Bảo tồn và nâng cao giá trị quỹ di sản kiến trúc đô thị Huế

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 1 (2021)  
BẢO TỒN VÀ NÂNG CAO GIÁ TRỊ QUỸ DI SẢN KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ HUẾ  
Bùi Thị Hiếu*, Nguyễn Quang Huy  
Khoa Kiến trúc, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế  
Ngày nhận bài: 6/11/2020; ngày hoàn thành phản biện: 3/12/2020; ngày duyệt đăng: 02/6/2021  
TÓM TẮT  
Di sản là yếu tố cơ bản tạo nên đặc thù của vùng đất Cố đô, là nguồn tài nguyên  
thiết yếu để phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế du lịch. Tuy nhiên, với sự tàn phá  
của thiên tai, của quá trình đô thị hóa, của những mâu thuẫn giữa bảo tồn di sản  
và phát triển đô thị...công cuộc bảo tồn và nâng cao giá trị di sản Huế nói chung và  
quỹ di sản kiến trúc đô thị Huế nói riêng đang gặp phải vô vàng những khó khăn,  
thách thức. Trong bài báo này, bằng việc vận dụng những lý thuyết liên quan đến  
bảo tồn di sản trong những tài liệu thứ cấp sẵn có, phương pháp khảo sát thực địa,  
phương pháp phân tích và phương pháp so sánh, chúng tôi có tham vọng mang lại  
những cách nhìn tổng thể hơn, hệ thống hơn về các vấn đề liên quan đến di sản và  
ứng dụng nó vào thực tế công tác bảo tồn và nâng cao giá trị quỹ di sản kiến trúc  
đô thị Huế.  
Từ khóa: Bảo tồn, di sản, Huế, phát triển.  
1. MỞ ĐẦU  
Từng là thủ phủ xứ Đàng Trong (1558-1775), là kinh đô nước Đại Việt dưới  
triều đại Tây Sơn (1788-1801), rồi là kinh đô, trung tâm chính trị, văn hóa của Việt Nam  
trong một thời gian dài (từ 1802 đến 1945) dưới triều đại của 13 vị vua Nguyễn, Huế  
mang đậm dáng dấp của một Cố đô đặc trưng. Vùng đất này được biết đến là nơi gặp  
gỡ, giao thoa của rất nhiều nền văn hóa, là nơi tập trung các nhân tài của đất nước  
trong nhiều lĩnh vực và nhiều vùng miền khác nhau. Trong hơn một thế kỷ là kinh đô  
triều Nguyễn, hàng loạt các công trình như thành quách, phủ đệ, lăng tẩm, đền miếu,  
chùa chiền… được xây dựng với những nét độc đáo về kiến trúc, cảnh quan, cũng như  
kỹ thuật xây dựng, trong số đó có nhiều công trình là độc nhất vô nhị ở Đông Nam Á  
như Hổ Quyền và Điện Voi Ré. Huế mang trong mình một kho tàng lớn các di sản văn  
hóa vật thể (các công trình kiến trúc, danh lam thắng cảnh...) và phi vật thể ( lễ hội,  
trang phục, âm nhạc, ẩm thực…). Huế là niềm tự hào của người dân Việt Nam khi có  
đến 5 di sản triều Nguyễn được Unesco công nhận, bao gồm: Quần thể di tích Cố đô  
83  
Bảo tồn và nâng cao giá trị quỹ di sản kiến trúc đô thị Huế  
Huế (1993), Nhã nhạc cung đình Huế (2003), Mộc bản triều Nguyễn (2009), Châu bản  
triều Nguyễn (2014) và Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế (2016).  
Không chỉ riêng dưới triều đại nhà Nguyễn, mà qua các giai đoạn lịch sử khác  
nhau, Huế lại có thêm những dấu ấn riêng biệt mà di sản phản ánh rõ nét nhất. Đến  
hôm nay, Huế được biết đến là thành phố di sản đặc trưng của Việt Nam nói riêng và  
của thế giới nói chung với sự giàu có và đa dạng của các loại hình di sản. Đây thực sự  
là lợi thế và cũng là thách thức ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, xã hội...  
Cũng như nhiều thành phố khác, thách thức và khó khăn lớn nhất đối với việc bảo tồn  
và nâng cao giá trị của di sản đến từ mâu thuẫn tồn tại giữa bảo tồn và phát triển nhằm  
đáp ứng với nhu cầu của cuộc sống hiện đại. Bảo tồn như thế nào để không hạn chế,  
không ảnh hưởng đến sự phát triển? Trên thực tế, vấn đề này không phải bao giờ cũng  
dung hoà được một cách dễ dàng: "Đối với Huế, đây là vấn đề to lớn nhất trong bối cảnh  
hiện nay, vì di tích Huế nếu tính luôn cả những thành tố thiên nhiên mang tính biểu tượng  
nhưng gắn liền với nó thì vô cùng lớn rộng. Đây là bài toán khó, nan giải, và cũng là vấn đề  
mà Uỷ ban Di sản Thế giới đã nhiều lần khuyến cáo đối với di sản Huế." [1, tr.123].  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Phương pháp nghiên cứu chính mà chúng tôi đã lựa chọn sử dụng là phương  
pháp khảo sát thực địa trên các địa điểm có di sản và đã thực hiện quan sát, chụp  
không ảnh, chụp ảnh, thực hiện các cuộc phỏng vấn...nhằm thu thập hình ảnh, tư liệu,  
bản đồ, thông tin có liên quan.  
