Đánh giá chất lượng đào tạo của khoa Marketing, trường Đại học Tài chính – Marketing kết quả nghiên cứu nhóm sinh viên tốt nghiệp

Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 46, tháng 8/2018  
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CỦA KHOA MARKETING,  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NHÓM SINH VIÊN TỐT NGHIỆP  
TRAINING QUALITY ASSESSMENT OF MARKETING IN MARKETING -  
FINANCE UNIVERSITY: THE RESULTS FROM A SURVEY OF STUDENTS  
GRADUATED FROM THE FACULTY OF MARKETING  
Dư Thị Chung1  
Ngày nhận: 29/3/2018  
Tóm tắt  
Ngày nhận bản sửa: 12/4/2018  
Ngày đăng: 5/8/2018  
Đánh giá chất lượng đào tạo là một trong những hoạt động quan trọng đối với một cơ sở đào tạo  
đại học nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Mục đích chính của nghiên cứu này nhằm  
xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo của khoa Marketing, trường Đại học Tài  
chính – Marketing dựa trên kết quả khảo sát 320 sinh viên tốt nghiệp. Nghiên cứu này sử dụng  
phần mềm SPSS 22.0 để xử lý và phân tích kết quả nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy  
rằng có bảy nhân tố với 25 tiêu chí được xác định và có ý nghĩa tác động đến sự hài lòng về chất  
lượng đào tạo ngành Marketing, trong đó nhân tố Chương trình đào tạo có tác động mạnh nhất.  
Kết quả khảo sát sẽ là cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại Khoa  
Marketing.  
Từ khóa: Đánh giá chất lượng, chất lượng đào tạo, đào tạo đại học.  
Abstract  
Quality assessment of higher education has been playing an important role in the university for  
the sake of improving training quality. The main purpose of this research is to identify the factors  
affecting faculty of Marketing’s training quality assessment, university of Finance and Marketing  
basing on a survey of 320 students graduated from the faculty of Marketing. SPSS version 22.0  
has chosen for processing and analyzing the data. The empirical findings show that seven groups  
of factors – representing for 25 items have expressed their significant effects to perceived  
training quality for the discipline of Marketing, in which the most affected factor is the training  
program. As the result from this work, some solutions proposed to upgrade faculty of  
Marketing’s quality of training.  
Keywords: Quality assessment, training quality, higher education.  
1 Trường Đại học Tài chính – Marketing  
37  
1. Giới thiệu  
Chất lượng đào tạo là một trong những  
nhất tại văn bản hợp nhất số 06/VBHN-  
BGDĐT ngày 04/03/2014 của Bộ giáo dục  
và Đào tạo. Trong những năm gần đây,  
trường Đại học Tài chính – Marketing nói  
chung và khoa Marketing nói riêng cũng  
đã từng bước áp dụng các mô hình đánh  
giá chất lượng đào tạo, điển hình như mô  
hình đánh giá chất lượng AUN (ASEAN  
University Network) và Kiểm định của Bộ  
Giáo dục và Đào tạo. Xuất phát từ thực  
tiễn đào tạo và nhu cầu nâng cao chất  
lượng đào tạo đối với khoa Marketing,  
nghiên cứu này được tiến hành với mục  
đích trọng tâm là đánh giá phản hồi của  
sinh viên tốt nghiệp về chất lượng đào tạo  
của Khoa. Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu:  
(i) Xác định các nhân tố đánh giá chất  
lượng đào tạo của Khoa Marketing, (ii) Đo  
lường mức độ tác động của các nhân tố  
chất lượng đào tạo đến sự hài lòng của  
sinh viên tốt nghiệp và (iii) Nghiên cứu đề  
xuất giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo  
của khoa Marketing.  
vấn đề đáng quan tâm nhất của các cơ sở  
giáo dục và đào tạo, nhất là các cơ sở giáo  
dục đại học. Nhiệm vụ quan trọng của các  
trường đại học, cao đẳng là đào tạo nguồn  
nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội và  
người học. Việc đánh giá chất lượng đào  
tạo là vô cùng cần thiết cho việc đổi mới  
và nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt  
trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập hiện  
nay.  
