Báo cáo tóm tắt Đề tài Dạy-học các môn Lý thuyết tiếng trong chương trình Cử nhân tiếng Anh ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Bꢀ GIAO DꢁC VA BAO T�O  
BAI HOC BA NANG  
BAO cAoT6M TAT ꢇE TAI  
KHOA HQC VA CONG NG� CAP Bꢂ  
TEN ꢇE TAI:  
o�Y-HQC cAc MON LY THUYET TIENG TRONG  
cmtꢃG TRINH cu NHAN TIENG ANH VJ¥T NAM:  
o
THt/C T�NG VA GlAI PHAP  
Ma s6: B2018  
0
ꢀ. l�AfꢀꢁC. Ch. I-� dꢀ  
1
ta  
"
ac D ꢄꢅ  
X' h�  
•
e
tꢂꢃ  
m
9
�
, h  
D u  
(ꢁ  
U
t&  
o
m
ꢆ
AN  
l
"
o
ꢁ
ꢀ
�
cv,-h9 ten, ꢀng dau)  
V
.
C
�
y�  
PGS.TS Phan Vꢊn Hoa  
ꢀ
A
'
S. NꢀyenꢀHꢇꢀꢈꢉR ꢊng, 2019  
MỤC LỤC  
PHẦN 1. MỞ ĐẦU .............................................................................1  
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI.................................................1  
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI ..................................1  
3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU....................................1  
4. CÁCH TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU................2  
PHẦN 2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ..............................................3  
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGHIÊN  
CỨU THỰC TRẠNG VÀ VỀ HƯỚNG ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG  
GIẢI PHÁP CHO VIỆC DẠY- HỌC CÁC MÔN LÝ THUYẾT  
TIẾNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH CỬ NHÂN TIẾNG ANH.....3  
1.1.Sự thay đổi nhanh chóng trong lý thuyết NNH và vị thế của  
tiếng Anh trên thế giới................................................................3  
1.2. Vị thế và ảnh hưởng của tiếng Anh ở Việt Nam.................4  
1.3. Một số vấn đề lý luận ..........................................................5  
1.4. Mối quan hệ giữa lý thuyết và thực hành............................7  
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VỀ DẠY – HỌC CÁC MÔN LÝ  
THUYẾT TIẾNG NGÀNH CỬ NHÂN TIẾNG ANH....................9  
2.1. Thực trạng về vai trò, vị trí các môn LTTA........................9  
2.2. Thực trạng về dạy - học các môn lý thuyết tiếng ................9  
2.3. Tiểu kết chương 2..............................................................11  
CHƯƠNG 3. ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG GIẢI PHÁP DẠY- HỌC  
CÁC MÔN LTT TRONG CHƯƠNG TRÌNH CNTA Ở VIỆT NAM  
11  
3.1. Đề xuất tiếp tục dạy-học, phát triển các môn LTTA.........11  
3.2. Đề xuất về vai trò, vị trí các môn LTTA...........................13  
3.3. Đề xuất đổi mới giáo trình, nội dung các môn LTTA.......22  
3.4. Đề xuất xây dựng nguồn tài liệu LTTA ............................23  
3.5. Đề xuất xây dựng và phát triển đội ngũ GV và NCKH.....23  
PHẦN 3. KẾT LUẬN.......................................................................24  
1
PHẦN 1. MỞ ĐẦU  
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI  
Trong chương trình cử nhân tiếng Anh (CNTA), hệ thống các  
môn lý thuyết tiếng Anh (LTTA) hiện chiếm tỉ lệ khá lớn, được giảng  
dạy nhằm giúp sinh viên nắm bắt về lý thuyết ngôn ngữ học. Tuy nhiên,  
khảo sát cho thấy mục tiêu đề ra không như mong muốn: sinh viên học  
lý thuyết ngôn ngữ là để đối phó,ứng dụng thấp. Tính kết nối giữa lý  
thuyết, kiến thức ngôn ngữ học và thực hành giao tiếp vẫn còn khoảng  
cách lớn. Nếu không nghiên cứu và đưa các hệ thống giải pháp đồng bộ  
sẽ có nguy cơ là tiêu tốn khá lớn kinh phí, thời gian, và công sức của  
giảng viên (GV) và sinh viên nhưng không đạt hiệu quả và mục tiêu  
mong muốn. Vì vậy, công trình nghiên cứu này nhằm đưa ra các minh  
chứng về thực trạng, xây dựng và đề xuất hệ thống giải pháp góp phần  
đổi mới chương trình, giáo trình, cách học, cách dạy, xây dựng nguồn  
nhân lực để từng bước nâng cao chất lượng dạy – học và tạo điều kiện  
phát triển lâu dài, bền vững cho các môn LTTA.  
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI  
Mục tiêu của Đề tài là:  
- 1. Đánh giá và cung cấp thông tin khoa học về thực trạng dạy – học  
các môn LTTA, chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế hiện nay.  
- 2. Xây dựng xu hướng thực hành hóa trong dạy- học các bộ môn này  
- 3. Củng cố và nâng cao vai trò của các bộ môn LTTA.  
- 4. Xây dựng hệ thống giải pháp thích hợp nhất đối với các môn LTTA  
- 5. Xác định và thiết lập các mối quan hệ giữa các bộ môn trong nội bộ  
LTTA và với các bộ môn khác  
3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU  
3.1. Đối tượng nghiên cứu và đối tượng khảo sát  
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu  
(1) Dạy và học các môn LTTA, trong đó (1a) nghiên cứu thực trạng của  
quá trình dạy – học các môn LTTA ở các cơ sở đào tạo có mã ngành  
CNTA; (1b) Nghiên cứu cấu trúc chương trình, nội dung, giáo trình và  
tài liệu giảng dạy các môn LTTA;(1c) Nghiên cứu về đội ngũ GV đảm  
nhận các môn LTTA.  
(2). Đề tài nghiên cứu về vai trò của các môn LTTA trong bản thân cả  
hệ thống chương trình đào tạo ngành CNTA.  
2
(3). Đề tài nghiên cứu về sự tác động của các môn LTTA đối với toàn  
bộ quá trình dạy – học tiếng Anh, nhất là đối với nghiên cứu khoa học  
(NCKH) và năng lực phân tích, cảm thụ văn bản tiếng Anh nói riêng và  
văn bản nói chung.  