Chúng tôi cũng đã sử dụng những tài liệu thứ cấp sẵn có ở trong nước và cả  
những tài liệu nước ngoài liên quan đến vấn đề bảo tồn và nâng cao giá trị di sản, liên  
quan đến phát triển bền vững như đã liệt kê ở mục “tài liêụ tham khảo” nhằm làm nền  
tảng cho việc nghiên cứu và trích dẫn. Đồng thời, chúng tôi sử dụng phương pháp  
phân tích bản đồ, tư liệu, hình ảnh và phương pháp so sánh nhằm làm rõ những vấn  
đề mà công tác bảo tồn và nâng cao giá trị di sản đang phải đối mặt, từ đó đưa ra  
những định hướng.  
3. BẢO TỒN VÀ NÂNG CAO GIÁ TRỊ QUỸ DI SẢN KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ HUẾ.  
3.1. Quỹ di sản kiến trúc đô thị Huế:  
Riêng về quỹ di sản kiến trúc đô thị Huế thì rất phong phú và đa dạng, ngoài  
quỹ di sản kiến trúc cung đình được xây dựng dưới triều Nguyễn mà nổi bật là Quần  
thể di tích cố đô Huế được UNESCO công nhận là di sản văn hóa của nhân loại vào  
năm 1993, chúng ta có thể kể đến quỹ di sản kiến trúc thuộc địa với nhiều thể loại công  
trình khác nhau ( các công trình hành chính, công sở, nhà ga, trường học, biệt thự...)  
84  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 1 (2021)  
được xây dựng dưới thời Pháp thuộc; quỹ di sản kiến trúc Trung Hoa trong các khu  
phố cổ Bao Vinh, Gia Hội; quỹ di sản kiến trúc tôn giáo và tín ngưỡng ( đình làng, chùa  
làng, nhà thờ họ, am, miếu…) tồn tại trong các làng truyền thống ven đô và đặc biệt là  
quỹ kiến trúc nhà vườn truyền thống Huế, yếu tố góp phần tạo nên đặc trưng cho Huế  
- thành phố vườn. "Nhận diện quỹ di sản và cảnh quan, đến nay không chỉ trong nước và  
nước ngoài đều xác nhận di sản Thừa Thiên - Huế nói chung và TP. Huế nói riêng là phong  
phú, đặc sắc với một số di sản được xem là duy nhất của Việt Nam và thế giới. Quỹ di sản này  
không chỉ thể hiện ở trong kinh thành Huế, trong kiến trúc cung đình, nhà cửa, dinh thự của  
tầng lớp trên trong xã hội phong kiến mà còn thể hiện rõ trong cấu trúc các điểm dân cư với  
hình thức phố thị, làng nghề, nhà vườn đang hiện diện là sự chuyển hoá chọn lọc đang hòa  
quyện với cảnh quan từ thời phong kiến, Pháp thuộc và cả thời gian gần đây".[2, tr.17].  
Hình 1. Qũy di sản kiến trúc đô thị Huế. Vẽ lại bởi tác giả Bùi Thị Hiếu.  
3.2. Bảo tồn và nâng cao giá trị quỹ di sản kiến trúc đô thị Huế:  
Thực tế, các công trình kiến trúc này đã và đang chịu tác động tiêu cực của sự  
biến đổi môi trường tự nhiên và xã hội. Phần lớn đã tồn tại qua hàng trăm năm, chụi  
sự tàn phá ác liệt của bom đạn chiến tranh. Hơn nữa, các di sản này lại tồn tại trong  
một môi trường khí hậu rất khắc nghiệt, mưa nhiều, bão lụt xẩy ra thường xuyên. Bên  
cạnh đó, quá trình đô thị hoá ở Huế trong những năm qua cũng đã tạo ra những sức ép  
không nhỏ đối với việc bảo tồn di sản. Ngoài ra, thái độ và nhận thức của cộng đồng  
về bảo tồn di sản văn hoá là chưa cao và chưa đầy đủ. Di sản thực sự vẫn đang còn  
thiếu sự quan tâm thích đáng của các cấp chính quyền, nhà quản lý, của người dân địa  
phương cho việc bảo tồn và nâng cao giá trị. Vì vậy mà các di tích ngày càng xuống  
cấp, hoặc bị tàn phá một cách nặng nề. Một số công trình đã trở thành phế tích hoặc bị  
hư hỏng nặng và rất cần phải có những biện pháp cứu vãn kịp thời trước khi trở thành  
quá muộn.  
a. Bảo tồn di sản:  
Bảo tồn di sản (heritage preservation) được hiểu như là các nỗ lực nhằm bảo vệ  
và giữ gìn sự tồn tại của di sản theo dạng thức vốn có của nó, bao gồm tất cả các hành  
85  
Bảo tồn và nâng cao giá trị quỹ di sản kiến trúc đô thị Huế  
động nhằm " gìn giữ bất kỳ yếu tố nào của di sản trong điều kiện tốt nhất có thể. " [3, tr.3], là  
bảo vệ di sản trước mọi nguy cơ bị phá hủy bởi bất kỳ tác nhân nào, dù là môi trường  
hay con người, là " tất cả các biện pháp để bảo vệ di sản chống lại thiên tai và sự tàn phá. " [4,  
tr.18] : bảo quản, trùng tu, phục hồi, tu bổ, khôi phục lại tình trạng ban đầu... Và trên  
thực tế, hiện tồn tại hai quan điểm phổ biến liên quan đến bảo tồn di sản văn hóa là  
bảo tồn nguyên vẹn và bảo tồn trên cơ sở kế thừa.  
