Đào tạo kiến trúc sư tại trường Đại học Kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Hội thảo “Đào tạo Kiến trúc & các ngành Thiết kế, Xây dựng trong xu hướng toàn cầu hóa “  
_________________________________________________________________________________________  
ÑAØO TAÏO KIEÁN TRUÙC SÖ TAÏI TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC KIEÁN  
TRUÙC TP. HCM TRONG BOÁI CAÛNH HOÄI NHAÄP QUOÁC TEÁ  
TS.KTS. PHAÏM PHUÙ CÖÔØNG  
TS.KTS. VUÕ THÒ HOÀNG HAÏNH  
ThS. KTS. DÖÔNG TROÏNG BÌNH  
Tröôøng ÑH Kieán truùc TP. HCM  
Việt Nam đang trên tiến trình phát triển theo xu thế hội nhập và toàn cầu hóa  
với nhiều thuận lợi và khó khăn thách thức. Những tác động của tiến trình nêu trên vào  
kiến trúc Việt Nam, xét trên cả hai phương diện đào tạo và thực tiễn, là một hiện tượng  
dễ thấy, nếu như không muốn nói là tất yếu.  
Hội nhập là quá trình tìm kiếm lợi ích phát triển trong khuôn khổ hợp tác và  
cạnh tranh, vì vậy, để có thể tham gia hội nhập một cách chủ động, những đối tượng  
đang tham gia vào quá trình đào tạo và hành nghề kiến trúc tại Việt Nam (giảng viên  
đại học, kiến trúc sư, sinh viên kiến trúc) đều phải có sự quan tâm và chuẩn bị kỹ  
lưỡng trong kỷ nguyên toàn cầu hóa.  
Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi mong muốn được đề xuất nhận định  
của mình về hai vấn đề sau:  
1. Đào tạo kiến trúc sư trong bối cảnh hội nhập: Các thuận lợi và thách thức.  
2. Quan điểm hội nhập và một số định hướng trong công tác đào tạo kiến  
trúc sư tại trường Đại học Kiến trúc Tp.Hồ Chí Minh.  
A. ĐÀO TẠO KIẾN TRÚC SƯ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP: CÁC THUẬN  
LỢI VÀ THÁCH THỨC  
1. Nhận diện các tác nhân mới ảnh hưởng đến đào tạo thiết kế kiến trúc tại  
Việt Nam trong thời kỳ hội nhập  
1.1. Xu thế phát triển giáo dục đại học Việt Nam trong thời kỳ hội nhập  
Hội nhập quốc tế thông qua các hoạt động liên kết đào tạo, kiểm định chất  
lượng, xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá của khu vực theo chuẩn giáo dục ASEAN,  
các thỏa thuận công nhận văn bằng, tín chỉ, chứng chỉ hành nghề,.... trong cộng đồng  
các nước thành viên.  
Hội nhập quốc tế thông qua hợp tác giữa các trường đại học, viện nghiên cứu,  
chuyên gia của Việt Nam với các đối tác nước ngoài trong hoạt động nghiên cứu khoa  
67  
Hội thảo “Đào tạo Kiến trúc & các ngành Thiết kế, Xây dựng trong xu hướng toàn cầu hóa “  
_________________________________________________________________________________________  
học, thực hiện các đề tài, dự án, ... nhằm trao đổi kinh nghiệm, công nghệ mới phục vụ  
mục tiêu phát triển khoa học công nghệ và đào tạo.  
Hội nhập quốc tế thông qua các hoạt động trao đổi giảng viên, sinh viên, tạo  
điều kiện giao lưu, học hỏi lẫn nhau qua các hội thảo, chương trình workshops, nghiên  
cứu, tham quan thực hành  
Hội nhập quốc tế thông qua xu hướng hợp tác liên ngành, hợp tác giữa nhà  
trường và doanh nghiệp, khuyến khích quá trình tương tác, tổng hợp kiến thức của  
nhiều lĩnh vực, giữa môi trường giáo dục và hành nghề, tạo cơ hội việc làm, v.v.  
