Báo cáo đề tài Bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm theo pháp luật Việt Nam – Thực tiễn tại tỉnh Thừa Thiên Huế

ĐẠI HỌC HUẾ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT  
------cfid------  
BÁO CÁO TỔNG KẾT  
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN  
Tên đề tài:  
BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC VIỆC LÀM  
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM – THỰC TIỄN  
TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ  
Mã số  
: ĐHL2019-SV-07  
Chủ nhiệm đề tài  
: Tô Thị Thành Công  
Thời gian thực hiện : Từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2019  
Thừa Thiên Huế, 12/2019  
ĐẠI HỌC HUẾ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT  
------cfid------  
BÁO CÁO TỔNG KẾT  
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN  
Tên đề tài:  
BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC VIỆC LÀM  
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM – THỰC TIỄN  
TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ  
Mã số: ĐHL2019-SV-07  
Chủ nhiệm đề tài: Tô Thị Thành Công  
Thời gian thực hiện: Từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2019  
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN:  
Họ và tên, học hàm, học vị: ThS. Đỗ Thị Quỳnh Trang  
Ký xác nhận đồng ý cho nghiệm thu: …………………  
SINH VIÊN PHỐI HỢP NGHIÊN CỨU:  
1. Nguyễn Thị Cẩm Tú  
2. Văn Đức Thanh Thảo  
Thừa Thiên Huế, 12/2019  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đề tài: “Bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm theo  
pháp luật Việt Nam - Thực tiễn tại tỉnh Thừa Thiên Huế” là một công trình nghiên  
cứu độc lập dưới sự hướng dẫn của ThS. Đỗ Thị Quỳnh Trang. Các nội dung nghiên  
cứu, kết quả trong đề tài là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước  
đây. Những số liệu phục vụ cho việc phân tích, đánh giá được chúng tôi tìm kiếm, thu  
thập trong quá trình nghiên cứu.  
Ngoài ra trong đề tài cũng có một số nhận xét, đánh giá, phân tích của một số  
tác giả và cơ quan tổ chức khác, chúng tôi có trích dẫn và chú thích nguồn gốc rõ ràng.  
Chủ nhiệm đề tài  
Tô Thị Thành Công  
i
Lời Cảm Ơn  
Sau thời gian học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Luật – Đại học  
Huế, bằng sự biết ơn và kính trọng, nhóm tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành  
đến Ban Giám hiệu, các phòng, khoa thuộc Trường Đại học Luật – Đại học Huế  
và các thầy cô giảng viên đã nhiệt tình hướng dẫn, giảng dạy và tạo mọi điều  
kiện thuận lợi giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và  
hoàn thiện đề tài nghiên cứu khoa học này.  
Nhóm tác giả cũng xin gửi lời cám ơn chân thành đến quý thầy cô khoa  
Luật kinh tế - trường Đại học Luật – Đại học Huế, những người đã tạo điều  
kiện, giao đề và tận tình giúp đỡ chúng tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài  
nghiên cứu khoa học. Đặc biệt, nhóm tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới  
ThS.Đỗ Thị Quỳnh Trang, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ chúng tôi  
trong quá trình thực hiện đề tài.  
Tuy nhiên điều kiện về năng lực bản thân còn hạn chế, chuyên đề nghiên  
cứu khoa học chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận  
được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để bài nghiên cứu được hoàn  
thiện hơn.  
Nhóm tác giả xin trân trọng cảm ơn!  
DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA ĐỀ TÀI  
1. Tô Thị Thành Công  
2. Nguyễn Thị Cẩm Tú  
3. Văn Đức Thanh Thảo  
iii  
MỤC LỤC  
Trang phụ bìa  
Trang  
Lời cam đoan ......................................................................................................... i  
Lời cảm ơn ............................................................................................................ii  
Danh sách thành viên tham gia đề tài...................................................................iii  
Mục lục ................................................................................................................ iv  
PHẦN MỞ ĐẦU................................................................................................. 1  
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................... 1  
2. Tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài .................................................... 2  
3. Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu ................................................................... 2  
4. Phạm vi nghiên cứu .......................................................................................... 3  
5. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................. 3  
6. Kết cấu đề tài.................................................................................................... 4  
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ NGƯỜI LAO  
ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC VIỆC LÀM VÀ PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG  
VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC VIỆC  
LÀM................................................................... Error! Bookmark not defined.  