Việc bảo tồn và nâng cao giá trị quỹ di sản kiến trúc đô thị Huế cần phải được  
thực hiện đồng thời trên các dạng thể di sản: Di sản tự nhiên, di sản không gian, cảnh  
quan; di sản văn hóa, lịch sử , di sản đô thị ; di sản nông thôn, di sản nông nghiệp và di  
sản văn hóa phi vật thể. Bảo tồn quỹ di sản kiến trúc đô thị Huế là bảo tồn một khối  
lượng lớn các di tích hoành tráng mang trong mình những giá trị văn hóa, lịch sử, giá  
trị mỹ thuật, giá trị kiến trúc, giá trị phong thủy, giá trị không gian, cảnh quan mà các  
yếu tố tự nhiên đặc thù (núi, nước, cây xanh..) không thể tách rời với di sản.  
Liên quan đến cảnh quan các khu vực di sản, do phần lớn các di tích của Huế  
được xây dựng hài hòa với thiên nhiên trong một không gian bao la, trong những làng  
mạc bao quanh nên giải quyết tốt các vấn đề liên quan đến môi trường xung quanh di  
sản là rất cần thiết. Theo điều 32 của Luật Di sản Văn hoá Việt Nam, thì các khu vực  
bảo vệ di tích bao gồm: Khu vực I và Khu Vực II. Trong đó, khu vực bảo vệ I gồm di  
tích và vùng được xác định là yếu tố gốc cấu thành di tích, phải được bảo vệ nguyên  
trạng. Khu vực bảo vệ II là vùng bao quanh khu vực bảo vệ I của di tích, có thể xây  
dựng những công trình phục vụ cho việc phát huy giá trị di tích nhưng không làm ảnh  
hưởng tới kiến trúc, cảnh quan thiên nhiên và môi trường - sinh thái của di tích.  
Nhưng trên thực tế, việc áp dụng các qui định của luật này vào việc xác định các vùng  
đệm, vùng bảo vệ di tích, di sản đối với một số công trình ở Huế là chưa hợp lý. Giá trị  
kiến trúc, cảnh quan của các công trình di sản ở Huế như đền đài, lăng tẩm thường  
được nhìn nhận trên một tổng thể cảnh quan rất lớn với các yếu tố thiên nhiên đi kèm  
mà đôi khi những yếu tố thiên nhiên như núi, đồi, sông, suối... biểu thị các yếu tố  
phong thuỷ lại nằm cách xa công trình hàng chục km.Vì vậy, chúng ta cần phải có một  
cách nhìn khác hơn, rằng bảo tồn các công trình di sản không đơn thuần chỉ là bảo tồn  
riêng một mình công trình kiến trúc đơn lẻ mà là bảo tồn cả một hệ môi trường, hệ sinh  
thái, một hệ thống các không gian bao quanh và đôi khi là cả các làng mạc bao quanh  
khu vực di tích, di sản đó.  
b. Phát huy giá trị di sản:  
Nâng cao giá trị di sản, phát huy giá trị di sản được hiểu bao gồm những hành  
động nhằm đưa di sản vào trong thực tiễn xã hội, trong cuộc sống hiện tại, xem nó như  
là nguồn lực, là tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,  
mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho người dân địa phương nơi có di sản,  
cho cộng đồng .  
86  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 1 (2021)  
Để nâng cao giá trị một di sản, trước hết cần phải xác định được giá trị hiện có,  
giá trị đặc trưng của nó về các mặt: lịch sử, văn hóa, xã hội, chức năng sử dụng, kinh  
tế, cảnh quan, kiến trúc, thẩm mỹ, v.v., và làm cho nó được biết đến. Làm cho nó được  
biết đến không chỉ là để thu hút sự chú ý của mọi người mà "trên hết là mang lại cho nó ý  
nghĩa: vì một vật thể khiêm tốn nhất cũng có thể làm chứng cho một lịch sử, một lối sống, một  
tổ chức không gian hoặc các mối quan hệ xã hội. " [5, tr. 15]. Sau đó, là khai thác và sử dụng  
nó một cách hiệu quả, và nếu cần, "gán cho nó một chức năng mới phù hợp trong khuôn khổ  
của một dự án." [4, tr.9]. Cuối cùng, là " đưa di sản vào cuộc sống có nghĩa là đảm bảo tính  
truyền tải của nó. " [5, tr.15]  
Nâng cao giá trị di sản Huế nói chung và quỹ di sản kiến trúc đô thị Huế nói  
riêng là truyền sức sống cho nó, cứu nó khỏi sự mai một và giúp nó hòa nhập được với  
cuộc sống đương đại, sử dụng, khai thác các công trình, di tích kiến trúc nhằm mục  
đích mang đến những hiệu quả tích cực về mặt văn hóa giáo dục, nâng cao đời sống  
văn hóa tinh thần, vật chất của cư dân, phát triển kinh tế, xã hội địa phương.  