3.1.2. Đối tượng khảo sát  
Đề tài khảo sát các nhóm đối tượng là, Giảng viên, Sinh viên ngành  
tiếng Anh, Học viên cao học ngành ngôn ngữ Anh và phương pháp  
giảng dạy tiếng Anh, Các nhà Lãnh đạo và Quản lý, Các chuyên gia  
giảng dạy, nghiên cứu ngôn ngữ nói chung, ngôn ngữ Anh nói riêng,  
Cựu sinh viên, học viên, đã tốt nghiệp và đang làm việc tại các trường,  
các doanh nghiệp…  
3.2. Phạm vi nghiên cứu  
Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu đã được làm rõ ở phân trên, Đề tài  
xác định phạm vi nghiên cứu: (1) về thực trạng, tình hình giảng dạy:  
Đề tài sẽ nghiên cứu, khảo sát một số chương trình đào tạo CNTA ở  
một số trường Đại học, (2) về nội dung cốt lõi của những khuynh  
hướng ngôn ngữ học đã tác động vào nội dung, chương trình của các  
môn LTTA hiện nay ở các cơ sở đào tạo, về về phương pháp dạy - học  
các môn LTTA và đội ngũ đang được phân công giảng dạy các môn  
này. (3) về đề xuất các giải pháp: Đề tài sẽ đề xuất các giải pháp khắc  
phục ngay những điểm yếu đã phát hiện, chọn lọc nội dung cốt lõi cho  
từng môn LTTA, xây dựng nguồn nhân lực, điều chỉnh, đổi mới  
phương pháp dạy- học gắn với NCKH và thực hành ngôn ngữ  
4. CÁCH TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
4.1. Cách tiếp cận  
Đề tài có những hướng tiếp cận mang tính chiến lược từ phạm vi  
quốc tế và trong nước:  
+ Khảo sát chương trình đào tạo ngành CNTA ở một số trường  
đại học trên thế giới và ở Việt Nam  
+ Phân tích từng lĩnh vực cụ thể và phân tích mối tương quan của  
từng lĩnh vực của các môn LTTA như nội dung, thời lượng, cách tiến  
hành dạy- học…  
+ Tổng hợp để đánh giá thực trạng nhằm nêu lên bức tranh rõ nét  
về thực trạng dạy- và học các môn LTTA  
3
4.2. Phương pháp nghiên cứu  
Đề tài sẽ sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu thích  
hợp như sau:  
Phương pháp mô tả kết hợp phương pháp định tính và phương  
pháp định lượng:Đề tài sử dụng các kỹ thuật: Điều tra, khảo sát,  
phỏng vấn, quan sát thực tế, tổng hợp và phân tích. Cụ thể, Đề tài sử  
dụng phương pháp so sánh, đối chiếu và phương pháp phân tích và tổng  
hợp; ngoài ra dạy thử nghiệm để đề tài minh họa rút ra những kinh  
nghiêm lớn. Đề tài xử lý trên 1680 mẫu khảo sát sinh viên, 280 mẫu  
khảo sát giảng viên và 37 mẫu khảo sát những nhà Lãnh đạo & quản lý.  
Hơn 20 cuộc phỏng vấn ngắn, trao đổi với các chuyên gia về lĩnh vực  
LTTA,trao đổi với cựu sinh viên, học viên từ các cơ sở giáo dục.  
PHẦN 2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU  
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGHIÊN  
CỨU THỰC TRẠNG VÀ VỀ HƯỚNG ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG  
GIẢI PHÁP CHO VIỆC DẠY- HỌC CÁC MÔN LÝ THUYẾT  
TIẾNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH CỬ NHÂN TIẾNG ANH  
Trong phần này Đề tài sẽ bàn đến Cơ sở lý luận và thực tiễn về  
nghiên cứu thực trạng (chương 2) và đề xuất giải pháp cho việc dạy-  
học (Chương 3) các môn LTTA trong chương trình CNTA  
1.1.Sự thay đổi nhanh chóng trong lý thuyết NNH và vị thế của tiếng Anh  
trên thế giới  
Ngôn ngữ học phát triển nhanh khi khám phá được các chức  
năng của ngôn ngữ không chỉ chức năng giao tiếp mà còn có những  
chức năng khác như chức năng tư duy, chức năng thẩm mỹ, chức năng  
lưu giữ và truyền bá kinh nghiệm. Tiếng Anh nằm ở top đầu trong danh  
sách khoảng 6,900 ngôn ngữ đang sử dụng hiện nay trên thế giới. Theo  
Anderson (2010), tính đến 2009 trên thế giới đã có khoảng 6,909 ngôn  
ngữ, và cùng năm này kinh thánh đã được dịch ra 2,508 ngôn ngữ.  
Theo danh sách 12 ngôn ngữ phổ biến, tiếng Anh dù đứng sau tiếng  
Trung quốc nhưng vẫn là ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi nhất thế giới.  
4
Languages/  
Các ngôn ngữ  
Of first Language Of Second Language  
Total/ tổng  
số người sử  
dụng  
Speakers/ Được  
sử dụng như tiếng dụng như ngôn ngữ  
mẹ đẻ thứ hai  
873 triệu người 178 (17%: người sự 1,051 (tổng  
Speakers/ Được sử  
Chinese  
(Mandarin/ Tiếng  
Trung madarin  
dụng như ngôn ngữ  
thứ 2)  
(83%: người TQ  
sử dụng)  
số người sử  
dụng)  
340 (25-40%)  
370 ( 76%)  
360 (86%)  
167 (60%)  
206 ( 90%)  
500-1,000(60-75%) 840 – 1,340  
English  
Hindi  
Spanish  
Rusian  
120 (24%)  
60 (14%)  
110 (40%)  
24 ( 10%)  
490  
420  
277  
230  
Arabic (Standard/  
Chuẩn)  
203 (95%)  
207 (98%)  
23(14%)  
126 ( 99%)  
95 (77%)  
65 (57%)  
10 (5%)  
4 (%)  
140 (86%)  
1 (1%)  
28 (23%)  
50 (43%)  
213  
211  
163  
127  
123  
115  
Portuguese  
Bengali  
Indonesian  
Japanese  
German  
French  
1.2. Vị thế và ảnh hưởng của tiếng Anh ở Việt Nam  
Theo Phan Văn Hòa và Phan Hoàng Long ( 2014), trên phạm vi  
toàn cầu và đặc biệt ở Việt Nam hiện nay tiếng Anh có một vị thế vô  
cùng quan trọng bởi do từ tác động của toàn cầu hoá và do những bước  
đi nhảy vọt của cuộc cách mạng công nghệ thông tin. Trước tình hình này,  
tiếng Anh trở thành ngôn ngữ chủ chốt trong giao tiếp và kinh doanh  
quốc tế; thậm chí trở thành vừa là động lực vừa là công cụ đối với phát  
triển kinh tế- xã hội của một nước.  