1.1. Một số vấn đề lý luận về bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm.. 6  
1.1.1. Khái niệm bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm 6  
1.1.2. Ý nghĩa của việc bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm 9  
1.1.3. Biện pháp bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm 11  
1.2. Pháp luật lao động Việt Nam về bảo vệ người lao động trong lĩnh vực  
việc làm .............................................................................................................. 21  
1.2.1. Nhóm quy định về trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ người lao  
động trong lĩnh vực việc làm. ............................................................................. 21  
1.2.2. Nhóm quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc bảo  
vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm. ....................................................... 35  
1.2.3. Nhóm quy định về trách nhiệm của tổ chức dịch vụ việc làm trong việc  
bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm. ................................................. 45  
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ...................................................................................50  
iv  
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI LAO  
ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC VIỆC LÀM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN  
PHÁP LUẬT TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ ............................................. 51  
2.1. Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm. 51  
2.1.1. Nhóm quy định về trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ người lao  
động trong vấn đề việc làm. ............................................................................... 51  
2.1.2. Nhóm quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc bảo  
vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm ........................................................ 58  
2.1.3. Nhóm quy định về trách nhiệm của tổ chức dịch vụ việc làm trong việc  
bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm.................................................. 62  
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo vệ người lao động trong lĩnh vực  
việc làm tại tỉnh Thừa Thiên Huế ................................................................... 66  
2.2.1. Những kết quả đã đạt được ...................................................................... 68  
2.2.2. Những hạn chế còn tồn tại ....................................................................... 76  
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ...................................................................................87  
Chương 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO  
HIỆU QUẢ BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC VIỆC  
LÀM................................................................................................................... 88  
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo vệ người  
lao động trong lĩnh vực việc làm..................................................................... 88  
3.1.1. Bảo đảm thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng về xây dựng đất  
nước .................................................................................................................... 88  
3.1.2. Đảm bảo phù hợp với pháp luật khu vực và pháp luật quốc tế ................ 89  
3.1.3. Phù hợp tình hình chung của Việt Nam ................................................... 90  
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người lao động trong lĩnh vực  
việc làm .............................................................................................................. 91  
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của Nhà nước ................ 91  
3.2.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của người sử dụng lao động . 96  
3.2.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của tổ chức dịch vụ việc  
làm ...................................................................................................................... 97  
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực thi pháp luật về bảo vệ người  
lao động trong lĩnh vực việc làm tại tỉnh Thừa Thiên Huế.......................... 98  
v
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ................................................................................. 103  
KẾT LUẬN .....................................................................................................104  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................... 105  
vi  
PHẦN MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Lao động – việc làm là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu của mỗi  
quốc gia trong nền kinh tế thị trường. Việc đảm bảo giải quyết việc làm cho người lao  
động là một trong những nội dung cơ bản nhất trong việc thực hiện và bảo đảm quyền  
con người. Lao động – việc làm cũng là một trong những nhân tố chính trong thị  
trường lao động, phản ánh một cách khái quát nhất thực trạng kinh tế xã hội của mỗi  
quốc gia. Chính vì thế, việc bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm luôn được  
đông đảo mọi người quan tâm, chú trọng.  
Có thể thấy nhiều quy định pháp luật được ban hành từ giai đoạn đầu, khi nước  
ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường. Nhưng khi  
đó thị trường người lao động và các quan hệ lao động chưa vận động hoàn toàn theo  
quy luật của nó nên việc quan tâm đến quyền và lợi ích của người lao động vẫn chưa  
được chú trọng. Hiện nay, nước ta đã và đang trong quá trình hội nhập, phát triển kinh  
tế quốc tế, vấn đề về giải quyết việc làm và đảm bảo thu nhập cho người lao động  
cũng đã được đưa vào các mục tiêu của chương trình phát triển kinh tế nhằm đưa Việt  
Nam thoát khỏi các nước chậm phát triển vào năm 2020.  
Tại tỉnh Thừa Thiên Huế, năm 2017 và 9 tháng đầu năm 2018, toàn tỉnh đã giải  
quyết việc làm cho 28.478 lao động, đào tạo việc làm cho 24.243 lao động. UBND  
tỉnh đã chỉ đạo Sở Lao động - Thương Binh và xã hội làm tốt công tác kết nối thông  
tin cung - cầu lao động, tạo điều kiện cho người lao động dễ dàng tìm kiếm việc làm  
phù hợp. Đã tổ chức 63 phiên giao dịch việc làm, giới thiệu cho 4.917 lao động có  
được việc làm ổn định. Có 1.385 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, tập  
trung ở các thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Ả rập Xê út. Đó là những dấu  
hiệu tích cực trong công tác giải quyết vấn đề việc làm cho lao động trên địa bàn tỉnh  
Thừa Thiên Huế. Tuy nhiên bên cạnh đó, số lao động thất nghiệp, thiếu việc làm hoặc  
việc làm không ổn định trên địa bàn tỉnh vẫn còn cao, sức ép về việc làm vẫn còn lớn,  
nhất là trong thanh niên và trong lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật.  