Phát huy các giá trị di sản văn hóa nhằm mục tiêu phát triển du lịch bền vững  
dường như là một xu hướng tất yếu đối với một vùng đất giàu và đa dạng di sản như  
Huế. Du lịch giúp quảng bá hình ảnh các di sản văn hóa , nhằm thu hút du khách  
trong và ngoài nước đến với Huế, đồng thời đem lại những nguồn thu cho chính người  
dân địa phương tham gia vào các hoạt động du lịch và kinh phí phục vụ cho công tác  
bảo tồn.  
Một ví dụ cụ thể, những năm trở lại đây, trong chương trình hợp tác nghiên  
cứu cảnh quan di sản văn hóa Huế giữa Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế với đại  
học Waseda Nhật Bản tại lăng Gia Long đang mở ra một cơ hội mới trong việc kết hợp  
giữa khám khá di sản và du lịch sinh thái tại di tích này. " Gia Long Tomb Eco Study  
Tour " đã thu hút nhiều khách du lich đến khám phá, nghiên cứu và người dân địa  
phương đã tham gia tích cực và hưởng lợi từ các hoạt động, các dịch vụ du lịch.  
Hình 2. Khách du lich và người dân địa phương tại Lăng Gia Long.  
Nguồn:  
c. Nâng cao nhận thức về di sản:  
Nâng cao nhận thức về di sản bao gồm những hoạt động "làm cho các giá trị di  
sản được biết đến bằng cách giới thiệu chúng với người dân, các tổ chức, doanh nghiệp và các  
87  
Bảo tồn và nâng cao giá trị quỹ di sản kiến trúc đô thị Huế  
cơ quan đoàn thể..."[4, tr.12]. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng mức độ nhận thức và hiểu  
biết của người dân về di sản đóng một vai trò rất quan trọng trong sự thành công của  
việc bảo tồn và phát huy di sản. "Những giá trị này càng dễ hiểu đối với con người, thì khả  
năng bảo vệ nó càng được củng cố." [6, tr.128].  
Thái độ và nhận thức của cộng đồng, đặc biệt là của thế hệ trẻ là rất quan trọng  
trong việc bảo tồn và nâng cao giá trị của di sản. Nhưng thực tế, thế hệ trẻ ngày càng ít  
quan tâm đến các giá trị của di sản và xu hướng chung của phần lớn giới trẻ là không  
còn muốn sống trong những môi trường truyền thống. Đây là một trong những  
nguyên nhân chính của sự mất dần các nhà vườn truyền thống Huế. Phần lớn những  
người muốn bảo tồn những không gian sống , những nhà vườn truyền thống ở Huế là  
những thế hệ già trong gia đình nhiều thế hệ, nhưng khi thế hệ già đã qua đời, xu  
hướng chung của con cháu của họ là sẽ chia nhỏ khu vườn ra để mỗi gia đình có không  
gian sống riêng của mình mà không phải ở chung với nhiều người, họ xây dựng lại  
ngôi nhà theo hình thức hiện đại,có đầy đủ tiện nghi hơn để phù hợp nhu cầu sống  
thực tại của họ mà ngôi nhà Rường , nhà Rội truyền thống không thể đáp ứng được.  
Một ví dụ cụ thể là ngôi nhà vườn 38/3 Lê Thánh Tôn, TP Huế có trong danh mục bảo  
tồn nhưng chỉ còn lại là ngôi nhà rường cổ chen giữa hai căn nhà hiện đại mới xây,  
diện tích sân vườn không còn nữa.  
a
b
Hình 3. a. Khuôn viên vườn bị chia nhỏ ở Thủy Biều. b. Nhà 38/3 Lê Thánh Tôn.  
Vẽ lại và chụp ảnh bởi tác giả Bùi Thị Hiếu.  
Bảo tồn và nâng cao giá trị di sản sẽ có hiệu quả tốt hơn nếu gắn với công tác  
nghiên cứu khoa học và giáo dục cộng đồng. Thường xuyên tổ chức các hội thảo quốc  
gia và quốc tế xoay quanh chủ đề di sản trong các trường đại học, đưa học sinh, sinh  
viên đi tham quan các di tích ở Huế, tham gia các tour khám phá di sản kết hợp với du  
lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, vẽ ghi lại các công trình kiến trúc có giá trị về mặt di  
sản.... là những hoạt động thiết thực góp phần nâng cao hơn nữa nhận thức và hiểu  
biết của giới trẻ về quỹ di sản kiến trúc đô thị Huế.  
Ngoài ra, việc cung cấp vé vào cửa miễn phí các địa điểm ở Huế nên thường  
xuyên hơn. Từ trước đến nay, việc này chỉ được thực hiện 2 lần trong năm (vào các dịp  
lễ Quốc khánh 2/9 và 30/4). Đây là cơ hội để toàn dân, kể cả những người lao động có  
88  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 1 (2021)  
hoàn cảnh khó khăn được tham quan, tiếp cận với các di tích, từ đó có nhận thức và có  
trách nhiệm với việc bảo tồn và nâng cao giá trị di sản.  
d. Nâng cao vai trò của người dân địa phương, của cộng đồng đối với việc bảo tồn và  
nâng cao giá trị di sản:  
Trên thực tế, một nửa số cư dân của Huế sống trong các khu vực bảo vệ di tích.  