Trong dịch vụ giáo dục đào tạo thì các  
trường đại học là nhà cung cấp còn người  
học là khách hàng. Elliott & Shin (2002)  
cho rằng các trường đại học cũng thuộc  
ngành dịch vụ mà nhiệm vụ chính là đáp  
ứng nhu cầu và mong đợi của sinh viên.  
Đối với người học, chất lượng đào tạo  
được xem như một trong yếu tố đầu tiên  
tác động đến việc chọn trường đại học  
cũng như sự hài lòng của sinh viên trong  
quá trình học tập và sau khi hoàn thành  
khóa học. Elliott & Shin (2002) cũng đã  
chỉ ra rằng sự hài lòng của sinh viên có tác  
động tích cực đến ý định học tiếp trong  
tương lai của sinh viên và các nỗ lực tuyển  
dụng của nhà trường vì thế các nghiên cứu  
về phản hồi của người học là rất cần thiết.  
Hoạt động đánh giá chất lượng đào tạo là  
một xu hướng tất yếu trên thế giới cũng  
như ở Việt Nam, vì thế ngày 01/11/2007,  
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành  
Quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT liên  
quan đến các tiêu chuẩn đánh giá chất  
lượng giáo dục trường đại học và được bổ  
sung theo thông tư số 37/2012/TT-  
BGDĐT ngày 30/10/2012 và được hợp  
2. Tổng quan nghiên cứu, khung lý  
thuyết và phương pháp nghiên cứu  
2.1 Khái niệm về chất lượng đào tạo  
Chất lượng luôn là vấn đề quan trong  
nhất của tất cả các trường đại học, và việc  
phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo bao  
giờ cũng được xem là nhiệm vụ quan  
trọng nhất của bất kỳ cơ sở đào tạo đại học  
nào. Mặc dù có tầm quan trọng như vậy  
nhưng chất lượng đào tạo vẫn là một khái  
niệm khó định nghĩa, khó xác định, khó đo  
lường, và có nhiều cách hiểu khác nhau  
cũng như rất nhiều tranh luận xung quanh  
vấn đề này đã diễn ra tại các diễn đàn về  
chất lượng đào tạo.  
38  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 46, tháng 8/2018  
Chất lượng đào tạo trong giáo dục đại  
được đánh giá bằng đầu vào, đây chính là  
trình độ của sinh viên được tuyển chọn  
vào trường. Thứ hai, chất lượng giáo dục  
được đánh giá bằng đầu ra hay chính là  
sản phẩm của giáo dục đại học được thể  
hiện bằng mức độ hoàn thành công việc  
của sinh viên tốt nghiệp hay khả năng  
cung cấp các hoạt động đào tạo của trường  
đó. Thứ ba, chất lượng giáo dục được đánh  
giá bằng giá trị gia tăng: “Giá trị gia tăng”  
được xác định bằng giá trị của “đầu ra” trừ  
đi giá trị của “đầu vào”, kết quả thu được  
là “giá trị gia tăng” mà trường đại học đã  
đem lại cho sinh viên và được đánh giá là  
chất lượng giáo dục đại học. Thứ tư, chất  
lượng giáo dục được đánh giá bằng giá trị  
học thuật: chủ yếu dựa vào sự đánh giá  
của các chuyên gia về năng lực học thuật  
của đội ngũ cán bộ giảng dạy trong từng  
trường trong quá trình thẩm định công  
nhận chất lượng đào tạo đại học. Điều này  
có nghĩa là trường đại học nào có đội ngũ  
giáo sư, tiến sĩ đông, có uy tín khoa học  
cao thì được xem là trường có chất lượng  
cao. Thứ năm, chất lượng giáo dục được  
đánh giá bằng văn hóa tổ chức riêng: “Văn  
hoá tổ chức riêng” hỗ trợ cho quá trình  
liên tục cải tiến chất lượng. Vì vậy một  
trường được đánh giá là có chất lượng khi  
nó có được “Văn hoá tổ chức riêng” với  
nét đặc trưng quan trọng là không ngừng  
nâng cao chất lượng đào tạo. Cuối cùng,  
chất lượng giáo dục được đánh giá bằng  
kiểm định: Quan điểm này xem trọng quá  
trình bên trong trường đại học và nguồn  
thông tin cung cấp cho việc ra quyết định.  