Rõ ràng, quan hệ lao động là mối quan hệ mang tính chất bất bình đẳng, người  
lao động luôn ở vị thế yếu hơn so với người sử dụng lao động. Đặc biệt, trong tình thế  
lượng cung về lao động lại lớn hơn so với lượng cầu như hiện nay đã đặt ra nhiều  
thách thức trong vấn đề giải quyết việc làm và việc bảo vệ người lao động trong lĩnh  
vực việc làm. Chính vì thế, chúng em chọn đề tài “Bảo vệ người lao động trong lĩnh  
vực việc làm theo pháp luật Việt Nam – Thực tiễn tại tỉnh Thừa Thiên Huế”: làm đè  
tài nghiên cứu khoa học của mình.  
1
2. Tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài  
Hiện nay có rất nhiều các nhà nghiên cứu cũng như các tác giả khác nhau nghiên cứu  
về vấn đề liên quan đến bảo vệ người lao động theo pháp luật Việt Nam. Như:  
(1). Phạm Ngọc Lãnh (2018), Pháp luật về bảo vệ người lao động trong doanh  
nghiệp của tổ chức công đoàn, luận văn Thạc sĩ Luật học, trường Đại học Luật – Đại  
học Huế. Luận văn đã phân tích các quy định của pháp luật về bảo vệ người lao động  
của tổ chức công đoàn theo Luật Công đoàn năm 2012 và Bộ luật lao động năm 2012;  
thực tiễn thực hiện pháp luật và giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện  
pháp luật bảo vệ người lao động của tổ chức công đoàn.  
(2). Lê Thị Kim Thương (2014), Pháp luật về bảo vệ người lao động trong lĩnh  
vực việc làm, tiền lương trong pháp luật lao động Việt Nam – Thực tiễn tại Đà Nẵng,  
Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa luật – Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn đã làm rõ  
vấn đề bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm, tiền lương thông qua đánh giá  
thực trạng phá luật và thực tiễn thực hiện tại thành phố Đà Nẵng.  
(3). Nguyễn Thị Yến (2005), Bảo vệ người lao động theo pháp luật Việt Nam  
trong nền kinh tế thị trường, luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đai học Quốc gia  
Hà Nội. Luận văn đã tiếp cận vấn đề bảo vệ người lao động trong bối cảnh nền kinh tế thị  
trường tại Việt Nam, chỉ ra được tính cấp thiết, những yêu cầu và thực trạng pháp luật  
Việt Nam trong vấn đề bảo vệ người lao động trong nền kinh tế thị trường.  
(4). Cao Nhất Linh, Bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động nước ngoài ở Việt  
Nam, Tạp chí nghiên cứu lập pháp. Bài viết đã nêu lên một số vấn đề về bảo vệ người  
lao động nước ngoài ở Việt Nam liên quan đến Công đoàn và các quyền liên quan, về  
bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế.  
(5). Nguyễn Thị Thùy Trang (2018), Pháp luật về việc làm và giải quyết việc  
làm, qua thực tiễn tại tỉnh Quảng Trị, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường đại học Luật  
– Đại học Huế. Luận văn đã tiếp cận vấn đề về việc làm và giải quyết việc làm dưới  
góc độ nghiên cứu quy định pháp luật và đánh giá thực trạng pháp luật, thực tiễn thực  
hiện và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện  
pháp luật về việc làm giải quyết việc làm tại tỉnh Quảng Trị.  
Hầu hết các công trình kể trên đều tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận,  
thực tiễn áp dụng pháp luật cũng như đề ra một số giải pháp khắc phục về vấn đề bảo  
vệ người lao động. Tuy nhiên, vấn đề bảo vệ việc làm của người lao động chỉ nằm  
trong một khía cạnh nhỏ của các công trình này mà chưa được tập trung nghiên cứu  
cũng như phân tích cụ thể.  
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
3.1. Đối tượng nghiên cứu  
2
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về bảo vệ người lao động trong lĩnh vực  
việc làm.  