1.2. Các xu hướng thiết kế  
1.2.1. Các trào lưu phong cách kiến trúc mới  
Sự phát triển của mỗi một thời đại văn minh đều tạo ra những ảnh hưởng căn  
bản đến kiến trúc. Nếu như văn minh Công nghiệp đã là động lực cho sự phát triển của  
phong trào kiến trúc Hiện đại, thì văn minh Hậu Công nghiệp đã và đang tạo ra tiền đề  
cho sự chuyển biến của nền kiến trúc nhân loại với sự phát triển của khoa học kỹ thuật,  
công nghệ số và sự giao thoa của các nền văn hóa. Một số trào lưu kiến trúc mới:  
phong cách Hiện đại mới (New Modernism), phong cách Bản địa (Vernacular), phong  
cách Tối giản (Minimalism)...  
Chúng ta cũng đang chứng kiến những tìm kiếm mang tính thách thức đối với  
mọi nguyên lý truyền thống của kiến trúc, đại diện cho nó là phong cách Giải toả Cấu  
trúc (Deconstruction). Khuynh hướng này thoát ly khỏi các nguyên tắc vốn được xem  
là cơ bản của tạo hình kiến trúc như tỷ lệ, bố cục, hình học.v.v. Nó phủ nhận các khái  
niệm truyền thống về các thành phần cơ bản của công trình (tường, sàn, cột, cửa.v.v.).  
Nó có khuynh hướng cá nhân và thiên nhiều về biểu hiện. Các tác giả đang được quan  
tâm nhất có thể kể đến Frank Ghery, Libeskind, Hadid, Mayne…Thiết kế của họ thể  
hiện rõ nét dấu ấn cá tính, mỗi tác giả có thủ pháp của riêng mình, mỗi công trình có  
sức biểu hiện riêng biệt tùy thuộc vào vị trí và công năng. Điều đáng lưu ý hiện nay là  
phong cách Deconstruction đang tạo ảnh hưởng mạnh đến sinh viên kiến trúc và cả  
kiến trúc sư tại Việt Nam.  
1.2.2. Xu hướng phát triển bền vững  
Với định hướng lồng ghép quá trình phát triển với bảo tồn tài nguyên và nâng  
cao chất lượng môi trường, đáp ứng các nhu cầu của hiện tại mà không phương hại  
đến các nhu cầu của thế hệ tương lai. Điển hình là xu hướng “kiến trúc xanh”, hay gọi  
cách khác là “kiến trúc bền vững” hoặc xu hướng “kiến trúc tiết kiệm năng lượng và  
hiệu quả”...  
1.2.3. Xu hướng thiết kế hướng tới bản sắc địa phương  
68  
Hội thảo “Đào tạo Kiến trúc & các ngành Thiết kế, Xây dựng trong xu hướng toàn cầu hóa “  
_________________________________________________________________________________________  
Trong xu thế hội nhập, hiện tượng quốc tế hóa trong thiết kế kiến trúc là không  
thể tránh khỏi. Tuy nhiên, việc tôn trọng tính chất đa dạng của các nền văn hoá, hướng  
đến khả năng hội nhập và giao lưu văn hoá đang dần chiếm tỉ trọng thay thế. Điểm nổi  
bật là sự kế thừa truyền thống trong kiến trúc hiện đại, được thể hiện thông qua việc  
thích ứng với điều kiện thiên nhiên, môi trường khí hậu, được tạo nên từ lối sống, tập  
quán, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội.  
1.3. Xu hướng ứng dụng công nghệ và vật liệu mới trong thiết kế và xây  
dựng công trình  
Sự xuất hiện của vật liệu và công nghệ mới làm tăng khả năng sáng tạo cho  
người thiết kế, đặc biệt ở khả năng tạo dựng bề mặt nhờ công nghệ về vật liệu vỏ bao  
che (curtain wall) như kính, các tấm hợp kim phủ mặt ngoài (alucobond…).  
Song song với đó, một số vật liệu truyền thống như gỗ, tre nứa, gạch, gốm, đá,  
vật liệu ốp lát... đã và đang được nghiên cứu phát triển với nhiều cách thức chế tạo  
mới theo xu thế kiến trúc sinh thái, thân thiện môi trường, mang lại nhiều nét đặc trưng  
trong thiết kế ứng dụng.  
Sự xuất hiện của các hệ thống kỹ thuật cơ điện (MEP) hiện đại cho phép việc  
trao đổi thông tin, quản lý và giám sát các hệ thống kỹ thuật công trình, cảnh báo sự cố  
và rủi ro,.... hình thành các công trình có hiệu năng cao, tòa nhà thông minh, tòa nhà  
xanh, đáp ứng các yêu cầu về tiết kiệm năng lượng trong công trình.  