Nếu kiểm toán tài chính xem xét các tổ  
chức có duy trì chế độ sổ sách tài chính  
hợp lý không, thì kiểm định chất lượng  
học theo định nghĩa của Harvey & Green  
(1993) được thể hiện ở năm khía cạnh: sự  
xuất sắc, sự hoàn hảo, sự phù hợp với mục  
tiêu, sự đáng giá với chi phí bỏ ra, và sự  
chuyển đổi về chất. Trong khi đó, tổ chức  
quốc tế về đảm bảo chất lượng giáo dục  
đại học (INQAHE) đưa ra một định nghĩa  
khác về chất lượng đào tạo, cụ thể: Chất  
lượng đào tạo đại học (hay giáo dục đại  
học) là tuân theo các chuẩn quy định, hoặc  
nếu chưa có bộ tiêu chí chuẩn quy định về  
chất lượng thì tổ chức giáo dục phải “đạt  
được mục tiêu đề ra”. Những chuẩn quy  
định hay mục tiêu đề ra được xây dựng bởi  
cơ quan quản lý giáo dục dựa trên các điều  
kiện kinh tế, xã hội đặc thù của địa  
phương. Chất lượng đào tạo cũng có thể  
hiểu là đạt được mục tiêu và đáp ứng  
mong đợi của các bên liên quan (Lê Thị  
Linh Giang, 2014). Bộ Giáo dục và Đào  
tạo (2007) đã ban hành bộ tiêu chuẩn đánh  
giá chất lượng đào tạo ở trường đại học  
với tên gọi “Quy định về tiêu chuẩn đánh  
giá chất lượng giáo dục trường đại học”.  
Trong đó, chất lượng giáo dục đại học  
được định nghĩa cụ thể như sau: “Chất  
lượng giáo dục ở trường đại học là sự đáp  
ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm  
bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục đại  
học của Luật Giáo dục, phù hợp với yêu  
cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát  
triển kinh tế – xã hội của địa phương và cả  
nước”.  
Cục Khảo thí và kiểm định chất lượng  
giáo dục tại Việt Nam đã đúc kết sáu quan  
điểm về chất lượng trong giáo dục đại học  
như sau: Thứ nhất, chất lượng giáo dục  
39  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 46, tháng 8/2018  
quan tâm xem các trường đại học có thu  
Hướng thứ hai, các nhà nghiên cứu đánh  
giá mối quan hệ giữa chất lượng đào tạo  
với các yếu tố khác ví dụ chất lượng đào  
tạo và sự hài lòng của học viên (Diamantis  
và Benos, 2007; Bùi Ngọc Ánh và Đào  
Thị Hồng Vân, 2013; Nguyễn Thị Bảo  
Châu và Thái Thị Bích Châu, 2013; Phan  
Thị Thanh Hằng, 2014; Trần Xuân Kiên,  
2006) hay chất lương đào tạo và cảm nhận  
về chất lượng đào tạo (Clemenz, 2001;  
Huỳnh Trường Huy và Nguyễn Nhật  
Khiêm, 2012). Diamantis và Benos (2007)  
đã nghiên cứu về sự hài lòng của sinh viên  
Khoa Quốc tế và Châu Âu. Kết quả nghiên  
cứu cho thấy sự hài lòng của sinh viên bị  
ảnh hưởng bởi cả 4 yếu tố: chương trình  
đào tạo, yếu tố hữu hình, hỗ trợ hành  
chính và hình ảnh của Khoa. Clemenz  
(2001) với đề tài “Đo lường cảm nhận về  
chất lượng dịch vụ trong đào tạo các  
nghiệp vụ khách sạn”, sử dụng mô hình  
SERQUAL. Kết quả nghiên cứu cho thấy  
được 9 nhóm nhân tố ảnh hưởng đế chất  
lượng đào tạo ngành du lịch, bao gồm:  
môi trường đào tạo, tổ chức đào tạo, sự  
đồng cảm, tính thực tế, sự tương tác, tính  
hữu hình, trách nhiệm, sự tin cậy và sự  
thoải mái. Nghiên cứu của Bùi Ngọc Ánh  
và Đào Thị Hồng Vân (2013) cho thấy  
thành phần chất lượng đào tạo tác động  
đến sự hài lòng của sinh viên, theo thứ tự  
từ cao xuống thấp, đó là: Chương trình  
đào tạo, cơ sở vật chất, năng lực phục vụ  
và nhân tố giảng viên.  
thập đủ thông tin phù hợp và những người  
ra quyết định có đủ thông tin cần thiết hay  
không, quá trình thực hiện các quyết định  
về chất lượng có hợp lý và hiệu quả  
không.  