1.2.1.Tiếng Anh giúp nâng cao khả năng tìm việc làm và nâng cao thu  
nhập của nguồn nhân lực: Theo báo cáo “The Globalization of English”  
(2010), khảo sát 26.000 nhân viên các công ty quốc tế cho thấy 55% trong  
số đó phải sử dụng tiếng Anh hằng ngày. Tiếng Anh cũng trở thành tiêu  
chí việc làm và thăng tiến chức vụ của hầu hết các công ty , tổ chức.  
1.2.2. Các nước xuất khẩu đều cần tiếng Anh: Toàn cầu hóa tạo sức  
ép rất rõ về nguồn nhân lực phải biết và đủ trình đủ xử dụng tiếng Anh,  
nhất là đối với các nước xuất khẩu.  
5
1.2.3. Tiếng Anh thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Báo cáo của Education  
First chi cho thấy có sự tương quan cùng chiều giữa thu nhập quốc gia  
trên bình quân đầu người và trình độ tiếng Anh của một nước. Có hai lý  
do ở đây: Tiếng Anh góp phần thu hút đầu tư, và tiếng Anh giúp tăng chất  
lượng nguồn nhân lực kinh tế.  
1.2.4. Tiếng Anh nâng cao trình độ khoa học: Chính vì vị thế và tầm  
ảnh hưởng của tiếng Anh đối với sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam là  
rất lớn nhưng thực tế trình độ tiếng Anh nói chung của Việt Nam là còn  
thấp. Chính phủ Việt Nam đã có cái nhìn chiến lược đúng đắn về vai trò  
của tiếng Anh và đã có những bước đi nhằm nâng cao mặt bằng chung  
trình độ tiếng Anh của Việt Nam.  
1.3. Một số vấn đề lý luận  
1.3.1. Các khái niệm cần yếu trong nghiên cứu ngôn ngữ  
Khái niệm ngôn ngữ: Khái niệm ngôn ngữ là một khái niệm luôn  
được mở rộng. Theo Yule (2010), khó có một định nghĩa bao  
quát.Saussure (1916) giải thích:“ Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu  
biểu hiện những ý niệm…” và “ đó là một hệ thống tín hiệu trong đó  
điều cốt yếu duy nhất là sự kết hợp giữa ý nghĩa với hình tượng âm, và  
trong đó hai bộ phận của tín hiệu đều có tính chất tâm lý như  
nhau.”.Halliday (2014) quan niệm tiếp cận ngôn ngữ (i) là văn bản và  
là hệ thống, (ii) là âm thanh, chữ viết và hành ngôn, ( iii) là cấu trúc –  
dạng thức của các bộ phận, và (iv) là nguồn lực – những sự chọn lựa  
giữa những khác biệt. Smith (2017) viết: “ngôn ngữ là một hiện tượng  
sinh lý và tâm lý… Ngôn ngữ hình thành trong mỗi con người ngay từ  
giai đoạn đầu đời và được thẩm thấu sâu trong hành vi của con người”.  
Khái niệm ngôn ngữ học: Gerald (2002) cho rằng Ngôn ngữ học  
là một ngành khoa học về ngôn ngữ, là một khoa học xã hội vì mối  
quan tâm chủ yếu là nghiên cứu ngôn ngữ như một hệ thống hành vi  
con người.  
Khái niệm ngôn ngữ học ứng dụng: Ngôn ngữ học ứng dụng là  
một khoa học lấy ứng dụng kiến thức về ngôn ngữ học và các nguyên  
lý của ngôn ngữ làm nền tảng ứng dụng vào những nhu cầu cần thiết  
của con người.  
6
Hình 1:NNH ứng dụng liên quan đến nhiều lĩnh vực,(Eliasson,2013)  
Khái niệm thụ đắc ngôn ngữ: Theo hầu hết kết quả nghiên cứu, sự  
phát triển ngôn ngữ trong trí tuệ mỗi con người xảy ra đều khắp các  
mặt ở độ 18 tháng tuổi. Tuy nhiên, có một giai đoạn mà ta gọi là giai  
đoạn chuẩn bị gồm giai đoạn phát âm u ơ, đối đến giai đoạn phát âm  
bập bẹ ( khoảng 6 tháng tuổi); giai đoạn u ơ và giai đoạn bập bẹ là  
giai đoạn chuẩn bị cho trẻ phát âm. Giai đoạn các hệ thống nhận âm  
và phát âm như thế này gọi là giai đoạn tiền ngôn ngữ ( học). Giai  
đoạn lĩnh hội được tiếp tục khi trẻ bắt đầu phát âm được các âm tiết,  
và một từ ở giai đoạn khoảng tháng thứ 10. Đến 14-18 tháng, trẻ phát  
âm được hai từ, và giai đoạn này bùng nỗ là trẻ phát âm được 2-3 từ.  
7
Khái niệm kiến thức ngôn ngữ: Theo Victoria (2011) kiến thức ngôn  
ngữ là sự hiểu biết về các lĩnh vực tạo ra ngôn ngữ như kiến thức về  
hệ thống âm thanh.  
1.3.2. Các khái niệm gắn với môn lý thuyết tiếng Anh  
Hiện nay hầu hết chương trình đào tạo ngành CNTA thường có các  
môn LTTA sau: Ngữ Âm học (Phonetics, Âm vị học (Phonology), Cú  
pháp học (Syntactics), Ngữ nghĩa học (Semantics),Ngữ dụng học  
(Pragmatics),Hình thái học (Morphology),Từ vựng học  
(Lexicology),Phong cách học (Stylistics), Ngôn ngữ học đối chiếu  
(Contrastive Linguistics),Ngữ pháp chức năng (Functional Grammar,  
Ngôn ngữ học tri nhận (Cognitive linguistics), Phân tích diễn ngôn,  
(Discourse Analysis), Ngôn ngữ xã hội học (Sociolinguistics).  