Quá trình chuyển giao công nghệ, sự hỗ trợ về kỹ thuật và cạnh tranh về giá  
thành của các nhà cung cấp sản phẩm, vật liệu mới, đã góp phần cho việc ứng dụng đa  
dạng hơn các tiến bộ về khoa học kỹ thuật, công nghệ vật liệu xây dựng mới vào thiết  
kế và xây dựng công trình. Điển hình là trong nhiều năm gần đây, các loại hình nhà  
khung lắp ghép nhiều tầng, công nghệ betong nhẹ, sàn dự ứng lực, sàn rỗng  
BubbleDeck,... đang ngày càng được ứng dụng rộng rãi.  
1.4. Công nghệ thông tin và các phương tiện truyền thông  
Các nguồn tài nguyên thông tin, cơ sở dữ liệu mở và khả năng truy cập thông  
tin mới về kiến trúc qua sử dụng internet và các phương tiện tuyền thông đã và đang  
giúp sinh viên kiến trúc, kiến trúc sư tiếp cận gần hơn và đầy đủ hơn với sự tiến bộ của  
thế giới.  
Sự phát triển của các phần mềm tin học hỗ trợ thiết kế và quản lý thông tin xây  
dựng liên tục cập nhật, cải tiến và sử dụng trong các văn phòng kiến trúc sư trên toàn  
thế giới.  
1.5. Các dự án đầu tư và các công ty tư vấn nước ngoài  
Trong bối cảnh nền kinh tế mở cửa tại nước ta hiện nay, với môi trường đầu tư  
hấp dẫn, đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều các nhà đầu tư nước ngoài. Phần lớn  
69  
Hội thảo “Đào tạo Kiến trúc & các ngành Thiết kế, Xây dựng trong xu hướng toàn cầu hóa “  
_________________________________________________________________________________________  
các chủ đầu tư nước ngoài với tiềm lực tài chính mạnh mẽ đều có khả năng đầu tư cao  
cho xây dựng công trình. Nhận định này thể hiện rõ với sự xuất hiện ngày càng nhiều  
các dự án công trình thương mại, khách sạn, resort, văn phòng cao tầng, chung cư cao  
cấp… tại các đô thị lớn như Hà Nội, Đà nẵng, thành phố Hồ Chí Minh… với kiến trúc  
phong cách đa dạng và các yêu cầu cao đối với chất lượng thiết kế. Đây là điều kiện  
thuận lợi để thúc đẩy phát triển, hòa nhịp kiến trúc thế giới nhưng đồng thời cũng là  
thách thức lớn cho kiến trúc Việt Nam.  
Ở góc độ khác, sự hiện diện của các công ty tư vấn nước ngoài đến từ các quốc  
gia phát triển như Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc, Pháp, Đức, Mỹ... trong nhiều năm  
gần đây đang cho thấy sự cạnh tranh giữa lực lượng kiến trúc sư trong và ngoài nước.  
Với nhiều lợi thế về tài chính và năng lực hành nghề, nhiều công ty nước ngoài đã và  
đang khẳng định vị thế trong thị trường thiết kế. Ngoài ra, yêu cầu dự án phải "có yếu  
tố nước ngoài" của không ít chủ đầu tư sẽ khiến quá trình cạnh tranh này nhiều đòi hỏi  
phức tạp hơn với các kiến trúc sư Việt Nam trong thời gian tới.  
2. Các thuận lợi và thách thức  
2.1. Thuận lợi  
Quá trình hội nhập đòi hỏi những đối tượng đang tham gia vào quá trình đào tạo  
và hành nghề kiến trúc tại Việt Nam phải tự nhìn nhận sự lạc hậu trong tư duy kiến  
trúc cũng như những bất cập trong việc tiếp cận với các xu hướng kiến trúc mới, tự  
thay đổi, hoàn thiện mình để tự nâng tầm tư duy và triết lý trong công tác đào tạo và  
thiết kế, đáp ứng được yêu cầu hòa nhập toàn cầu cho đào tạo kiến trúc nói riêng và  
thiết kế kiến trúc Việt Nam nói chung.  
Quá trình hội nhập giúp kiến trúc sư, giảng viên và sinh viên kiến trúc nâng cao  
kiến thức, cập nhật nhanh chóng các nhân tố mới từ nhiều nguồn thông tin khác nhau,  
phát huy ý tưởng sáng tạo, ứng dụng vật liệu và công nghệ tiên tiến trong thiết kế các  
dạng công trình mới, công trình cao tầng, công trình đòi hỏi kỹ thuật cao, và đặc biệt là  
tiếp cận được các xu hướng thiết kế tiên tiến của thế giới trong giai đoạn hiện nay.  