Dựa trên những khái niệm khác nhau  
về chất lượng đào tạo ở Việt Nam cũng  
như trên thế giới, có thể nhận thấy rằng  
đánh giá chất lượng đào tạo là hoạt động  
nhằm xác định lại việc thực hiện đào tạo  
có đáp ứng được mục tiêu đào tạo do cơ sở  
đào tạo đề ra hay không. Một trong các  
mục tiêu quan trọng của cơ sở giáo dục đại  
học là đáp ứng được nhu cầu và mọng đợi  
của người học về chất lượng đào tạo, vì  
thế nghiên cứu về phản hồi, đánh giá của  
người học là một hoạt động cần thiết của  
cơ sở đào tạo đại học. Khoa Marketing,  
trường Đại học Tài chính – Marketing là  
một trong những khoa đang tham gia vào  
đánh giá chương trình đào tạo theo tiêu  
chuẩn mạng lưới các trường đại học Đông  
Nam Á (AUN-QA), vì thế nghiên cứu về  
phản hồi của sinh viên tốt nghiệp về chất  
lượng đào tạo là một vấn đề cần thiết. Kết  
quả nghiên cứu vừa là minh chứng cho  
công tác kiểm định và là cơ sở để khoa  
Marketing có thể nâng cao chất lượng đào  
tạo trong thời gian tới.  
2.2 Một số nghiên cứu về chất lượng  
đào tạo  
Các nghiên cứu liên quan đến chất  
lượng đào tạo tập trung vào các nhóm, thứ  
nhất là các nghiên cứu nhằm khái niệm  
hóa và xây dựng các tiêu chí đánh giá chất  
lượng đào tạo (Lê Thị Linh Giang, 2014;  
Phạm Lê Hồng Nhung và cộng sự, 2012).  
Nguyễn Thị Bảo Châu và Thái Thị  
Bích Châu (2013) thực hiện đề tài “Đánh  
giá mức độ hài lòng của sinh viên khối  
ngành Kinh tế đối với chất lượng đào tạo  
40  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 46, tháng 8/2018  
của Khoa Kinh tế & Quản trị Kinh doanh,  
ngũ giảng viên, (iv) khả năng thực hiện  
cam kết, và (v) sự quan tâm của nhà  
trường. Tác giả đã sử dụng phương pháp  
phân tích nhân tố để sàng lọc và nhóm các  
nhân tố có tác động đến sự hài lòng về  
chất lượng đào tạo. Kết quả phân tích cho  
thấy rằng thành phần nhân tố về sự nhiệt  
tình của giảng viên đóng vai trò quan  
trọng nhất dẫn đến sự hài lòng của sinh  
viên.  
Trường Đại học Cần Thơ”. Kết quả nghiên  
cứu đã chỉ ra 2 nhóm có ảnh hưởng đến sự  
hài lòng của sinh viên, đó là: tác phong,  
năng lực của giảng viên và cơ sở vật chất  
trong đó, sự ảnh hưởng của nhóm tác  
phong, năng lực của giảng viên có ảnh  
hưởng mạnh hơn.  
Phan Thị Thanh Hằng (2014) với đề  
tài “Sự hài lòng của học sinh – sinh viên  
về chất lượng chương trình đào tạo tại  
trường Cao đẳng kinh tế đối ngoại” được  
thực hiện trên cơ sở mô hình chất lượng  
dịch vụ của Parasuraman & ctg (1998) và  
mô hình sự hài lòng của sinh viên theo  
Diamantis và Benos (2007). Kết quả đề tài  
cho thấy sự hài lòng của sinh viên về chất  
lượng chương trình đào tạo tại bị tác động  
nhiều nhất bởi nhóm giảng viên và chương  
trình đào tạo hơn là nhóm yếu tố cơ sở vật  
chất và các hoạt động hỗ trợ.  