1.4. Mối quan hệ giữa lý thuyết và thực hành  
Trong mối quan hệ giữa lý thuyết và thực hành, David Nunan (2003)  
đưa ra ba phần (1) Khám phá kỹ năng ( ngôn ngữ), (2) Khám phá ngôn  
ngữ, và (3) Hỗ trợ quá trình học ngôn ngữ, hàm ý lý thuyết đi trước  
thực hành. Krashen (2009) nói đến 4 mối quan hệ giữa (1) Lý thuyết về  
thụ đắc ngôn ngữ thứ hai, (2) Những nghiên cứu của ngôn ngữ học ứng  
dụng, (3) Những tư tưởng, ý tưởng và cảm nhận của những người là  
công tác giảng dạy ngoại ngữ đã kinh qua kinh nghiệm, thực hành, và  
(4) Thực hành dạy ngôn ngữ. Như vậy, trong giảng dạy LTTA không  
thể không gắn với thực hành ngôn ngữ.Krashen (1982, 2009) đã nói đến  
4 mối quan hệ giữa các yếu tố để có thể tạo ta hiệu quả trong hỗ trợ quá  
trình dạy- học ngoại ngữ như hình sau:  
Hình 2:Mối quan hệ có thể tạo ta hiệu quả giảng dạy ngoại ngữ,  
Krashen ( 2009)  
1.4.1. Sự phân biệt giữa thụ đắc và học ngôn ngữ: Các nhà lý luận  
ngôn ngữ học và phương pháp dạy- học ngoại ngữ cho rằng cần phân  
8
biệt giữa thụ đắc và học ngôn ngữ. Theo đó, người lớn có hai cách khác  
biệt và độc lập để phát triển năng lực đối với ngoại ngữ. Cách thứ nhất  
là thụ đắc ngôn ngữ, tương tự như cách trẻ em học tiếng mẹ đẻ. Cách  
thứ hai là người lớn phát triển năng lực này qua cách học một ngôn  
ngữ. Hai cách này khác nhau ở chỗ cách thứ nhất thụ đắc ngôn ngữ một  
cách tự nhiên, ít có sự tham gia của ý thức ‘học’ trong khi cách thứ hai  
ý thức học ngôn ngữ rất rõ ràng. Chẳng hạn, cách thứ hai người học cần  
nắm vững các quy tắc ngữ pháp, cấu tạo từ vựng hay thực hành lặp  
nhiều lần qua luyện âm, còn cách thứ nhất cho thấy sự ý thức các quy  
tắc để ứng dụng và thực hành là rất hiếm hoi.Mới đây, các nhà nghiên  
cứu cho thấy một sự đão lộn trong quá trình lĩnh hội ngôn ngữ: Lĩnh  
hội các cấu trúc ngữ pháp xảy ra trước so với các mặt khác của ngôn  
ngữ. Brown (1973) cho rằng trẻ em thụ đắc tiếng mẹ đẻ nắm các hình  
vị ngữ pháp, các từ chức năng từ rất sớm.  
1.4.2. Những cơ sở chọn lựa các môn học lý thuyết tiếng Anh  
Nghiên cứu và khảo sát 25 chương trình đào tạo cử nhân  
tiếng Anh, chúng ta thấy sự chọn lựa và đưa vào chương trình CNTA  
với từ 6-13 môn LTTA đều có những cơ sởsau: Cở sở dựa vào mục  
tiêu đào tạo,Cơ sở dựa vào năng lực người học, Cơ sở dựa vào yêu  
cầu chuyên môn của người học, Cơ sở các điều kiện, năng lực của cơ  
sở đào tạo,Cơ sở dựa vào định hướng phát triển các môn học và  
nghiên cứu khoa học, Cơ sở yêu cầu của xã hội, yêu cầu chuẩn đầu ra  
của ngànhcử nhân tiếng Anh.  
1.5. Tổng quan về thực tiễn dạy và học tiếng Anh  
1.5.1. Về dạy và học tiếng Anh nói chung: Có ít nhất 3 lĩnh vực trong  
dạy- học tiếng Anh(1) Thực hành tiếng, (2) Lý thuyết tiếng và (2) Nghề  
nghiệp liên quan chính đến tiếng Anh như phiên dịch, nghiên cứu…  
1.5.2. Về việc dạy và học tiếng Anh trong nước: Khi dất nước tiến  
hành đổi mới và hội nhập, phát triển, tiếng Anh trở thành công cụ  
quan trọng và là môt yêu cầu bức thiết. Vì vậy, Chính phủ đã có nhiều  
quyết sách mở rộng, nâng cao chât lượng trong dạy- học tiếng Anh.  
1.5.3. Về việc dạy - học tiếng Anh ngoài nước: Có rất nhiều công trình  
nghiên cứu ứng dụng ngôn ngữ học vào giảng dạy thực hành ngôn ngữ  
và phát triển tư duy, phương pháp ngiên cứu cho người học, tạo ra  
9
những điều kiện cơ bản và thuận lợi để cử nhân tiếng Anh tiếp tục có  
thể học tập ở những bậc cao hơn như thạc sĩ, tiến sĩ và học tập suốt đời.  
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VỀ DẠY – HỌC CÁC MÔN LÝ  
THUYẾT TIẾNG NGÀNH CỬ NHÂN TIẾNG ANH  
2.1. Thực trạng về vai trò, vị trí các môn LTTA  
Khảo sát những sự kiện nghiên cứu về ngôn ngữ và ngôn ngữ học cho  
thấy cho đến nay, không có một công trình nghiên cứu nào đặt vấn đề  
cần khai thác vai trò của các môn LTTA trong CTĐTCN tiếng Anh;  
cũng không có một công trình nào nghiên cứu sự tác động của các môn  
học này đối với quá trình hình thành chuyên môn, nghiệp vụ cho người  
học trong khi ngôn ngữ học trên thế giới phát triển nhanh chóng và  
được ứng dụng hiệu quả ở các chương trình đào tạo ngôn ngữ. Những  
vấn đề vừa nêu có thể là nguyên nhân hoặc hệ quả của một số vấn đề  
vấn đề từ thực trạng dạy- học các môn LTTA.  
2.2. Thực trạng về dạy - học các môn lý thuyết tiếng  
Khảo sát 25 chương trình đào tạo CNTA trong 10 trường đại học (một  
trường có 1- 4 chương trình CNTA, ngôn ngữ Anh, biên phiên dịch, sư  
phạm Anh, ngôn ngữ Anh nâng cao,…) mang tính tiêu biểu cho 3 cấp  
độ loại hình trường và chuyên môn.Thực tế khảo sát cho thấy:  
2.2.1. Thực trạng về về số lượng, tên gọi, thời lượng và mô tả bộ môn.  
Mỗi chương trình ở mỗi trường đều có ít nhất từ 6 đến 10 môn học lý  
thuyết tiếng, bắt buộc và tự chọn, trong số tất cả 13-15 môn LTTA; mỗi  
môn học này thường có thời lượng là 3 tín chỉ; có nơi từ 2 đến 4 tín chỉ.  