Quá trình hội nhập, thông qua giao lưu văn hóa, giúp kiến trúc sư và sinh viên  
kiến trúc định vị đúng mức hơn và khai thác được nhiều hơn các yếu tố văn hóa Việt  
Nam và phương Đông vào thiết kế kiến trúc.  
Quá trình hội nhập tạo điều kiện cho sự liên kết với các doanh nghiệp, nhà sản  
xuất, tăng cường yếu tố đào tạo theo hướng ứng dụng, thực hành, chủ động đưa được  
các công nghệ mới với những yếu tố công nghệ, kỹ thuật... thực tiễn nhất vào hoạt  
động đào tạo.  
Ở góc độ khác, các trường đào tạo kiến trúc sư được đòi hỏi phải thường xuyên  
thay đổi nội dung giáo trình và phương cách đào tạo, điều chỉnh và kiểm định chương  
70  
Hội thảo “Đào tạo Kiến trúc & các ngành Thiết kế, Xây dựng trong xu hướng toàn cầu hóa “  
_________________________________________________________________________________________  
trình theo các chuẩn của khu vực và quốc tế để bằng cấp kiến trúc sư Việt Nam phải  
được thế giới công nhận.  
Quá trình hội nhập tạo điều kiện cho sinh viên, giảng viên tham gia các hoạt  
động giao lưu, hội thảo, workshop... với các chuyên gia, nhà khoa học, giảng viên,  
sinh viên của các trường đào tạo chuyên ngành kiến trúc trong và ngoài nước.  
2.2. Thách thức  
Về mặt chủ quan, trong quá trình hội nhập, việc tiếp nhận các phong cách kiến  
trúc mới đã diễn tiến phần lớn thông qua cảm tính, thiếu phân tích. Quá trình này dẫn  
đến hiện tượng tiếp nhận hình thức thuần tuý. Người tiếp nhận, đặc biệt là sinh viên,  
rất ít khi quan tâm toàn diện đến triết lý thiết kế mới mà chủ yếu là vay mượn các bộ  
vỏ hình thức. Thời gian gần đây qua đánh giá đồ án sinh viên, chúng tôi nhận thấy có  
hiện tượng nhiều sinh viên thoát ly công năng, không quan tâm đến nhiệm vụ thiết kế,  
mà chủ yếu chỉ phô diễn hình khối bên ngoài một cách lệch lạc. Nhiều trường hợp  
thậm chí sao chép hình thức, bất kể công năng, quy mô và vị trí công trình. Hiện tượng  
này cũng đã thấy xuất hiện ở một số công trình thực tế do kiến trúc sư Việt Nam thiết  
kế.  
Về mặt khách quan, việc phát huy cá tính thông qua con đường “Giải toả cấu  
trúc” thiếu kiểm soát vô hình chung đã đưa người thiết kế đi lạc rất xa khỏi những kiến  
thức căn bản của nghề nghiệp, giống như một người học vẽ tự ảo tưởng về giá trị của  
những ‘tác phẩm” trừu tượng của mình, trong khi họ chưa có được căn bản về nguyên  
tắc hiện thực.  
Nhiều người thiết kế bị lệ thuộc quá nhiều vào các phầm mềm CAD, xem CAD  
là mục tiêu, trong khi về bản chất đó chỉ là phương tiện hỗ trợ thiết kế. Xét dưới góc  
độ đào tạo, theo đánh giá của nhiều chuyên gia nước ngoài thì sinh viên kiến trúc Việt  
Nam hiện đang có thế mạnh về phác thảo trong quá trình tìm ý. Khả năng phác thảo là  
phương tiện quan trọng giúp sinh viên tôi luyện cách nhìn và xây dựng ý thức về tỷ lệ  
– những căn bản cần thiết của một người thiết kế. Nếu đánh mất các kỹ năng này,  
người kiến trúc sư tương lai phải bị lệ thuộc vào máy tính, và do đó sẽ chịu giới hạn về  
sáng tạo.  
Nhiều người thiết kế bị lệ thuộc vào nhà cung cấp sản phẩm, giao phó nhiệm vụ  
tổ hợp, tạo hình và cả thiết lập công năng của kiến trúc sư cho các nhà sản xuất. Cần  
lưu ý rằng, tại các văn phòng thiết kế toàn cầu như SOM, HOK, KPF, chính kiến trúc  
sư mới là người nghiên cứu đề xuất giải pháp vỏ bao che, còn nhà sản xuất chỉ là đơn  
vị tư vấn kỹ thuật và thực hiện thi công.  