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật lao động Việt Nam về bảo vệ người  
lao động trong lĩnh vực việc làm.  
- Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo vệ người lao  
động tại tỉnh Thừa Thiên Huế  
3.2. Phạm vi nghiên cứu  
Thứ nhất, về không gian nghiên cứu: tại Việt Nam mà trọng tâm nghiên cứu tại  
tỉnh Thừa Thiên Huế về thực tiễn thực thi pháp luật về bảo vệ người lao động trong  
lĩnh vực việc làm.  
Thứ hai, về thời gian nghiên cứu: nghiên cứu lĩnh vực này trong khoảng thời  
gian từ năm 2014 – 2019.  
4. Mục tiêu đề tài  
Mục tiêu đề tài hướng tới việc luận giải một số vấn đề lý luận về bảo vệ người  
lao động trong lĩnh vực việc làm và đánh giá thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện  
pháp luật về bảo vệ người lao động tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Từ đó, đề xuất các giải  
pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả bảo vệ của pháp luật đối với người lao động trong  
lĩnh vực việc làm mà trọng tâm là tại tỉnh Thừa Thiên Huế.  
5. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu  
5.1. Cách tiếp cận  
Dựa trên học thuyết về quyền con người, cách tiếp cận hệ thống, đa ngành cùng  
thu thập số liệu, vụ việc thực tiễn.  
5.2. Phương pháp nghiên cứu  
(1) Phương pháp phân tích được sử dụng nhằm phân tích các quy định của pháp  
luật lao động Việt Nam về bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm.  
(2) Phương pháp thống kê – tổng hợp được sử dụng nhằm tổng hợp số liệu, vụ việc  
thực tiễn về thực thi pháp luật bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm.  
(3) Phương pháp so sánh, bình luận được sử dụng nhằm so sánh, đối chiếu và  
bình luận giữa quy định của pháp luật về bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc  
làm và thực tiễn áp dụng các quy định đó.  
6. Những đóng góp của đề tài  
3
Đề tài là một trong những công trình nghiên cứu chuyên sâu về bảo vệ người  
lao động trong lĩnh vực việc làm theo pháp luật Việt Nam. Đề tài có những điểm mới  
sau đây:  
6.1. Về mặt lý luận:  
Đề tài góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm, vai  
trò, ý nghĩa của bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm cùng với việc phân tích  
quy định pháp luật hiện hành trên cơ sở ba nhóm quy định về trách nhiệm của Nhà  
nước, của Người sử dụng lao động, của Tổ chức dịch vụ việc làm theo Bộ luật Lao  
động 2012; Bộ luật dân sự 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đề tài có thể được  
sử dụng làm tài liệu tham khảo cho giảng viên, sinh viên tại các cơ sở đào tạo, nghiên  
cứu khoa học cho cán bộ thực hiện pháp luật hoặc các công trình nghiên cứu tiếp theo.  
Ngoài ra, trên cơ sở đánh giá thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động  
trong lĩnh vực việc làm theo pháp luật Việt Nam, đề tài còn đề xuất các giải pháp hoàn  
thiện pháp luật trong lĩnh vực này.  
6.2. Về mặt thực tiễn  
Đề tài đóng góp lớn ý nghĩa cho người lao động; người sử dụng lao động; cho  
cả xã hội và Nhà nước; Biết được cơ sở lý luận, quy định pháp luật và thực tiễn áp  
dụng quy định pháp luật về bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm để bảo vệ  
quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao nhận thức xã hội. Đồng thời, đề tài cũng  
góp phần hạn chế những vi phạm, những tranh chấp và vướng mắc có thể xảy ra trong  
quan hệ lao động.  
Không chỉ vậy, khóa luận còn chỉ ra kết quả đạt được và những vấn đề còn tồn  
đọng trong thực hiện bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm tại tỉnh Thừa  
Thiên Huế và từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo  
vệ người lao động tại Thừa Thiên Huế nói riêng và cả nước nói chung.  