10 môn LTTA sau đây thường có mặt trong 15/25 CTĐTCN tiếng Anh  
được khảo sát: Phonetics and/or phonology, Morphology, Syntax,  
Semantics, Pragmatics, Discourse analysis, Contrastive linguistics,  
Functional grammar,Socio-linguistics, Stylistics. Vài trường đại học có  
tên bộ môn mới như World Englishes, Pragmatics Competence.  
2.2.2. Thực trạng về giáo trình các môn lý thuyết tiếng Anh  
Đa số giáo trình ghi là “ lưu hành nội bộ và hạn chế phát hành”. Khảo  
sát cho thấy 60% /10 bộ môn LTTA có giáo trình chính thức, 20%/10  
bộ môn LTTA xử dụng giáo trình nội bộ, 20% không có giáo trình.  
2.2.3. Thực trạng về tổ bộ môn và đội ngũ giảng viên các môn LTTA  
Khảo sát cho thấy hầu hết các cơ sở đại học có CTĐT cử nhân  
tiếng Anh có tổ bộ môn LTTA. Do yêu cầu về số lượng giờ dạy thực tế,  
10  
số lượng tổ viên chênh lệch từ 3 đến 11 tổ viên. Mỗi tổ có 100% giảng  
viên có học vị từ thạc sỹ ngôn ngữ Anh đến giáo sư, tiến sỹ.  
Khó khăn là môn LLTA luôn đòi hỏi phải cập nhật những bước  
tiến của ngôn ngữ học hiện đại để ứng dụng vào giảng dạy. Do vậy,  
giảng viên phải tiêu tốn nhiều thời gian,công sức để nghiên cứu, đáp  
ứng. Khó khăn đáng kể nữa là đa số sinh viên thường ‘dị ứng’ với các  
môn học này. Họ cho rằng bộ môn LTTA là quá khó đối với họ. Như  
chúng ta biết, điểm tổng tuyển sinh đầu vào đối với ngành CNTA dù  
cao nhưng điểm tiếng Anh thường từ 5 điểm. Phương pháp học tập của  
sinh viên quen với cách học ở phổ thông: ít chủ động, tìm tòi, sáng tạo.  
Một khó khăn nữa là giáo trình, tài liệu tham khảo của đa số các bộ  
môn LTTA chưa được đầy đủ, chuẩn mực. Và nhiều giảng viên yêu  
thích bộ môn, có nhiều kinh nghiệm, nay đã lớn tuổi trong khi đó, rất ít  
giảng viên trẻ yêu thích bộ môn này.  
2.2.4. Thực trang về về phương pháp dạy – học  
Khảo sát cho thấy hơn 50% SV và GV phản ánh cách dạy không còn  
thích hợp với yêu cầu đào tạo mặc dù có xuất hiện xu hướng tích cực  
trong dạy – học như ngoài trang bị kiến thức còn có tính thực hành  
ngôn ngữ và phát triển năng lực, kỹ năng. Tuy nhiên, xu hướng này  
chưa được triển khai và phát triển một cách hệ thống.  
2.2.5. Thực trang về hiệu quả dạy- học các môn LTTA  
1200/1680 SV phản ảnh họ không nắm chắc nội dung các môn LTTA.  
Gần 100% SV cho rằng “không thích học các môn LTTA vì 3 lý do:  
khó hiểu, nhàm chán và không có tính thực hành.” 1500/1680 SV  
phản ánh các năng lực tự học, năng lực học theo nhóm, năng lực  
thuyết trình, thảo luận, chủ động tìm kiếm, xử lý tài liệu, và các kỹ  
năng thực hành ngôn ngữ gần như không có cơ hội phát triển.  
2.2.6. Thực trạng về đội ngũ giảng viên tiếng Anh dạy các môn LTTA  
Mặc dù mỗi tổ có 100% giảng viên có học vị từ thạc sỹ ngôn ngữ Anh  
đến giáo sư, tiến sỹ nhưng ít giảng viên trẻ yêu thích bộ môn này. Khảo  
sát cho thấy:30/37 các nhà LĐ &QL cho biết hiện nay thiếu GV môn  
LTTA, có nơi thiếu trầm trọng đến nỗi nhà trường giảm số môn LTTA,  
chuyển thời lượng sang dạy thực hành tiếng.  
11  
2.3. Tiểu kết chương 2  
Nghiên cứu thực trạng các bộ môn LTTA trong chương trình CNTA ở  
các trường Đại học Việt Nam hiện nay cho thấy có 12 vấn đề:(1) chưa  
được đánh giá lại một cách hệ thống, (2) chưa nghiên cứu sâu về nội  
dung từng bộ môn để thích hợp với yêu cầu đào tạo,(3) chưa nghiên  
cứu mối quan hệ, tác động qua lại giữa các bộ môn LTTA với nhau, và  
mối quan hệ giữa lý thuyết và thực hành,(4) chưa cập nhật nội dung bộ  
môn với sự phát triển nhanh chóng của các ngành ngôn ngữ học, (5)  
chưa thống nhất về phương pháp dạy - học để chọn cách dạy – học tối  
ưu, (6) phân bố chương trình chưa hợp lý,(7) cách gọi tên mỗi bộ môn  
chưa thống nhất,(8) vai trò, vị trí của các bộ môn LTTA chưa được đề  
cao, (9) nguồn nhân lực đảm bảo hoạt động của các môn LTTA như  
giảng dạy, quản lý nghiên cứu khoa học còn rất mỏng, (10) tài liệu học  
tập và tham khảo, nghiên cứu còn hạn chế,(11) tính hiệu quả trong dạy-  
học các môn LTTA chưa được xác định là chất lượng,(12) nghiên cứu  
về dạy và học các môn LTTA còn rất rời rạt,chưa được hệ thống.  