Với các trang thiết bị MEP hiện đại, mà đặc biệt là hệ thống điều hòa nhiệt độ  
và thông gió nhân tạo, sự lạm dụng vào khả năng trang thiết bị nhiều khi đã khiến  
người thiết kế không quan tâm đúng mức đến các yếu tố khí hậu Việt Nam. Trong  
nhiều trường hợp, giải pháp thiết kế không phù hợp, không dự trù được khả năng  
71  
Hội thảo “Đào tạo Kiến trúc & các ngành Thiết kế, Xây dựng trong xu hướng toàn cầu hóa “  
_________________________________________________________________________________________  
thông thoáng và chiếu sáng tự nhiên trong điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm tại  
nước ta. Trong một số trường hợp khác, việc sử dụng các trang thiết bị không được dự  
trù trước trong quá trình thiết kế, dẫn đến hậu quả là nhiều công trình bị cơi nới, chắp  
vá khi lắp đặt thiết bị phát sinh, gây phản cảm về thẩm mỹ và ảnh hưởng đến môi  
trường.  
Việc xuất hiện công trình cao tầng tại các đô thị lớn là một thách thức lớn cho  
nhu cầu lưu giữ ký ức đô thị và đặt ra các bài toán nan giải về giao thông và môi  
trường.  
Nhiều dự án đầu tư nước ngoài, và gần đây có cả các dự án Việt Nam với nguồn  
vốn tư nhân, có xu hướng sử dụng thiết kế nước ngoài, hạn chế khả năng tham gia của  
kiến trúc sư Việt Nam. Hiện tượng này đặt ra thách thức lớn mang tính cạnh tranh, đòi  
hỏi các cơ sở đào tạo và các đơn vị thiết kế trong nước phải có kế hoạch nâng cao chất  
lượng thiết kế và chiến lược phát triển phù hợp.  
B. QUAN ĐIỂM HỘI NHẬP VÀ MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG ĐÀO TẠO KTS TẠI  
TRƯỜNG ĐH KIẾN TRÚC TP. HỒ CHÍ MINH  
1. Tổng quan về đào tạo kiến trúc sư tại trường Đại học Kiến trúc TP. Hồ Chí  
Minh trong bối cảnh hội nhập  
Tiếp nối truyền thống đào tạo kiến trúc sư của trường Kiến trúc Sài Gòn (giai  
đoạn từ năm 1951 - 1975), trường đại học Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh được thành lập  
theo quyết định số 426/TTg ngày 27/10/1976 theo quyết định của Thủ tướng Chính  
phủ, đến nay đã được 40 năm.  
Trong quá trình 65 năm đào tạo kiến trúc sư, trải qua nhiều thăng trầm và thay  
đổi, với vai trò là một trong các đơn vị chủ lực trong công tác đào tạo kiến trúc sư,  
trường đại học Kiến trúc TP.Hồ Chí Minh đã góp phần quan trọng trong việc thực hiện  
nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực kiến trúc và quy hoạch cho  
khu vực phía Nam và các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên. Với gần 10.000 sinh viên  
chuyên ngành kiến trúc ra trường, đội ngũ kiến trúc sư này đã và đang góp phần tích  
cực trong việc phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.  
Tuy nhiên cần nhìn nhận rằng, lực lượng kiến trúc sư được đào tạo tại các  
trường đại học trong nước, trong đó có đại học Kiến trúc TP.Hồ Chí Minh, số lượng  
nhiều nhưng chất lượng không đồng đều. Một phần là do không có môi trường hành  
nghề phù hợp, các tổ chức tư vấn kiến trúc nhiều nhưng manh mún, nhỏ lẻ và hành  
nghề chủ yếu ở các đô thị lớn. Phần khác là do chất lượng đào tạo kiến trúc sư tại  
nhiều cơ sở đào tạo chưa theo kịp với xu thế hội nhập. Ở góc độ đào tạo kiến trúc sư  
tại trường đại học Kiến trúc TP.Hồ Chí Minh, có thể khái quát bởi một số nguyên nhân  
cơ bản sau:  
72  
Hội thảo “Đào tạo Kiến trúc & các ngành Thiết kế, Xây dựng trong xu hướng toàn cầu hóa “  
_________________________________________________________________________________________  
Về chương trình đào tạo: dù đã có nhiều thay đổi với nhiều ưu điểm rõ nét về  
cấu trúc và nội dung so với chương trình trước đây, nhưng ở nhiều chuyên ngành vẫn  
còn thiếu những yêu cầu cần thiết về chuẩn đầu ra để đáp ứng mục tiêu và nhu cầu  
đào tạo chất lượng cao trong thời kỳ hội nhập khu vực và thế giới.  