7. Kết cấu đề tài  
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục của chuyên đề bao gồm ba chương:  
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc  
làm  
Chương 2. Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc  
làm và thực tiễn thực hiện pháp luật tại tỉnh Thừa Thiên Huế  
4
Chương 3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp  
luật về việc bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm tại tỉnh Thừa Thiên Huế  
5
Chương 1  
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG  
TRONG LĨNH VỰC VIỆC LÀM  
1.1. Một số vấn đề lý luận về bảo vệ người lao động trong lĩnh vực  
việc làm  
1.1.1. Khái niệm bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm  
“Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống con người,  
đến một mức và trên một ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói rằng: lao động đã tạo  
ra chính bản thân con người”.1 Lao động là một yếu tố không thể thiếu đối với  
đời sống của mỗi cá nhân. Nó tạo nên các giá trị vật chất và giá trị tinh thần cho  
người lao động cũng như toàn xã hội. Trong quan hệ lao động, mối quan hệ giữa  
người lao động và người sử dụng lao động được xác lập trên cơ sở thỏa thuận, tự  
do, tự nguyện. Theo đó, quan hệ lao động là quan hệ dân sự, các chủ thể có sự  
bình đẳng về địa vị với nhau. Tuy nhiên, trong chính quan hệ này, luôn tồn tại sự  
bất bình đẳng giữa các chủ thể vì người sử dụng lao động là người đóng vai trò  
là “ông chủ”, “người đi thuê” và người lao động là “người đi làm thuê”. Như  
vậy, người lao động luôn ở vị trí yếu thế hơn, phụ thuộc vào người sử dụng lao  
động về mặt kinh tế lẫn tổ chức và người sử dụng lao động có quyền được quản  
lý, điều hành người lao động. Chính vì vậy, để ổn định và phát triển hài hòa  
quan hệ lao động, luôn đặt ra yêu cầu phải bảo vệ người lao động.  
Bảo vệ người lao động được hiểu theo nghĩa thông thường là việc sử dụng  
mọi biện pháp để người lao động đạt được lợi ích tối đa khi tham gia quan hệ lao  
động. Cụ thể đó là việc tạo các điều kiện để người lao động thực hiện quyền làm  
việc, lựa chọn việc làm; là sự phòng ngừa và chống lại mọi sự xâm hại đến danh  
dự, nhân phẩm, tính mạng, quyền và lợi ích của người lao động, từ phía người  
sử dụng lao động và trong suốt tiến trình lao động từ khi giao kết hợp đồng lao  
động đến khi chấm dứt quan hệ lao động. Đây là một trong những nguyên tắc cơ  
bản của các công ước lao động quốc tế cũng như pháp luật lao động Việt Nam.  
Việc xác định nguyên tắc này trước hết dựa trên cơ sở đường lối, chính sách của  
Đảng. Ngay từ những năm đầu phát triển kinh tế thị trường, Đảng và Nhà nước  
đã xác định mục tiêu chính của sự phát triển là “vì con người, phát huy nhân tố  
1 Giáo trình Luật lao động Việt Nam, Chu Thanh Hưởng (CB), NXB Công an nhân dân, Hà Nội 2005,  
Tr7  
6
con người, trước hết là người lao động”2. Trong giai đoạn nền kinh tế thị trường  
ở nước ta phát triển, Đảng và Nhà nước khẳng định: “phải tăng cường bảo vệ  
người lao động, trọng tâm là các doanh nghiệp”.3 Nghiên cứu Pháp luật lao động  
của các quốc gia phát triển như Singapore, Hàn Quốc, Mỹ, Nhật… cho thấy,  
bằng đạo luật của mình, các quốc gia đều bảo vệ người lao động làm thuê từ quy  
định thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi, đến tiền công và các chế độ  
cho người lao động khi đau ốm, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp,… Có nghĩa  
là, người lao động phải được bảo đảm làm việc, lao động ổn định và lâu dài.  
Trong quan hệ lao động, hoạt động lao động của con người được thể hiện  
thông qua một hoặc một số công việc nhất định, gọi chung là việc làm. Tổ chức  
lao động quốc tế (ILO) không đưa ra khái niệm việc làm mà thay vào đó đã đưa  
ra khái niệm người có việc làm với ý nghĩa tương tự. Theo đó, người có việc  
làm là người làm trong các lĩnh vực, ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không  
bị pháp luật ngăn cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, đồng  
thời góp phần cho xã hội. Hiến pháp Việt Nam 2013 đã khẳng định rằng "Công  
dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc". Đây là  
một trong những quyền con người quan trọng nhất trong lĩnh vực lao động nhằm  
bảo đảm con người được sống và phát triển ổn định, hài hòa. Cũng theo quan  
điểm, đường lối chỉ đạo của Đảng “giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để  
phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, lành mạnh xã hội”4.  
