực tại dẫn đến không muốn  
tham gia các thú vui, giải trí, ngại tiếp xúc, mất các sở thích trước đây, không  
hoàn thành các công việc mình làm, do dự khó quyết định, vì vậy người bệnh  
thường né tránh, ngại các hoạt động xã hội, ngại giao tiếp với mọi người.  
1.2.1.3. Giảm năng lượng tâm thần  
Đây cũng là một triệu chứng đặc trưng của trầm cảm, các biểu hiện là  
người bệnh luôn uể oải, mệt mỏi, mất sinh lực, cảm thấy nặng nhọc khi làm  
việc kể cả một công việc trước đây người bệnh dễ dàng thực hiện. Do vậy  
người bệnh làm việc kém hiệu quả. Người bị RLTC thường không hoàn thành  
công việc được giao phó hoặc bỏ dở công việc, hoặc rút lui vì mình cảm thấy  
không thể đảm đương.  
16  
Triệu chứng này trong các công trình nghiên cứu về trầm cảm chiếm tỷ  
lệ cao từ 85-100% [8][20][64][65].  
1.2.1.4. Biểu hiện lo âu  
Lo âu là một triệu chứng song hành với trầm cảm. Bệnh nhân thường có  
cảm giác lo lắng, bồn chồn bất an, sợ hãi cho tình trạng sức khoẻ, các dự định  
và tương lai của mình... Bệnh nhân có thể có các biểu hiện rối loạn thần kinh  
thực vật như cảm giác hồi hộp, khó thở, đánh trống ngực, mạch nhanh, đau  
đầu, run rẩy tay chân, cảm giác nóng rát trong bụng, co thắt dạ dày, vã mồ  
hôi, nôn mửa. Bệnh nhân khó ngủ vì suy nghĩ nghiền ngẫm trong đêm, thức  
giấc lúc nửa đêm, ác mộng...Sự lo âu tồn tại dai dẳng một cách vô lý, căng  
thẳng, chờ đợi điều không mong muốn xảy ra. Nhiều khi có cơn hoảng sợ có  
thể có phản ứng tấn công người khác, hoặc nguy cơ hành vi tự  
sát[22][29][73][74].  
1.2.1.5. Ý tưởng và hành vi tự sát  
Khi bị rối loạn trầm cảm và không được điều trị thỏa đáng. Nhiều bệnh  
nhân có suy nghĩ dai dẳng, không thể dứt ra được về cái chết. Người bệnh  
luôn có cảm giác xung quanh không có mình thì sẽ tốt hơn cho nên lập kế  
hoạch tự sát và thực hiện hành vi tự sát. Nguy cơ tự sát gặp trong tất cả các  
giai đoạn bệnh nhưng cao nhất là ngay lúc mới điều trị. Các nghiên cứu cho  
rằng 10% bệnh nhân trầm cảm tự sát trong vòng 12 tháng từ khi phát bệnh.  
Người cao tuổi nguy cơ tự sát 18% với các bệnh nhân trầm cảm tái diễn, 15%  
chết do tự sát [10][74][75].  
1.2.1.6. Các triệu chứng sinh học  
Các triệu chứng sinh học hay triệu chứng cơ thể thường gặp và quan  
trọng ở bệnh nhân trầm cảm và đặc biệt là người cao tuổi, phần lớn là các  
triệu chứng rối loạn hệ thần kinh thực vật. Các biểu hiện triệu chứng cơ năng  
của hệ thần kinh, hô hấp, tuần hoàn, tiêu hoá...[57][59][76][77][78].  
17  
Rối loạn giấc ngủ là dấu hiệu thường gặp hơn cả trong nhóm triệu chứng  
này (80 - 100%), với biểu hiện là giảm chất lượng giấc ngủ hoặc thời gian  
ngủ. Có thể người bệnh khó vào giấc ngủ, hoặc là thức giấc lúc nửa đêm hoặc  
thức giấc sớm, cũng có thể người bệnh ngủ nhiều, giấc ngủ kéo dài bất  
thường, khi thức giấc vẫn cảm thấy mệt mỏi, không thoải mái. Có khi người  
bệnh nằm suốt cả ngày nhưng lại không ngủ được, giấc ngủ thường nông dễ  
thức giấc hoặc thường xuyên có ác mộngthức sớm trước 2 giờ so với thường  
lệ[79][80].  
Người bệnh giảm hoặc mất đi cảm giác ngon miệng hoặc chán ăn, mất  
hoàn toàn cảm giác thèm ăn uống dù không có bệnh lý thực thể nào, dẫn đến  
từ chối ăn uống làm cho người bệnh bị sút cân, suy kiệt. Một số trường hợp  
khác có thể ăn nhiều dẫn đến tăng trọng lượng cơ thể [55][60][81].  
Giảm trọng lượng cơ thể có liên quan trực tiếp đến chán ăn, giảm cân đôi  
khi nặng nề. Có trường hợp giảm 5% trọng lượng cơ thể trong một tháng [55].  