Về đội ngũ giảng viên: được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau trong nước và  
nước ngoài như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Bỉ, Hà Lan, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc,  
Singapore, Trung Quốc, v.v., kiến thức nhìn chung sâu và rộng ở nhiều lĩnh vực, tiếp  
cận được sự phát triển của thế giới. Tuy nhiên, sự trải nghiệm thực tế chưa nhiều, đây  
là hạn chế quan trọng đối với giảng viên giảng dạy các chuyên ngành đào tạo về thực  
hành.  
Về phương pháp đào tạo: đã có nhiều đổi mới, người học được chú trọng đào  
tạo và phát triển với nhiều kỹ năng toàn diện hơn. Tuy nhiên, các hoạt động trao đổi  
giảng viên, sinh viên, tạo điều kiện giao lưu, học hỏi lẫn nhau thông qua các hội thảo,  
chương trình workshops, nghiên cứu, tham quan thực hành, .v.v.. chưa thực sự có điều  
kiện để đẩy mạnh. Việc tăng cường các hoạt động học thuật thông qua việc tổ chức  
hoặc tham gia các cuộc thi có tính chất quốc tế như ArchiCad BIM Competition,  
World Architecture Festival, FuturArc, Asian Contest of Architectural Rookie's  
Award... do nhiều rào cản về ngoại ngữ và thời gian nên chưa được đông đảo sinh viên  
tham gia.  
Về vấn đề hội nhập quốc tế thông qua các chương trình hợp tác với các đối tác  
nước ngoài nhằm trao đổi về chương trình đào tạo, kinh nghiệm, công nghệ mới phục  
vụ mục tiêu phát triển khoa học công nghệ và đào tạo vẫn còn một số hạn chế nhất  
định. Trong những năm gần đây, một số chương trình tiên tiến được xây dựng theo  
chuẩn của khu vực và châu Âu, liên kết đào tạo với các trường đại học trên thế giới  
như Đại học Kỹ thuật Swinburne - Australia, Đại học Katholike Leuven – Vương  
Quốc Bỉ, Đại học Bắc Đan Mạch (UCN), Học viện Công nghệ châu Á (AIT) - Thái  
Lan, ... đã được triển khai hoặc chuẩn bị triển khai. Tuy nhiên, phạm vi hợp tác vẫn  
còn giới hạn ở một số chuyên ngành nhất định như Thiết kế đô thị, Quy hoạch vùng và  
đô thị, Quản lý đô thị, Thiết kế Công nghiệp, Thiết kế Nội ngoại thất, Công nghệ kiến  
trúc và Quản lý xây dựng v.v., chưa được mở rộng cho các chuyên ngành đào tạo kiến  
trúc sư khác của trường.  
Về cơ sở vật chất phục vụ đào tạo: tuy đã được quan tâm đầu tư nhưng vẫn  
chưa thể đáp ứng được yêu cầu, nhất là những trang thiết bị phục vụ giảng dạy các  
môn học ứng dụng thực nghiệm, thực hành...  
Nhiều năm trước đây, việc đẩy mạnh liên kết với doanh nghiệp trong hoạt động  
đào tạo vẫn còn nhiều hạn chế. Vì vậy, việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật,  
tận dụng sự hỗ trợ từ phía doanh nghiệp về khai thác sử dụng cơ sở vật chất, phòng thí  
73  
Hội thảo “Đào tạo Kiến trúc & các ngành Thiết kế, Xây dựng trong xu hướng toàn cầu hóa “  
_________________________________________________________________________________________  
nghiệm, nắm bắt các yêu cầu công việc thực tế sau khi ra trường,.. vẫn còn nhiều khó  
khăn và bất cập.  
Sự hạn chế về năng lực ngoại ngữ, đặc biệt là khả năng sử dụng tiếng Anh  
chuyên ngành đã dẫn đến hạn chế về khả năng hội nhập trong hoạt động nghề nghiệp  
và đào tạo.  