Qua quá trình nghiên cứu tài liệu, tổng  
hợp và đánh giá các đề tài nghiên cứu liên  
quan, nhóm nghiên cứu nhận xét thấy mặc  
dù có nhiều đề tài khác nhau sử dụng các  
nhóm nhân tố khác nhau nhưng hầu hết  
các thang đo chất lượng đào tạo đều có  
chung đặc điểm, đó là các nhân tố đều  
xoay quanh hoặc thể hiện được 5 nhân tố  
của thang đo chất lượng dịch vụ của  
Parasuraman và cộng sự (1988), bao gồm:  
hữu hình, đáp ứng, đảm bảo, tin cậy và  
đồng cảm. Các nhân tố này được điều  
chỉnh và đặt tên lại trong các nghiên cứu  
về chất lượng đào tạo, cũng như bổ sung  
thêm các nhân tố khác dựa trên các nghiên  
cứu trước đây. Từ cơ sở này, mô hình  
nghiên cứu được đề xuất như sau bao gồm  
bảy nhân tố: Cơ sở vật chất, Sự đồng cảm,  
Sự tin cậy, Sự bảo đảm, Chương trình đào  
tạo, Kết quả mong đợi và nhân tố Giảng  
viên.  
Trong nghiên cứu về đánh giá sự hài  
lòng của sinh viên về chất lượng đào tạo  
tại trường đại học kinh tế và quản trị kinh  
doanh, Đại học Thái Nguyên, Trần Xuân  
Kiên (2006) đã khảo sát 260 sinh viên tại  
trường và sử dụng công cụ thang đo  
SERVQUAL, kết quả biến thể qua năm  
thành phần: (i) cơ sở vật chất, (ii) sự nhiệt  
tình của giảng viên, (iii) trình độ của đội  
41  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 46, tháng 8/2018  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
Cơ sở vật chất  
H1(+)  
Sự đồng cảm  
Sự tin cậy  
H2(+)  
H3(+)  
Sự hài lòng về  
chất lượng đào tạo của  
Khoa Marketing  
H4(+)  
Sự đảm bảo  
H5(+)  
H6(+)  
Chương trình đào tạo  
Kết quả mong đợi  
Giảng viên  
H7(+)  
2.3 Khung lý thuyết và phương pháp  
nghiên cứu  
SERVQUAL gồm năm thành phần chính –  
tin cậy, đáp ứng, đảm bảo, đồng cảm, và  
phương tiện hữu hình. Một biến thể của  
SERVQUAL chính là công cụ đo lường  
chất lượng dịch vụ dựa trên cảm nhận của  
khách hàng SERVPERF được đề xuất bởi  
Cronin và Taylor (1992). Mô hình này  
cũng dựa trên năm thành phần chính của  
công cụ (Parasuraman và cộng sự, 1988).  
Tuy nhiên, điểm khác biệt giữa hai công  
cụ đó là cách thức đo lường. Parasuman và  
cộng sự (1988) đo lường chất lượng dịch  
Xây dựng thang đo  
Chất lượng dịch vụ nói chung và chất  
lượng đào tạo (giáo dục) nói riêng từ lâu  
đã trở thành chủ đề được nhiều nhà nghiên  
cứu quan tâm và đánh giá với nhiều  
phương pháp khác nhau. Điển hình nhất  
trong số đó là mô hình chất lượng dịch vụ  
do Parasuraman và cộng sự (1988) đề  
xuất, thường được biết đến với công cụ  
42  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 46, tháng 8/2018  
vụ dựa vào sự khác biệt giữa cảm nhận và  
Nghiên cứu sơ bộ: Sử dụng phương  
pháp nghiên cứu định tính với kỹ thuật  
thảo luận nhóm bao gồm 8 sinh viên tốt  
nghiệp từ hai chuyên ngành Quản trị  
marketing và Quản trị thương hiệu. Giai  
đoạn nghiên cứu này nhằm điều chỉnh và  
bổ sung biến quan sát cho thang đo chất  
lượng đào tạo theo quan điểm của cựu  
sinh viên.  