Các biểu hiện giảm hoặc mất khả năng tình dục là triệu chứng cũng hay  
gặp. Nam giới có thể liệt dương.  
1.2.2. Các đặc điểm lâm sàng của trầm cảm ở người cao tuổi  
[1][8][13][14][15][16][34][55][59][76].  
Rối loạn trầm cảm có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi, đặc biệt hay gặp ở  
người cao tuổi (NCT) với các biểu hiện rối loạn từ mức độ nhẹ nhất cho đến  
mức độ nặng nề nhất [27].Trong thực tế ở cộng đồng có nhiều quan điểm sai  
lầm về sức khỏe tâm thần, cho rằng đây là biểu hiện bình thường ở giai đoạn  
tuổi già, đó là các biểu hiện suy thoái tự nhiên hay các rối loạn của thời kỳ  
thoái triển, chứ chưa phải hoàn toàn là bệnh lý [22][38][71].  
Trước khi có tiêu chuẩn quốc tế về rối loạn khí sắc, các nghiên cứu dịch  
tễ thống kê có các kết quả khác nhau do sử dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán  
khác nhau. Năm 1960 ở Pháp cho rằng RLTC ở NCT có biểu hiện trầm uất  
18  
chiếm 1/2 số NCTcó vấn đề về sức khoẻ tâm thần đến khám. Một nghiên cứu  
khác của Polvan (1965) đưa ra tỷ lệ 10,7% có biểu hiện buồn rầu u uất. Trong  
khi ở Anh thời kỳ này Schachter cho thấy chẩn đoán trầm cảm rất ít gặp, trên  
100.000 hồ sơ NCT khám bệnh thì số lượng trầm cảm là 4,5%.  
Lâm sàng RLTC ở NCT rất đa dạng, do đó tiêu chí (hay tiêu chuẩn) để  
xác định trầm cảm cũng khác nhau tuỳ theo từng tác giả. D.J. Duches nhấn  
mạnh trạng thái RLTC ở NCT chỉ được tính với các biểu hiện trầm cảm nặng,  
điển hình, có hậu quả nặng nề. Easson (1978) cho rằng các nhà lâm sàng chưa  
quan tâm và nhận biết đầy đủ,tuy nhiên thừa nhận rối loạn trầm cảm là một  
biểu hiện thường xẩy ra ở NCT.  
Trầm cảm ở người cao tuổi có những đặc thù riêng khác so với trầm cảm  
ở người trẻ, đó là:  
- Thường thể hiện bằng triệu chứng cơ thể như đau đầu, đau bụng, đau  
ngực, ngột ngạt kèm cảm giác lo âu, buồn, chán nản...Chính vì các biểu hiện  
triệu chứng cơ thể nổi bật nên đối với các thể trầm cảm cảm nhẹ hay trầm  
cảm che đậy bởi triệu chứng cơ thể thường không được phát hiện chẩn đoán  
và tất nhiên không được điều trị. Đa phần các trường hợp này bệnh nhân được  
người thân đưa đến các cơ sở nội khoa với các chẩn đoán và điều trị bệnh lý  
về tim mạch, tiêu hoá, thần kinh, cơ xương khớp....nhưng không thấy có các  
bằng chứng tổn thương thực thể rõ ràng.  
- Khí sắc dao động: Người cao tuổi có thường có khí sắc không ổn định  
rõ rệt, hay cáu kỉnh, dễ xúc động, không giải thích được nguyên nhân.  
- Rối loạn tâm thần vận động. Các rối loạn tâm thần vận động thay đổi  
tuỳ từng mức độ nặng nhẹ của trầm cảm. Trong những trường hợp nhẹ triệu  
chứng này có thể kín đáo, có khi người xung quanh không nhận biết được.  
Khoảng 50% bệnh nhân có biểu hiện tình trạng chậm chạp (trong ngôn ngữ,  
tư duy và vận động). Mức độ trầm cảm nặng sẽ biểu hiện giảm những hoạt  
19  
động, nhiều khi sững sờ bất động. Người bệnh ngồi hàng giờ mà không muốn  
tiếp xúc với ai. Sự rối loạn tâm thần vận động có thể từ nhẹ đến nặng, từ suy  
giảm sự nhiệt tình. Trên cơ sở tình trạng bị ức chế, giảm khí sắc, thất vọng...  
người bệnh có thể đột nhiên vùng vẫy, bỏ chạy hay tự sát bất ngờ. Một số tác  
giả coi chậm chạp tâm thần vận động như là biểu hiện chắc chắn của trầm  
cảm. Ngược lại một số bệnh nhân lại thể hiện tình trạng kích thích (bồn chồn,  
đi đi lại lại, cuống quít, bất an, rên rỉ...), một số ít có thể kích động hằn học  
đau khổ. Trong bệnh cảnh trầm cảm ở người cao tuổi các triệu chứng về khí  
sắc hay mất quan tâm thích thú đôi khi mờ nhạt và thường ẩn mình sau bệnh  
cơ thể sẵn có của người già, sự kêu ca phàn nàn về các bệnh cơ thể mà tăng  
hay giảm có chịu sự tác động tâm lý. E.Frank và Cs nhận thấy 36-41% có  
biểu hiện kích thích tâm lý vận động [66][67][68].  