Vì vậy, mọi hành động của công tác bảo tồn và nâng cao giá trị của quỹ di sản kiến trúc  
đô thị Huế đều có ảnh hưởng lớn đến đời sống của họ và ngược lại, cư dân địa phương  
cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy di sản.  
Vì vậy, cần kêu gọi sự tham gia tích cực của người dân địa phương nơi có di  
sản, phối hợp với chính quyền và các cơ quan có thẩm quyền để bảo tồn và phát huy di  
sản. Trên hết, đó là việc nâng cao nhận thức của họ về giá trị của những di sản này  
cũng như các lợi ích kinh tế, môi trường và xã hội mà họ sẽ được hưởng lợi từ sự can  
thiệp của họ.  
Một ví dụ cụ thể liên quan đến việc bảo tồn nhà vườn truyền thống ở Huế nói  
chung và Phú-Mộng (Kim Long, Huế) nói riêng: việc phê duyệt đề án “chính sách hỗ  
trợ bảo vệ và phát huy giá trị nhà vườn Huế đặc trưng” theo Quyết định số 25/2015/  
QĐ-UBND ngày 24/06/2015 với mục tiêu là “hỗ trợ người dân giữ gìn bản sắc văn hóa  
truyền thống, góp phần nâng cao giá trị hình ảnh cố đô Huế; khai thác, phát huy hiệu quả kinh  
tế của giá trị nhà vườn Huế đặc trưng và làm tiền đề lan tỏa, phát huy ý thức tự nguyện của  
người dân trong công cuộc bảo vệ những giá trị di sản văn hóa Huế đặc trưng gắn liền với phát  
triển kinh tế hộ gia đình và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.”[15] thực sự đã rất đề cao vai  
trò của người dân cũng như quan tâm đến ý thức, nhận thức của họ trong việc giữ gìn  
ngôi nhà mà họ đang sống. Chủ nhân ngôi nhà hiểu được những giá trị di sản, những  
đặc trưng của ngôi nhà vườn mà mình đang ở, họ đồng ý bảo tồn chúng, tu bổ chúng  
thông qua các khoản tài chính, những chính sách hỗ trợ bảo tồn, và sau đó tiếp đón du  
khách do các công ty du lịch gửi đến. Người dân có thể được hưởng lợi từ các hoạt  
động và các dịch vụ du lịch nên họ càng tích cực tham gia. Chính vì lẽ đó mà số lượng  
nhà vườn truyền thống ở Phú-Mộng (Kim Long) hầu như còn nguyên vẹn và giữ được  
giá trị ban đầu.  
Một ví dụ ngược lại, ở Huế, trình trạng nhà ở của người dân tồn tại trong các  
vùng đệm, vùng bảo vệ di tích là rất nhiều ( những hộ dân sống xung quanh Hổ  
Quyền, xung quanh đàn Xã Tắc, xung quanh hồ Tịnh Tâm...). Các ngôi nhà thuộc dạng  
này phần lớn thường có những qui định ràng buộc về việc sửa chữa, cải tạo, ở dạng  
cấm xây dựng lại và thậm chí nằm trong diện chờ giải toả. Đây thực sự là một vấn đề  
lớn ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người dân và cũng ảnh hưởng đến với  
môi trường an toàn xung quanh di sản. Ở đây, người dân phải chấp nhận sống trong  
những căn nhà phần lớn đã xuống cấp, những căn nhà tạm bợ cùng với những lời hứa  
hẹn của các cơ quan chức năng có thẩm quyền về việc di dời, đền bù, tái định cư.  
89  
Bảo tồn và nâng cao giá trị quỹ di sản kiến trúc đô thị Huế  
Nhưng thực tế, thời gian của việc chờ đợi thường là rất lâu và thường bị khất lần vì  
những lý do liên quan đến việc thiếu kinh phí, thiếu chính sách…. Trình trạng khá phổ  
biến này là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự không đồng thuận giữa người  
dân và sự nhếch nhác cho môi trường cảnh quan xung quan di sản.  
Hình 4. Nhà ở trong khu vực bảo vệ di tích Hổ Quyền. Ảnh chụp bởi Bùi Thị Hiếu.  
e. Sử dụng hợp lý quỹ di sản kiến trúc đô thị:  
Trước hết, di sản được coi là nguồn tài nguyên dễ bị tác động và ảnh hưởng bởi  
những tác nhân bên ngoài và cũng là nguồn tài nguyên không thể tái tạo, do đó cần  
phải sử dụng, khai thác hợp lý, hiệu quả và tiết kiệm vì “cuộc sống mai sau của di sản là  
phụ thuộc vào việc sử dụng hiện tại."[7, tr.43]. Sử dụng nguồn tài nguyên di sản hợp lý, có  
trách nhiệm là cách sử dụng mà không dẫn đến tình trạng nghèo nàn và suy thoái về  
lâu dài, là giữ cho nó luôn duy trì ở tình trạng tốt trong tương lai. Sử dụng hợp lý  
nguồn tài nguyên di sản luôn đòi hỏi phải đi đôi với các biện pháp can thiệp nhằm bảo  
tồn và khai thác giá trị di sản một cách có hiệu quả, có trách nhiệm vì sự phát triển bền  
vững kinh tế - xã hội, không chỉ cho ngày hôm nay, mà còn gìn giữ để chuyển giao cho  
các thế hệ mai sau.  