CHƯƠNG 3. ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG GIẢI PHÁP DẠY- HỌC  
CÁC MÔN LTT TRONG CHƯƠNG TRÌNH CNTA Ở VIỆT NAM  
3.1. Đề xuất tiếp tục dạy-học, phát triển các môn LTTA  
Nghiên cứu chương trình đào tạo CNTA cho thấy, ngoài các nội  
dung chung, có hai lĩnh vực nội dung được thiết kế nhằm bổ sung cho  
nhau để hoàn thiện chuyên môn ngành ngôn ngữ Anh: Thực hành tiếng  
và lý thuyết tiếng. Đối với thực hành tiếng, chương trình đào tạo CNTA  
tập trung đào tạo bốn kỹ năng giao tiếp Nghe, Nói, Đọc và Viết, cùng  
với các môn như dịch thuật, văn hóa- văn minh Anh – Mỹ. Đối với các  
môn LTTA, nội dung cốt lõi gắn với kiến thức cơ bản về ngôn ngữ học  
được dạy – học như là những học phần bắt buộc và chọn lựa. Yêu cầu  
các môn LTTA không chỉ trang bị hệ thống khái niệm cơ bản về ngôn  
ngữ học mà còn phải phát triển hệ thống các kỹ năng, khả năng tư duy,  
lý luận để giải quyết những vấn đề của thực tiễn. Tuy nhiên, trong khi  
các môn thực hành tiếng luôn được quan tâm về nhiều mặt thì các môn  
LTTA lại không được quan tâm đúng mức. Nhất là phương pháp dạy -  
học rất mờ nhạt trong hướng thực hành hóa. Điều này dẫn đến chỗ là,  
12  
theo số liệu thống kê, hiệu quả dạy- học các môn LTTA không đạt  
được mục đích, yêu cầu của CTĐT.Sau đây là những cơ sở đề xuất:  
3.1.1. Kết quả khảo sát, điều tra nội dung liên quan các môn LTTA  
Khảo sát 25 chương trình CNTA (CT) ở 10 trường đại học cho  
thấy 25/25 CT cơ bản giống nhau về các mặt như sau:  
+ Về mục tiêu đào tạo  
- Mục tiêu chung được mô tả cơ bản giống nhau:  
Trang bị đủ kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp trong các lĩnh vực  
chuyên môn có sử dụng tiếng Anh ( sử dụng trong thực hành hay trong  
nghiên cứu).  
-Đối với mục tiêu cụ thể cũng được mô tả cơ bản giống nhau:  
Cử nhân tiếng Anh: (a) được trang bị những kiến thức cần thiết về lý  
luận và thực tiễn giao tiếp, (b) có khả năng lập luận tư duy và giải  
quyết vấn đề, khả năng nghiên cứu và khám phá kiến thức, (c) có  
năng lực sáng tạo, phát triển và dẫn dắt sự thay đổi trong nghề  
nghiệp, (d) có khả năng mềm cá nhân, làm việc theo nhóm, quản lý  
và lãnh đạo, (e) có đủ trình độ học các chương trình cao hơn về ngôn  
ngữ Anh, ngôn ngữ học ứng dụng và các chuyên ngành khác liên  
quan, (f) có đủ trình độ thực hành và lý thuyết để tiếp cận với các  
chương trình quốc tế.  
+ Về yêu cầu nội dung cốt lõi  
25 CT đều cho thấy mỗi chương trình có ít nhất 5 môn và nhiều nhất là  
9 môn trong tổng số 13 môn LTTA đều mô tả yêu cầu trang bị nội dung  
cốt lõi của học phần cơ bản giống nhau:  
(a) Cung cấp cho sinh viên một số/ hệ thống khái niệm cơ bản,nền  
tảng,(b) từ đó sinh viên có thể tiếp cận sâu hơn để ứng dụng, giải  
quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn trong ngành ngôn ngữ Anh.  
+ Về chuẩn đầu ra  
25/25 CT mô tả yêu cầu chuẩn đầu ra cơ bản giống nhau:  
(a) Nắm vững, tích lũy và vận dụng được kiến thức nền tảngvề ngành  
ngôn ngữ Anh, (b) để lý giải, phân tích các hiện tượng ngôn ngữ và  
để sử dụng thông thạo tiếng Anh,(c) có khả nănglập luận tư duy, giải  
quyết vấn đề, nghiên cứu khoa học, sáng tạo, (d) và có thể tiếp tục  
học ở các bậc học cao hơn trong và ngoài nước.  
13  
Như vậy, khảo sát và điều tra về mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể,  
về nội dung cốt lõi và chuẩn đầu ra các môn LTTA, cho thấy dạy- học  
các môn LTTA phải đảm bảo ít nhất ba yêu cầu cơ bản:  
(1) Nắm bắt vững chắc nội dung môn học (các môn LTTA - ngôn  
ngữ học), (2) Phát triển năng lực: (2.1) năng lực giao tiếp, (2.2) năng  
lực làm việc, (2.3.) năng lực giải quyết vấn đề,(2.4) năng lực tư duy,  
(2.5) năng lực nghiên cứu khoa hoc và (2.6) năng lực học suốt đời, từ  
đó (3) phải biết cách thực hành, ứng dụng kiến thức, kỹ năng hiệu  
quả.  
3.1.2. Các quan điểm về mối quan hệ giữa lý thuyết và thực tiễn  
- Quan điểm lý luận soi đường cho thực tiễn  
- Quan điểm thực tiễn luôn biến đổi, phát triển đòi hỏi phải cập nhật  
lý luận  
- Xu hướng chung của các cơ sở đào tạo trên thế giới  
- Xác định các bộ môn ưu tiên tiếp tục được dạy- học và phát triển  
3.2. Đề xuất về vai trò, vị trí các môn LTTA  
3.2.1. Xác định nhóm nội dung môn LTTA  
(1) Căn cứ trên cách xác định bản chất của ngôn ngữ của Saussure  
(1916), đại diện tiêu biểu của ngôn ngữ học cấu trúc, Chomsky  
(1975), đại diện của Ngôn ngữ học tạo sinh, Halliday ( 1985), đại diện  
cho ngôn ngữ học chức năng và Langacker (1993) đại diện cho ngôn  
ngữ học tri nhận và nhiều nhà ngôn ngữ học khác, dù ở góc độ, quan  
điểm khác nhau đều cho rằng âm thanh là bình diện đầu tiên trong  
ngôn ngữ và kế đó là cú pháp và ngữ nghĩa. (2) Tham khảo thêm định  
nghĩa hẹp và định mở từ trong hệ thống cốt lõi và ngoài hệ thống của  
các nhà nghiên cứu, (3) Qua phỏng vấn một số chuyên gia và các nhà  
LĐ & QL, khảo sát 09 công trình nghiên cứu ngôn ngữ học mới nhất  
và 01 công trình chuyên sâu về làm thế nào học ngôn ngữ học, Đề tài  
phân nhóm bộ môn LTTA ra làm 4 nhóm nội dung như sau:  
Nhóm 1. Nhóm bao gồm các bộ môn nghiên cứu về bản chất, diện  
mạo hay cấu thành ngôn ngữ: gồm (a) Phonetics, phonology (thuộc  
âm thanh), (b) morphology, lexicology, syntax ( thuộc các quy tắc  
ngữ pháp- từ vựng – lexico-grammatical), (c) semantics (ngữ nghĩa )  
14  
Nhóm 2. Nhóm liên quan đến sử dụng ngôn ngữ hay ngôn ngữ được  
sử dụng như thế nào gồm Pragmatics ( ngữ dụng học), Discourse  
Analysis (Phân tích diễn ngôn), Stylistics ( phong cách học).  