kỳ vọng, trong khi đó Cronin và Taylor  
(1992) đo lường chỉ dựa vào cảm nhận của  
đối tượng tham gia đánh giá. Cho đến nay,  
cả hai phương pháp trên có thể được sử  
dụng đồng thời và chưa có bằng chứng  
nào cho thấy phương pháp thứ nhất tối ưu  
hơn phương pháp thứ hai. Tuy nhiên,  
trong thực tế người tham gia đánh giá  
thường gặp khó khi phân biệt giữa cảm  
nhận và kỳ vọng. Điều này dẫn đến sự  
khác biệt giữa hai tiêu chí này dường như  
không đáng kể. Trong trường hợp như thế,  
công cụ SERVPERF có vẻ phù hợp hơn  
do đặc điểm đơn giản của nó. Vì vậy, công  
cụ SERVPERF sẽ được chọn và kế thừa  
các nghiên cứu trước về chất lượng đào  
tạo để tiến hành đánh giá chất lượng đào  
tạo đối với ngành Marketing. Thang đo sơ  
bộ sẽ được đưa vào thảo luận nhóm với  
các sinh viên tốt nghiệp để điều chỉnh các  
thang đo, làm cơ sở thiết kế bảng câu hỏi.  
Trong bảng câu hỏi, các thành phần thang  
đo thể hiện qua các phát biểu được hỏi với  
thang Likert với năm mức độ tương ứng 1:  
Rất không đồng ý đến 5: Rất đồng ý.  
Thang đo Sự hài lòng của sinh viên về  
chất lượng đào tạo được kế thừa từ nghiên  
cứu của Phan Thị Thanh Hằng (2014) gồm  
3 biến quan sát và sử dụng thang đo Likert  
(5 mức độ) để đặt câu hỏi.  
Nghiên cứu chính thức: Sử dụng  
phương pháp nghiên cứu định lượng với  
qui mô mẫu là 320, mẫu được chọn theo  
phương pháp thuận tiện, kỹ thuật thu thập  
dữ liệu thông qua bảng câu hỏi bằng cách  
phát bảng hỏi trực tiếp. Thời gian tiến  
hành khảo sát từ ngày 14/07 đến  
21/07/2017 trong đợt sinh viên tập trung  
nhận bằng tốt nghiệp tại trường. Dữ liệu  
sau khi thu thập được nhập liệu, làm sạch  
và phân tích độ tin cậy của thang đo bằng  
phương pháp xác định hệ số Cronbach’s  
Alpha và phân tích nhân tố khám phá  
EFA. Phân tích tương quan và hồi quy đa  
biến được sử dụng nhằm kiểm định các giả  
thuyết nghiên cứu và đánh giá mức độ tác  
động của các nhân tố độc lập đến biến phụ  
thuộc. Tiêu chuẩn chọn hệ số Cronbach’s  
Alpha lớn hơn hoặc bằng 0.6 (Slater,  
1995), hệ số tương quan biến tổng phải đạt  
trên 0.3 (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị  
Mai Trang, 2011). Phân tích nhân tố khám  
phá (EFA) phải thỏa điều kiện hệ số  
KMO: 0.5 ≤ KMO ≤ 1, với mức ý nghĩa  
kiểm định Barlett ≤ 0.05. Phương pháp  
trích nhân tố sử dụng là Principal  
Component và phép xoay là Varimax. Số  
lượng nhân tố sẽ nhận tại điểm dừng Eigen  
–value tối thiểu bằng 1, yêu cầu về tổng  
Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu đánh  
giá của sinh viên tốt nghiệp về chất  
lượng đào tạo của khoa Marketing  
(ngành Marketing), trường Đại học Tài  
chính – Marketing được thực hiện thông  
qua hai giai đoạn:  
43  
pdf 7 trang yennguyen 20540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá chất lượng đào tạo của khoa Marketing, trường Đại học Tài chính – Marketing kết quả nghiên cứu nhóm sinh viên tốt nghiệp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_chat_luong_dao_tao_cua_khoa_marketing_truong_dai_ho.pdf