Nhìn nhận thực tế trong bối cảnh hội nhập, trường đại học Kiến trúc TP. Hồ Chí  
Minh đã và đang có nhiều sự chuyển mình, thay đổi trong cách nhìn và quan điểm đào  
tạo, thay đổi trong các chính sách đầu tư về cơ sở vật chất, đào tạo đội ngũ giảng viên,  
mở rộng quan hệ hợp tác,... Và điểm nhấn nổi bật nhất chính là sự thay đổi về chương  
trình đào tạo với những mục tiêu phù hợp hơn, hướng tới đạt chuẩn khu vực theo  
chuẩn giáo dục ASEAN. Kết quả của những sự thay đổi này tuy chưa có những tổng  
kết rõ ràng nhưng đã phản ánh những nhận định và hướng đi tích cực trong công tác  
đào tạo kiến trúc sư giai đoạn hội nhập hiện nay.  
2. Quan điểm hội nhập  
Việt Nam đang ngày càng phát triển theo xu thế hội nhập khu vực và quốc tế.  
Trong lĩnh vực thiết kế kiến trúc, xét trên cả hai phạm vi thực hành và đào tạo, thì việc  
tiếp thu vận dụng các yếu tố ngoại sinh để phát triển là xu thế tất yếu. Vấn đề đặt ra là,  
sự phát triển đó cần thiết phải dựa trên nền tảng các điều kiện đặc thù của Việt Nam,  
mà đặc biệt là yếu tố tự nhiên môi trường và các giá trị văn hóa.  
Xu thế phát triển không cho phép những đối tượng đang tham gia vào quá trình  
đào tạo và hành nghề kiến trúc tại Việt Nam (giảng viên đại học, kiến trúc sư, sinh  
viên kiến trúc) thu mình vào các lối mòn quen thuộc, cả về tư duy không gian, tư duy  
công nghệ, phương pháp giảng dạy lẫn cung cách quản lý. Nhưng sự phát triển bền  
vững cũng đồng thời không chấp nhận cách tiếp cận cái mới theo kiểu lai căng, bản  
năng và cảm tính.  
Vì vậy, tiếp thu và gạn lọc các tác nhân ảnh hưởng đến công tác đào tạo kiến  
trúc sư, chúng tôi nhìn nhận tổng thể và khách quan đến mọi nguồn lực, trong đó nhấn  
mạnh triết lý đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đạt tính cạnh tranh cao cho  
hiện tại và tương lai.  
3. Định hướng đào tạo kiến trúc sư tại trường ĐH Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh  
Nhận diện các thuận lợi và thách thức trong bối cảnh hội nhập và để có thể  
tham gia hội nhập một cách chủ động, trường đại học Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh đang  
hướng tới mục tiêu xây dựng chương trình đào tạo đội ngũ kiến trúc sư mới, đáp ứng  
các nhu cầu của môi trường xây dựng hiện đại ở Việt Nam cũng như quốc tế, sự chuẩn  
bị cần thiết cho ngành xây dựng của Việt Nam trong giai đoạn hội nhập. Cụ thể hóa  
mục tiêu nêu trên, trường đại học Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh đang định hướng xây  
74  
Hội thảo “Đào tạo Kiến trúc & các ngành Thiết kế, Xây dựng trong xu hướng toàn cầu hóa “  
_________________________________________________________________________________________  
dựng các chương trình đào tạo nguồn nhân lực Kiến trúc sư với các chuẩn đầu ra như  
sau:  
Về kiến thức  
Có kiến thức nền tảng về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn để  
tiếp thu vững vàng kiến thức giáo dục chuyên ngành và phát triển tư duy khoa học,  
phát triển các giá trị nhân văn trong thiết kế kiến trúc.  
Có kiến thức vững vàng về lý thuyết chuyên ngành, lịch sử kiến trúc, các  
nguyên lý cơ bản trong thiết kế kiến trúc, nắm vững các vấn đề kỹ thuật công trình,  
thiết kế bền vững...  
Có kiến thức mở rộng về quy hoạch, thiết kế đô thị, cảnh quan, nội thất, kết cấu,  
kỹ thuật công trình, môi trường, quản lý dự án,... các chuyên ngành có liên quan đến  
ngành kiến trúc.  
Có năng lực tư duy nghiên cứu khoa học vững vàng.  