Hiện nay ở Huế, việc khai thác và sử dụng các di sản cho các mục đích phát  
sinh đang khiến chúng bị suy thoái nhanh chóng. Ví dụ, một số di tích được thuê để  
mở quán cà phê hoặc nhà hàng; một số biệt thự Pháp bị chuyển đổi chức năng sử dụng  
dẫn đến trình trạng cải tạo, cơi nới ... hoặc bị đập phá để chiếm đất xây dựng các công  
trình mới; di sản bị trưng dụng bởi các cá nhân, tổ chức đặt nặng lợi ích kinh tế lên  
hàng đầu...Thiết nghĩ, đã đến lúc chúng ta cũng cần có những quy định, những chế tài  
đủ mạnh để hạn chế tối đa việc sử dụng di sản phục vụ lợi ích cá nhân làm phương hại  
đến tình trạng tốt và mỹ quan của di tích.  
90  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 1 (2021)  
Hình 5. Khuôn viên ở Biệt thự Pháp cổ ( 26 Lê Lợi) bị chiếm dụng.  
Ảnh chụp bởi Nguyễn Quang Huy.  
f. Quản lý bền vững quỹ di sản kiến trúc đô thị :  
Quản lý di sản, đối với tất cả các thành phố nói chung và các thành phố có di  
sản được Unesco công nhận nói riêng, là một nhiệm vụ rất khó khăn và đầy thách  
thức. Quản lý di sản thường đòi hỏi sự hợp tác, gắn kết chặt chẽ và phối hợp nhịp  
nhàng giữa rất nhiều ngành và lĩnh vực khác nhau ( bảo tồn, kiến trúc, môi trường, du  
lịch,...). Nó đòi hỏi "một loạt các hành động và một loạt các tác nhân bên trong và bên ngoài  
..."[4, tr. 25]: Kêu gọi nguồn vốn phục vụ cho công tác bảo tồn, đào tạo nguồn nhân lực  
có chất lượng cao, xây dựng các hệ chính sách cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị,  
hệ tiêu chí đánh giá giá trị di sản, giải quyết tốt các vấn đề liên quan đến công tác giải  
phóng mặt bằng khi cần thiết ...  
“Trong quy chế quản lý không chỉ là nhận diện, liệt kê mà còn cần có các quy định để kế  
thừa bảo tồn và phát triển đặc trưng quỹ di sản này. Bảo tồn gắn với phát huy giá trị là xu thế  
các đô thị đang hướng tới để xác lập yêu cầu quản lý.” [2, tr.17]. Chúng ta cũng cần phải có  
những quy định, chính sách cụ thể liên quan đến bảo tồn, tôn tạo di tích, các chính sách  
bảo vệ nhà vườn,... Cần đưa ra những tiêu chí cụ thể, rõ ràng, có cơ sở cho việc phân  
loại , tiêu chí đánh giá giá trị các công trình di sản, di tích... Danh sách 27 công trình  
Pháp tiêu biểu tại Huế được công bố gặp phải nhiều ý kiến trái chiều và không đồng  
thuận, theo tôi, cái chính là sự mập mờ trong việc xây dựng hệ thống các tiêu chí đánh  
giá.  
Liên quan đến việc quản lý Quần thể di tích cố đô Huế, hiện trách nhiệm quản  
lý thuộc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đảm nhận. Phải thừa nhận đây là một  
trong những cơ sở đi đầu cả nước trong công tác quản lý và bảo tồn di sản, nhưng  
công tác quản lý di sản ở Huế đang đối mặt với vô vàng khó khăn và thách thức. Đầu  
tiên, phải kể đến, là sự phân bố rộng rãi của các di tích trong thành phố Huế và nằm  
rải rác ở một số xã, huyện trong toàn Tỉnh gây khó khăn cho việc quản lý; các nguồn  
ngân sách cho công tác bảo tồn còn hạn chế; chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng  
đủ...Yêu cầu đặt ra là cần nhanh chóng triển khai đề án phát triển toàn diện vùng đệm  
di tích theo kiến nghị của Ủy ban Di sản thế giới nhưng công tác này luôn gặp phải trở  
ngại lớn nhất liên quan đến việc sinh sống của các hộ dân xung quanh khu vực di sản.  
91  
Bảo tồn và nâng cao giá trị quỹ di sản kiến trúc đô thị Huế  
3.3. Bảo tồn và nâng cao giá trị di sản là nền tảng cho sự phát triển bền vững ?  
Di sản, từ lâu, đã trở thành một chủ đề phổ biến trong nhiều nghiên cứu, hội  
nghị và hội thảo chuyên đề. Nó thường xuyên được đề cập đến không chỉ ở các nước  
giàu, các nước phát triển, mà còn ở các nước đang phát triển. Trong quá trình phát  
triển đô thị, người ta luôn mong muốn bảo vệ nó, bảo tồn nó, khôi phục nó, nâng cao  
giá trị của nó và giữ gìn nó cho các thế hệ tương lai.  