Như vậy, nhu cầu thiết yếu của người lao động là việc làm. Do đó, bảo vệ người  
lao động trước hết cần bảo vệ việc làm cho họ.  
Tại Điều 23 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDDHR) quy định: "Mọi  
người đều có quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, được hưởng  
những điều kiện làm việc công bằng, thuận lợi và được bảo vệ chống lại nạn  
thất nghiệp". Ở Việt Nam, trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, xã hội chỉ  
thừa nhận một hình thức lao động duy nhất là lao động trong các đơn vị kinh tế  
quốc doanh và tập thể. Theo đó, Nhà nước đảm bảo việc làm cho mọi công dân,  
mỗi người lao động đều được làm việc ổn định, lâu dài; được đối xử công bằng  
giữa các lao động; không có hiện tượng thất nghiệp, thừa lao động hay thiếu lao  
động diễn ra. Nên vấn đề bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm trong  
thời kỳ này không được chú ý, coi trọng. Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường,  
2 Xem: Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, Nxb. Chính trị quốc  
gia, Hà Nội, 1991  
3 Xem: Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, Nxb. Chính trị  
quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.2014.  
4 Xem: Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Nxb. Chính trị  
quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.210.  
7
thành phần kinh tế tư nhân chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế xã hội, nhà  
nước không còn là chủ thể cung ứng việc làm mà chỉ là chủ thể tạo môi trường,  
thị trường lao động thông thoáng, phù hợp, để các chủ thể trong quan hệ lao  
động được tự do tìm kiếm việc làm và lựa chọn lao động phù hợp với nhu cầu.  
Vì vậy, tất yếu dẫn đến các vấn đề liê n quan đến thất nghiệp, quyền của người  
lao động không được đảm bảo. Đặc biệt, điều này được thể hiện rõ tại các Quốc  
gia đang phát triển trong đó có Việt Nam.  
Theo nguyên tắc của Tổ chức lao động quốc tế ILO, bảo vệ người lao  
động trong lĩnh vực việc làm là một trong những sứ mệnh trọng tâm, là một  
trong những nguyên tắc xuyên suốt trong các Công ước, các khuyến nghị của tổ  
chức này. ILO đã ban hành nhiều công ước, khuyến nghị nhằm bảo vệ người lao  
động trong lĩnh vực việc làm. Tại Công ước 122 của ILO về Chính sách Việc  
làm năm 1964 quy định mỗi quốc gia thành viên đều có trách nhiệm đảm bảo  
có việc làm cho mọi công dân lao động; nâng cao chất lượng việc làm; phải đảm  
bảo công dân được quyền lựa chọn việc làm phù hợp, không bị phân biệt đối  
xử.5 Mặt khác, tại Khuyến nghị số 198 về quan hệ việc làm năm 2006 đã thông  
qua chính sách quốc gia về bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm đồng  
thời quy định các biện pháp nhằm đảm bảo việc tuân thủ các quy định về bảo vệ  
người lao động trong lĩnh vực việc làm. Khuyến nghị số 198 đã nêu rõ các quốc  
gia thành viên phải quy định rõ bản chất và phạm vi của việc bảo vệ người lao  
động trong lĩnh vực việc làm, có tính đến các tiêu chuẩn lao động quốc tế; nội  
dung của chính sách phải quy định về việc xác định quan hệ việc làm, đảm bảo  
các hình thức thỏa thuận mang tính hợp đồng nhằm tạo cơ chế xác định quan hệ  
lao động rõ ràng, bảo vệ quyền lợi của người lao động khi giao kết hợp đồng  
hoặc xác lập quan hệ lao động; đảm bảo các tiêu chuẩn quốc tế trong lao động;  
đảm bảo quyền làm việc của một số lao động yếu thế,… Ngoài ra, các Công ước  
số 29 năm 1920 về lao động cưỡng bức; Công ước số 111 năm 1958 về chống  
phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp,… cũng nhằm hướng đến bảo vệ  
người lao động trong lĩnh vực việc làm.  
Trên cơ sở quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ người lao động trong lĩnh  
vực việc làm, pháp luật Việt Nam cũng đã có nhiều quy định cụ thể về vấn đề  
này. Người lao động được đảm bảo quyền tự do lựa chọn việc làm, quyền được  
làm việc lâu dài, ổn định và các quyền về việc làm khác trong quá trình lao động  
và chấm dứt quan hệ lao động. Các quyền này được thể hiện thông qua các văn  
5 Xem: Điều 2 Công ước 122 Chính sách việc làm 1964 của Tổ chức lao động quốc tế.  
8
bản pháp lý như: Hiến pháp 2013, Bộ luật lao động 2012, Luật Việc làm  
2013,… và các văn bản hướng dẫn thi hành.  