Nhóm 3. Nhóm thuộc trường phái, quan điểm nghiên cứu ngôn ngữ  
hoặc cách thức nghiên cứu ngôn ngữ gồm Structural linguistics (  
NNH cấu trúc), Generative linguistics ( NNH tạo sinh), Functional  
linguistics ( NNH chức năng), Cognitive linguistics ( NNH tri nhận),  
Sociolinguistics ( NNH xã hội ), Cultural linguistics ( ngôn ngữ văn  
hóa), Psycholinguistics ( Ngôn ngữ tâm lý học), Contrastive  
linguistics (NNH so sánh), …  
Nhóm 4. Nhóm ngôn ngữ học gắn với nhiệm vụ nghiên cứu để ứng  
dụng ngôn ngữ trong tiếp thụ, trong dạy và học ngôn ngữ gồm:  
Applied linguistics (NNH ứng dụng).  
Sự phân nhóm không thể rạch ròi 100% vì các môn đều liên quan.  
3.2.2. Đề xuất nâng cao vai trò, vị trí các môn LTTA  
Có nhiều cơ sở để xác định vai trò quan trọng và cần thiết của các  
môn lý thuyết tiếng trong chương trình cử nhân tiếng Anh. Trong phần  
này, chúng tôi chỉ đưa ra 3 cơ sở mang tính cốt lõi như sau:  
+ Cơ sở ngôn ngữ học và giáo dục ngôn ngữ  
+ Cơ sở thực tiễn-xã hội ( hội nhập, phát triển)  
+ Cơ sở của chính bản thân các môn lý thuyết tiếng  
3.2.3. Đề xuất đổi mới phương pháp dạy – học các môn LTTA:  
Những cơ sở lý luận sau đây làm nền tảng đề xuất thực hành  
hóa cách dạy- học các môn LTTA  
- Dựa trên mục tiêu đào tạo, kiến thức cốt lõi và chuẩn đầu ra ngành  
CNTA: Khảo sát các chương trình đào tạo CNTA chỉ ra rằng mục tiêu  
đào tạo, nội dung cốt lõi và chuẩn đầu ra các môn LTTA mang tính  
thực hành cao: phải trang bị kiến thức và phát triển năng lực cho  
người học theo yêu cầu nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu xã hội và sự  
phát triển cá nhân. Vì vậy, thực hành hóa trong quá trình dạy- học là  
một chọn lựa phù hợp.  
- Dựa trên thực trạng dạy- học các môn LTTA:Khảo sát cho thấy: khi  
thực hiện yêu cầu trang bị kiến thức và năng lực cho người học thì  
phương pháp dạy - học không thích hợp với yêu cầu của CTĐT và thiếu  
15  
đội ngũ GV. Hai yếu tố thực hiện những yêu cầu này một cách hiệu quả  
là đội ngũ GV và phương pháp dạy- học.  
- Dựa trên cách tiếp cận vấn đề:Những thông tin trên cho thấy hiệu quả  
dạy- học ( chuyển tải nội dung [ phía GV] và tiếp nhận nội dung [ phía  
SV], xây dựng năng lực [phía GV] và tích hợp năng lực [phía SV])  
thuộc về người dạy, người học và phương pháp dạy- học. Phát triển,  
thực hiện một chương trình đào tạo, theo Nunan (2003), là phức tạp, có  
ít nhất 3 yếu tố: Thiết kế chương trình, phương pháp, và đánh giá. Khảo  
sát về mục tiêu CTĐT cho thấy cả 3 yếu tố này nhằm trang bị kiến  
thức, xây dựng và phát triển năng lực cho người học và từ đó họ có thể  
giải quyết những vấn đề thực tiễn của công việc, đời sống. Ở góc độ  
này, trả lời câu hỏi những cách tiếp cận nào là thích hợp có thể xác  
định như sau: Cách tiếp cận dựa trên thực hiện đề án (Project – Based  
Approach) và cách tiếp cận dựa trên phát triển năng lực (Competence –  
Based Approach). Theo đó, Wei & Cook (2009) cho biết cần kết hợp  
hai cách tiếp cận nữa khi cần:cách tiếp cận dựa trên nội dung (Content -  
Based Approach) và cách tiếp cận dựa trên các nhiệm vụ (Task – Based  
Approach).  