Người cao tuổi có thể có các biểu hiện rối loạn hành vi, mâu thuẫn với  
người thân, đi lang thang, lạm dụng các chất như bia, rượu và các chất gây  
nghiện [57][81][82].  
- Các rối loạn nhận thức trong trầm cảm. Thay đổi nhận thức là một biểu  
hiện quan trọng và thường gặp ở bệnh nhân rối loạn trầm cảm ở người cao  
tuổi, tuy nhiên ở các mức độ khác nhau. Người cao tuổi bị trầm cảm thường  
có biểu hiệnkhó tiếp thu các thông tin mới, suy giảm trí nhớ, suy giảm sự tập  
trung chú ý, tư duy chậm lại hay suy tưởng các chủ đề tiêu cực, bi quan,  
người bệnh ít nói hoặc không nói. Nhiều suy tưởng, hồi ức mang nội dung  
trầm cảm: bi quan, đánh giá thấp về bản thân, cảm thấy mình hèn kém, tội lỗi,  
thường suy nghĩ về một quá khứ sai lầm, tự khiển trách mình, thổi phồng các  
thất bại trong cuộc sống. Có thể có nhận cảm tủi hổ, không xứng đáng, có thể  
dẫn tới hoang tưởng bị tội. Hậu quả của những suy nghĩ bi quan này là ý  
tưởng dẫn đến hành vi tự sát, tự huỷ hoại, vì họ cho rằng chỉ có cái chết mới  
là cách giải quyết triệt để nhất. Người bệnh dần bị kiệt sức, sợ hãi, bất động...  
20  
Trần Hữu Bình nghiên cứu trầm cảm ở bệnh nhân có rối loạn dạ dày ruột thực  
thể cho tỷ lệ 72,2% giảm tập trung chú ý [55][60][70][71][72].  
- Các triệu chứng loạn thần khá thường gặp (hoang tưởng bị hại, bị bỏ  
rơi...) tính chất của hoang tưởng và ảo giác thường phù hợp với cảm xúc và  
liên quan chặt chẽ với các triệu chứng cơ thể.  
- Các hoạt động xã hội: người cao tuổi có các triệu chứng trầm cảm  
thường thu mình, cô lập không muốn giao tiếp hay tham gia các hoạt động  
đoàn thể, luôn phàn nàn về bản thân hoặc khó chia sẻ với mọi người. Bệnh  
nhân ít hoặc không quan tâm đến các hoạt động diễn ra xung quanh với  
những người xung quanh, có thể ngay cả với những người thân thiết nhất.  
Các biểu hiện thay đổi ở các mức độ khác nhau, từ kém nhiệt tình đến tình  
trạng thờ ơ. Hứng thú giảm cả trong công việc, trong quan hệ với người thân  
hay đoàn thể, mất hẳn hứng thú sinh hoạt tình dục, mà không có một tình  
trạng bệnh lý thực thể nào rõ ràng.  
- Rối loạn ăn: Thường nổi bật là cảm giác chán ăn, không có hứng thú  
trong ăn uống, mất cảm giác ngon miệng. Hậu quả là bệnh nhân bị giảm cân  
và tạo cơ hội để các bệnh khác phát triển. Tuy nhiên có thể ăn nhiều hơn bình  
thường dẫn đến tăng cân. Tăng hay giảm cân là triệu chứng cần lưu ý ở người  
cao tuổi, bởi đây là giai đoạn thoái triển mạnh mẽ và nhanh chóng về thể chất,  
nên triệu chứng tăng cân có thể là biểu hiện của các bệnh thực thể khác.  
- Rối loạn giấc ngủ, người cao tuổi trầm cảm thường có biểu hiện mất  
ngủ nhiều hơn là ngủ nhiều, trong rất nhiều trường hợp bệnh nhân thường  
xuyên có ác mộng. Có thể người cao tuổi hay nằm nhiều nhưng lại mất ngủ.  
Người cao tuổi trầm cảm thường phàn nàn khó vào giấc ngủ hay chất lượng  
giấc ngủ giảm sút, luôn bị thức giấc lúc nửa đêm, dậy sớm...  
- Tự sát cũng là một triệu chứng rất nghiêm trọng trong rối loạn trầm  
cảm ở người cao tuổi [83], ở các mức độ khác nhau từ ý tưởng đến có hành vi  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 178 trang yennguyen 17840 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề tài Chứng rối loạn trầm cảm ở người cao tuổi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfde_tai_chung_roi_loan_tram_cam_o_nguoi_cao_tuoi.pdf