Trên cơ sở các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật lao động Việt  
Nam về bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm. Có thể đưa ra khái niệm  
“Bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm là bảo đảm cho người lao động  
quyền được làm việc, tự do lựa chọn việc làm, được có những điều kiện việc làm  
thuận lợi và an toàn, đồng thời không bị thay đổi, bị mất việc làm một cách vô lí”.  
1.1.2. Ý nghĩa của việc bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm  
Bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm là vấn đề có ý nghĩa rất lớn  
về cả lý luận và thực tiễn đời sống. Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với người  
lao động, người sử dụng lao động mà còn có vai trò quan trọng đối với sự phát  
triển kinh tế, văn hóa - xã hội của đất nước và uy tín của quốc gia trên thị trường  
quốc tế. Cụ thể:  
Đối với người lao động: việc làm là nhu cầu và là hoạt động cơ bản đối  
với mỗi cá nhân nên nó tác động trực tiếp và chi phối mạnh mẽ đến đời sống của  
mỗi người. Đầu tiên, việc làm tạo nên thu nhập cho người lao động, giúp họ đảm  
bảo, ổn định đời sống của bản thân và gia đình. Hơn nữa, nó còn giúp người lao  
động phát triển và hoàn thiện bản thân. Vì thế, trong nhiều trường hợp khi không  
có việc làm sẽ ảnh hưởng đến lòng tự tin của con người và niềm tin của họ vào  
cộng đồng. Từ đó có thể dẫn đến sự tự xa lánh cộng đồng cũng như là nguyên  
nhân của các tệ nạn xã hội. Không chỉ vậy, việc làm còn gắn liền với trình độ  
học vấn, trình độ tay nghề của mỗi người. Nên khi người lao động có việc làm,  
được làm việc ổn định, lâu dài sẽ giúp họ dần hoàn thiện về cả nhân cách và trí  
tuệ… Vì vậy, nếu công tác bảo vệ người lao động về vấn đề việc làm được thực  
hiện tốt trước tiên sẽ giúp bản thân người lao động ổn định đời sống, phát triển  
bản thân và hạn chế các tệ nạn xã hội.  
Đối với người sử dụng lao động: Trong quan hệ lao động, mâu thuẫn lao  
động giữa người lao động và người sử dụng lao động thường phát sinh do mâu  
thuẫn lợi ích của các bên chủ thể. Người sử dụng lao động tiến hành các hoạt  
động đầu tư, sản xuất với với mong muốn thu được lợi nhuận cao. Với yêu cầu  
đó, họ có thể sử dụng các cách khác nhau nhằm nâng cao năng suất; giảm chi  
phí đầu vào (nguyên, nhiên vật liệu, dây chuyền sản xuất, tiền lương của người  
lao động,…). Bên cạnh đó, lợi ích của người lao động và người sử dụng lao  
động cũng mang tính “cộng sinh”. Bởi lẽ người lao động sử dụng sức lao động  
của mình tạo nên thành phẩm lao động, từ đó nhận tiền công và tạo lợi nhuận  
cho người sử dụng lao động. Vì vậy, nếu người sử dụng lao động thực hiện tốt  
9
các chính sách bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm thì nó sẽ có tác  
động tích cực đối với doanh nghiệp đó. Đầu tiên, doanh nghiệp sẽ xây dựng  
được uy tín, tạo dựng niềm tin với nhà nước và người sử dụng lao động, thậm  
chí là cả xã hội. Doanh nhân Giang Thị Hằng – Giám đốc công ty TNHH Việt  
Anh đã khẳng định rằng: “Chữ tín là tôn chỉ hàng đầu trong kinh doanh”.6 Vậy  
nên, khi một doanh nghiệp xây dựng được uy tín, sẽ thu hút được nguồn nhân  
lực lớn trong xã hội, tạo uy tín với đối tác và niềm tin đối với người tiêu dùng.  
Thứ hai, doanh nghiệp thực hiện tốt các chính sách bảo vệ người lao động trong  
lĩnh vực việc làm, bảo đảm quyền làm việc lâu dài, ổn định, giải quyết tốt các cơ  
chế, mâu thuẫn về việc làm còn tạo niềm tin của người lao động vào doanh  
nghiệp. Từ đó, người lao động an tâm lao động, thực hiện tốt các quy định của  
doanh nghiệp, tăng năng suất, sản lượng và chất lượng công việc, làm tiền đề  
phát triển sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.  