Kể từ khi Công ước Di sản Thế giới được thông qua vào năm 1972, các di sản  
văn hóa và di sản thiên nhiên rất được chú trọng. Sự mất mát, suy thoái hoặc biến mất  
của nó tạo thành "sự nghèo nàn về di sản của tất cả các dân tộc trên thế giới."[8, tr.2]. Cũng  
sau Công ước này, cộng đồng quốc tế đã thông qua khái niệm phát triển bền vững và  
khẳng định vai trò quan trọng của việc bảo vệ và bảo tồn di sản văn hóa và thiên nhiên  
đối với việc phát triển bền vững. Những hành động liên quan đến bảo tồn và nâng cao  
giá trị di sản sẽ “góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững." [8, tr.2].  
Rất nhiều thành phố trên thế giới đã lựa chọn các phương pháp phát triển, quy  
hoạch và mở rộng đô thị mà quên mất việc bảo vệ các giá trị của quá khứ, bảo tồn các  
di sản đô thị, đẫn dẫn đến nhiều hậu quả đáng tiếc như mất dần bản sắc, tính đặc  
trưng đô thị, đặc trưng vùng miền, tác động tiêu cực đến kinh tế xã hội, môi trường  
sinh thái, cuộc sống,... Singapore, Hồng Kông là những ví dụ điển hình, các khu đô thị  
được hình thành bằng cách san bằng những gì sẵn có. Những thất bại của các thành  
phố này sẽ trở thành bài học quý giá cho các thành phố khác trong việc định hướng,  
lựa chọn phương thức để phát triển trong tương lai. Một sự phát triển bền vững là phải  
dựa trên những đặc trưng vốn có, phải nhận diện được giá trị, bản sắc, những nét  
riêng làm nền tảng. Yvette VEYRET khuyên "nên tích hợp tính ưu việt của văn hóa và ký  
ức vào các dự án chuyển đổi lãnh thổ. "[9, tr. 200]. Mối lo ngại và thách thức lớn nhất của  
hầu hết các thành phố, đặc biệt là những thành phố có di sản được Unesco công nhận  
là phải giải quyết tốt mâu thuẫn giữa bảo tồn di sản và phát triển đô thị. Bảo tồn và  
nâng cao giá trị di sản luôn phải được chú trọng và quan tâm hàng đầu trong các chiến  
lược phát triển kinh tế và đô thị của họ. Di sản "tạo thành một tiềm năng kinh tế, đặc biệt là  
nhờ vào du lịch, [...] nó góp phần đảm bảo tính liên tục của các giá trị chung của một dân tộc,  
của một vùng lãnh thổ."[10, tr.3] mà nó thiết lập "một chuẩn mực trước những thay đổi của  
xã hội - những thay đổi kinh tế nhanh chóng đang làm thay đổi lối sống và cảnh quan. " [10,  
tr.3]. Và “di sản được nhắc đến như một nguồn lực vừa có tính kế thừa vừa có giá trị chiến  
lược.”[11, tr. 29]. Di sản được coi là công cụ và là nhân tố hữu hiệu của phát triển kinh  
tế, xã hội và môi trường, ba khía cạnh chính của phát triển bền vững. Đối với các thành  
phố chọn phương thức phát triển đô thị dựa trên nền tảng của việc bảo tồn và nâng cao  
giá trị di sản, họ đều có chung tham vọng lớn là khẳng định di sản có thể và phải trở  
thành đòn bẩy cho sự phát triển. Ví dụ, "Ở Tunisia, ngày nay, di sản không còn được coi  
chỉ là mang giá trị văn hóa mà còn là động lực của sự tiến bộ và phát triển." [12, tr.50] hay ở  
thành phố Luang Prabang (Lào) - một thành phố giàu những di tích, vết tích của một  
92  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 1 (2021)  
quá khứ huy hoàng, được Unesco ghi danh vào danh sách di sản thế giới năm 1995, thì  
" di sản là nguồn gốc của sự phát triển kinh tế và văn hóa xã hội và ảnh hưởng của thành phố. "  
[12, tr.18]  
4. KẾT LUẬN  
Để công tác bảo tồn và nâng cao giá trị Quỹ di sản kiến trúc đô thị Huế có  
những hiệu quả tích cực thì trước hết cần phải nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng  
đặc biệt của Quỹ di sản kiến trúc đô thị Huế đối với việc bảo tồn bản sắc đô thị và sự  
phát triển bền vững Huế trong tương lai, xác định rõ những thách thức và khó khăn  
gặp phải trong công tác bảo tồn và nâng cao giá trị di sản, định hướng những giải pháp  
nhằm giải quyết, dung hòa tốt mâu thuẫn giữa hai khía cạnh bảo tồn di sản và phát  
triển đô thị; chú trọng nâng cao nhận thức và kêu gọi sự tham gia tích cực của cộng  
đồng trong công tác bảo tồn và nâng cao giá trị di sản; khai thác, sử dụng nguồn tài  
nguyên di sản hợp lý, tránh phát triển du lịch ồ ạt và đặt biệt là đẩy mạnh công tác  
quản lý di sản.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Phan Thanh Hải (2013), 20 năm bảo tồn và phát huy di sản thế giới Huế, Công cuộc bảo tồn  
di sản thế giới ở Thừa Thiên Huế , HMCC, số 1, tr.113-124.  