- Khái quát về các cách tiếp cận trong dạy- học LTTA  
Cách tiếp cận học tập dựa trên thực hiện đề án (Project – Based  
Language Learning): Theo Gibbes và Carson (2013), cách tiếp cận học  
tập dựa trên thực hiện đề án đánh dấu từ phương pháp thực hành của  
Dewey (1915) liên quan đến châm ngôn ‘học là hành động’ và tiếp tục  
phát triển đến nay. Markham (2011) cho rằng cách tiếp cận học tập dựa  
trên thực hiện đề án là sự kết hợp giữa biết và làm; đó là cách tiếp cận  
lấy người học làm trung tâm. Chúng ta phân biệt hai hướng tiếp cận:  
Hướng tiếp cận truyền thống  
Giáo viên là trung tâm  
Hướng tiếp cận dựa trên đề án  
Người học là trung tâm  
Tự điều hành  
Do giáo viên điều hành  
Lắng nghe, nhớ, lặp lại ( kiến thức)  
Làm việc riêng rẻ  
Khám phá, ứng dụng, thể hiện  
Làm việc kết hợp  
Giáo viên đưa ra quyết định  
Người học và giáo viên cùng  
quyết định  
Kiến thức về sự kiện, khái niệm,  
nội dung  
Những kỹ năng của thế kỷ 21  
16  
Hướng tiếp cận truyền thống  
Hướng tiếp cận dựa trên đề án  
Các chiến lược chỉ dẫn khác  
nhau, phù hợp  
Chỉ dẫn trực tiếp  
Các bài học rời rạt, ngắn với câu  
trả lời định trước  
Dạng nghiên cứu lâu dài  
Căn cứ trên những chuẩn mực  
Thi để đánh giá  
Các hoạt động dựa trên trường học  
Đánh đố và thi  
Căn cứ trên những chuẩn mực  
Đánh giá quá trình hiện hành  
Nói kết với thực tiễn  
Phản ảnh năng lực  
Bảng 1.Khác biệt giữa hai hướng tiếp cận (theo Project–Based  
Approaches;htts://educate.intel.com/download/K12/elements/pba_html/  
content#pbl_m01_l01_a03_a04)  
Theo đó, cả GV và SV xem mỗi môn LTTA là một đề án và  
thực hiện đề án chính là cách triển khai môn học. Vai trò của GV, SV  
thay đổi. GV và SV bàn bạc, thống nhất để thiết kế đề án và xây dựng  
kế hoạch triển khai, tính đến các chiến lược khai thác, quản lý và sử  
dụng các nguồn lực hiệu quả để đạt mục tiêu, mục đích môn học. Chủ  
thể triển khai đề án ( môn học) là GV và SV, vì vậy cách thức triển khai  
cần được bàn bạc chu đáo theo từng bài học, đánh giá tiến độ và xem  
xét để dự báo, điều chỉnh.  
Cách tiếp cận dựa trên phát triển năng lực (Competence – Based  
Approach):Về mặt lý luận, hướng tiếp cận dựa trên phát triển năng lực  
xuất phát từ đào tạo ngành nghề như các tác giả trong Competence –  
Based Education and Training (Burke, 2005), đã chỉ ra. Theo đó, những  
cụm từ sau được nhấn mạnh để mô tả ‘ năng lực/ competence’: Có khả  
năng thực hiện trọn vẹn các vai trò đảm nhiệm trong công việc, đạt tới  
những tiêu chuẩn mong muốn trong công việc, trong những môi trường  
làm việc thực tế. Theo nghĩa này, năng lực là khả năng được đào tạo  
để thực hiện những công việc đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu.  
Canado (2013) viết:“ Năng lực là lượng kiến thức, kỹ năng và  
phẩm chất cho phép một người thực hiện hành động” (CEFR, 2001)  
hay:“ Năng lực là kiến thức, kỹ năng và khả năng cần thiết để thực hiện  
công việc, giải quyết vấn đề nghề nghiệp một cách linh hoạt.”  
Nhóm năng lực chung, theo Canado (2009), là liên quan đến  
các khả năng nhận biết từ kinh nghiệm vốn có và từ học hỏi; các kỹ  
17  
năng thực hành, khả năng tiến hành các hoạt động có hệ thống, khả  
năng tự tồn tại như phẩm chất cá nhân, các quan hệ với người khác,  
tương tác với cộng đồng….Có thể chia thành 3 nhóm: Các năng lực  
công cụ gồm các khả năng: ngôn ngữ, công nghệ, phương pháp và nhận  
thức; các năng lực nối kết gồm khả năng: làm việc tự lập, lãnh đạo, làm  
việc theo nhóm có tổ chức; các năng lực hệ thống như khả năng tổng  
hợp nhận biết, cảm xúc để giải quyết vấn đề, đưa ra quyết định.  
Nhóm năng lực cụ thể gồm kiến thức về các mặt của ngôn  
ngữ như hiểu biết về ngữ pháp, về văn hóa – ngôn ngữ, về các khuynh  
hướng lý luận và phương pháp; gồm các năng lực học thuật: khả năng  
ghi nhận, hiểu biết, chuyển tiếp sản phẩm khoa học qua ngôn ngữ, khả  
năng đánh giá lý thuyết, đưa vấn đề ngôn ngữ vào lý luận, nhận diện,  
phát hiện các đề tài nghiên cứu, các năng lực nghề nghiệp liên quan đến  
ngôn ngữ như khả năng giao tiếp, giảng dạy, dịch thuật.  
3.2.3.2. Giải pháp thực hành hóa dạy- học LTTA qua thử nghiệm  
Dạy thử nghiệm 05 lớp chính quy như sau:1. Dẫn nhập ngữ  
pháp chức năng:NPCN A: 94 SV; 2. NPCN B: 85 SV;3.NPCN C: 84  
SV; 4.NPCN D:75 SV; 5. Dẫn nhập Phong cách học tiếng Anh:PCH  
E:15SV. Mỗi môn học có thời lượng 2 tín chỉ (30 tiết), mỗi tuần 2 tiết  
trong 15 tuần, học kỳ 1, năm học 2018-2019, tại trường Đại học Ngoại  
ngữ - Đại học Đà Nẵng.  
+ Những câu hỏi và sự chuẩn bị của GV trước khi vào lớp học  
Trước khi nhận lớp, GV (1) rà soát lại nội dung các học phần;  
theo đó, dựa vào Nội dung chi tiết học phần, nguồn tài liệu chính và tài  
liệu hỗ trợ, GV xây dựng các chủ đề thích ứng để ( sau này) giao cho  
SV chọn và thuyết trình.(2) Đặt ra câu hỏi và tự trả lời và chuẩn bị  
những yêu cầu từ những câu hỏi, đại loại như: Mục đích, yêu cầu và nội  
dung môn học, giáo trình, tài liệu tham khảo, hệ thống bài tập, đặc điểm  
của SV trong mỗi lớp là gì? Các bước tiến hành dạy-học môn LTTA  
theo cách tiếp cận dựa trên thực hiện đề án và cách tiếp cận dựa trên  
phát triển năng lực là gì?Các tiêu chí đánh giá thuyết trình, đánh giá  
GV, và các điều kiện dạy-học khác là gì? Làm thế nào kích hoạt tinh  
thần học tập cho toàn lớp? Những câu hỏi là nhiệm vụ của một phần đề  
án mà GV là người xây dựng cùng lớp học để triển khai, thực hiện.  
+ Cam kết giữa GV và SV vê những hoạt động cốt lõi  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 28 trang yennguyen 26420 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo tóm tắt Đề tài Dạy-học các môn Lý thuyết tiếng trong chương trình Cử nhân tiếng Anh ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_tom_tat_de_tai_day_hoc_cac_mon_ly_thuyet_tieng_trong.pdf