Về kỹ năng  
Kỹ năng cứng  
Có khả năng vững vàng để sáng tác, lập hồ sơ và quản lý thiết kế các công trình  
kiến trúc dân dụng và công nghiệp trong nước và quốc tế (thông qua thực tập chuyên  
ngành ở các tổ chức tư vấn thiết kế, giám sát, thi công kiến trúc - xây dựng.)  
Có khả năng dẫn dắt (leadership) và làm việc nhóm, điều phối, phối hợp các bộ  
môn kỹ thuật trong quá trình thiết kế.  
Có khả năng tham gia tư vấn, lập, thẩm định và giám sát thực hiện dự án xây  
dựng các công trình dân dụng và công nghiệp.  
Có khả năng thể hiện tốt đồ án thiết kế kiến trúc bằng bản vẽ và mô hình, sử  
dụng tốt các phần mềm hỗ trợ thiết kế kiến trúc.  
Có khả năng vững vàng để tham gia nghiên cứu khoa học.  
Kỹ năng mềm  
Có khả năng độc lập nghiên cứu, sáng tạo và làm việc nhóm.  
Có khả năng tìm kiếm và biết xử lý, ứng dụng các kiến thức khoa học công  
nghệ tiên tiến vào quá trình thiết kế kiến trúc.  
Có năng lực trình bày các vấn đề chuyên môn một cách khoa học bằng hai ngôn  
ngữ tiếng Việt và tiếng Anh. Năng lực ngoại ngữ: Tiếng Anh đạt mức 600 điểm  
TOEIC hoặc các chứng chỉ khác tương đương. Sử dụng thành thạo tiếng Việt trong các  
vấn đề chuyên môn và xã hội.  
75  
Hội thảo “Đào tạo Kiến trúc & các ngành Thiết kế, Xây dựng trong xu hướng toàn cầu hóa “  
_________________________________________________________________________________________  
Về thái độ  
Thượng tôn pháp luật. Có đạo đức nghề nghiệp vững vàng.  
Có trách nhiệm cao với cộng đồng và môi trường.  
Có tinh thần học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ sau đại học.  
Về khả năng thꢀch nghi với môi trường lảm việc  
Xây dựng tác phong làm việc khoa học, tinh thần kỷ luật, hòa nhập nhanh  
chóng vào các môi trường làm việc khác nhau.  
Có năng lực tự học để hoàn thiện, bổ sung, nâng cao trình độ chuyên môn  
nghiệp vụ.  
Có năng lực tự hoàn thiện các kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng mềm, nâng cao  
năng lực cạnh tranh trong quá trình hành nghề trong nước và quốc tế.  
Với những định hướng và mục tiêu nêu trên, những sự chuẩn bị về nội dung  
chương trình đào tạo, so sánh với các chương trình đào tạo kiến trúc sư ở các nước tiên  
tiến, đối chiếu với các chuẩn đào tạo của khu vực, tiếp nhận các ý kiến phản biện của  
các chuyên gia và xã hội, đầu tư nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, những đầu tư  
về cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ đào tạo,... đã và đang là những nhiệm vụ trọng  
tâm của trường đại học Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.  
Thuận lợi và thách thức trong bối cảnh hội nhập hoàn toàn không phải là rào  
cản cho sự phát triển, mà chính là động lực thúc đẩy những đối tượng đang tham gia  
vào quá trình đào tạo và hành nghề kiến trúc tại Việt Nam tự tìm hiểu, khám phá và  
sáng tạo, là cơ hội cho kiến trúc Việt Nam vươn ra tầm quốc tế. Tuy nhiên, để hiện  
thực hóa những mục tiêu được đề ra trong quá trình hội nhập, chúng tôi rất cần nhận  
được sự quan tâm hỗ trợ từ các cấp lãnh đạo, Hội ngành nghề, sự hợp tác từ các  
trường đại học, các chuyên gia đầu ngành và sự liên kết hỗ trợ từ các doanh nghiệp...  
trong và ngoài nước..., chúng tôi xác định, đó là yếu tố quan trọng giúp Đại học Kiến  
trúc TP. Hồ Chí Minh cũng như các đơn vị đào tạo kiến trúc sư tại Việt Nam có đủ sức  
hòa nhập và cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập hiện nay.  
76  
pdf 10 trang yennguyen 22480 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đào tạo kiến trúc sư tại trường Đại học Kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập quốc tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdao_tao_kien_truc_su_tai_truong_dai_hoc_kien_truc_thanh_pho.pdf