đặc thù TP Huế, Kiến trúc Việt Nam, số 7+8, tr.15- 17  
[3]. ICOMOS  
Website:  
Canada  
(1982),  
UNESCO-ICOMOS_DeclarationDeschambault_1982_f_e.pdf,  
ICOMOS_DeclarationDeschambault_1982_f_e.pdf, tr.3  
[4]. Group Conseil du Patrimoine de Montréal (2004) , Énoncé d’orientation pour une politique du  
[5]. CEMAT (2003) , Guide Européen d’observation du patrimoine rural-CEMAT, Website:  
15.  
[6]. Ali ZAMANIFARD (2013), La question du patrimoine urbain dans la ville historique iranienne  
vers une prise en compte de l’évolution d’une société traditionnelle, Contributions au séminaire  
doctoral  
«
Espace, Matières et Société  
»
des ENSA Rhône-Alpes, Website :  
[7]. AUDRERIE Dominique (2003), Questions sur le patrimoine, Bordeaux, ꢀditions Confluences,  
tr. 43  
[8]. UNESCO (2008) , Orientations devant guider la mise en oeuvre de la Convention du patrimoine  
mondial, janvier 2008  
-
fr.pdf#annex1, tr.2  
93  
Bảo tồn và nâng cao giá trị quỹ di sản kiến trúc đô thị Huế  
[9]. VEYRET Yvette (2005), Le développement durable: approches plurielles, Paris, Hatier, tr. 200‑201.  
[10]. ICOMOS (2012), Villes historiques en développement-Des clés pour comprendre et agir  
[11]. Xavier Greffe (2000), Le patrimoine comme ressource pour la ville, Website :  
[12]. AFD  
(2003),  
07-paroles-d-acteurs  
-
Patrimoine  
cuturel  
et  
Développement,  
paroles-d-acteurs.pdf, tr.18-50  
[13]. Hoàng Đạo Kính (2011), Huế đô thị di sản phát triển trong sự tiếp nối, Tạp chí Qui hoạch đô  
thị, số 5.  
[14]. Bùi Thị Hiếu (2014) , Pour un développement respectueux de la ville de Hué et de ses environs.  
Respecter les valeurs caractéristiques des villages traditionnels dans le bassin de la rivière des  
Parfums, Thèse, Architecture, École d'Architecture de Grenoble, France.  
[15]. Quyết định số 25/2015/ QĐ-UBND ngày 24/06/2015 về việc phê duyệt đề án “chính sách hỗ  
trợ bảo vệ và phát huy giá trị nhà vườn Huế đặc trưng”  
[16]. Luật Di sản văn hóa số 28/2001/QH10  
[17]. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật di sản văn hóa số 32/2009/QH12  
94  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 1 (2021)  
PRESERVATION AND PROMOTION OF  
HUE URBAN ARCHITECTURE HERITAGE FUND  
Bui Thi Hieu*, Nguyen Quang Huy  
Faculty of Architecture, University of sciences, Hue University  
ABSTRACT  
Heritage is the basic element that creates the characteristic of the ancient capital,  
which is the essential resource for economic development, especially tourism  
economics. However, conservation and enhancing the value of Hue heritage in  
general and Hue urban architectural heritage fund in particular is facing numerous  
difficulties and challengesdue tothe devastation of natural disasters, the process of  
urbanization, the patterns between heritage conservation and urban development  
... . In this article, through the application of theories of heritage conservation in  
available secondary documents, field survey, analytical method and comparative  
approach ,we have the ambition to bring a more holistic and systematic view on  
issues related to the heritage and apply it to the reality of heritage conservation  
and promotion of Hue.  
Keywords: Conservation, Heritage, Hue, development.  
Bùi Thị Hiếu sinh năm 1981 tại Thừa Thiên Huế. Năm 2004, bà tốt nghiệp  
Kiến trúc sư tại trường Đại học Kiến trúc Hà Nội. Năm 2010, bà tốt nghiệp  
thạc sĩ chuyên ngành Thiết kế đô thị, Di sản và Phát triển bền vững, hợp  
tác giữa trường Đại học Kiến trúc Hà Nội và trường Đại học Kiến trúc  
Toulouse, Pháp. Năm 2014, bà nhận bằng tiến sĩ chuyên ngành Kiến trúc  
tại trường Đại học Kiến trúc Grenoble, Pháp. Hiện nay, bà công tác tại  
khoa Kiến trúc, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế.  
Lĩnh vực nghiên cứu: Kiến trúc nhà ở, Thiết kế đô thị và Phát triển bền  
vững.  
95  
pdf 14 trang yennguyen 11300 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bảo tồn và nâng cao giá trị quỹ di sản kiến trúc đô thị Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_ton_va_nang_cao_gia_tri_quy_di_san_kien_truc_do_thi_hue.pdf