Đối với quốc gia: bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm có ý  
nghĩa quan trọng, tác động đến sự phát triển của mỗi quốc gia. Việt Nam là một  
quốc gia đang phát triển, dân số đông, tỷ lệ thất nghiệp cao, trình độ dân trí cũng  
như trình độ tay nghề còn hạn chế. Vì vậy, trong các chính sách, cơ chế phát  
triển kinh tế, xã hội, bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm luôn được  
coi là vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu.  
Thứ nhất, về mặt kinh tế, lao động là một trong những nguồn lực quan  
trọng, là đầu vào không thể thay thế đối với một số ngành. Vì vậy việc thực hiện  
tốt vấn đề bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm sẽ là tiền đề cho việc  
tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân. Ngoài ra, việc này còn giúp cho việc  
duy trì mối quan hệ hài hoà giữa việc làm và kinh tế, tức là luôn bảo đảm cho  
nền kinh tế có xu hướng phát triển bền vững, đồng thời nó cũng duy trì lợi ích  
và phát huy tiềm năng của người lao động.  
Thứ hai, về mặt xã hội, mỗi cá nhân, mỗi gia đình là một yếu tố cấu thành  
nên xã hội. Vì vậy, thực hiện tốt vấn đề bảo vệ người lao động trong lĩnh vực  
việc làm không chỉ giúp người lao động đảm bảo đời sống, phát triển bản thân  
mỗi người mà nó cũng có các tác động trực tiếp đến xã hội. Khi các vấn đề bảo  
vệ người lao động về việc làm được đảm bảo thì tỷ lệ thất nghiệp của quốc gia  
sẽ suy giảm; thu nhập của người lao động được đảm bảo, ổn định; xây dựng  
niềm tin của người lao động vào chính sách, đường lối của Đảng và Nhà nước.  
6
Lê Hà – Phương Thanh, 2018, Doanh nhân nữ Giang Thị Hằng, chữ tín là tôn chỉ hàng đầu trong kinh doanh,  
128284.html>, xem 14/4/2019  
10  
Từ đó xã hội cũng được duy trì trong trạng thái ổn định và phát triển bền vững.  
Không chỉ vậy, bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm còn gián tiếp đẩy  
lùi, xóa bỏ vấn nạn đói nghèo, các tệ nạn xã hội như tội phạm, ma túy, mại dâm.  
Và hơn thế nữa, nó còn đảm bảo mối quan hệ hài hòa giữa các giai tầng trong xã  
hội, thu hẹp các hố ngăn cách giàu nghèo cũng như triệt tiêu các mâu thuẫn nội  
sinh trong xã hội.  
Thứ ba, về phương diện quốc tế, thực hiện vấn bảo vệ người lao động  
trong lĩnh vực việc làm không chỉ là vấn đề riêng của mỗi quốc gia mà còn là sự  
quan tâm chung của cộng đồng quốc tế. Một Quốc gia xây dựng và thực hiện tốt  
các chính sách bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm sẽ xây dựng được  
một hình ảnh đẹp trên thị trường quốc tế. Ngoài ra, nó phản ánh được chính sách  
và pháp luật của nhà nước chặt chẽ, nền kinh tế - xã hội thông thoáng. Từ đó, thu  
hút các nhà đầu tư nước ngoài vào đầu tư, phát thị trường kinh tế của quốc gia.  
Tóm lại, việc bảo vệ người lao động trong vấn đề việc làm không chỉ có ý  
nghĩa đối với từng cá nhân mà còn đối với nền kinh tế, xã hội. Vì vậy, để đáp  
ứng được nhu cầu việc làm của toàn xã hội đòi hỏi phải có cơ chế bảo vệ người  
lao động trong lĩnh vực việc làm hợp lí, toàn diện.  
1.1.3. Biện pháp bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm  
Khi tham gia vào một quan hệ lao động nhất định, lợi thế duy nhất của  
người lao động là sức lao động của chính mình. Trong khi đó, người sử dụng lao  
động là người có vốn, có tài sản, có quyền được tuyển chọn và sử dụng sức lao  
động của người lao động. Bên cạnh đó, trong quá trình làm việc, người lao động  
cũng phải trực tiếp thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động  
và chịu sự chi phối, quản lý của người sử dụng lao động. Nên trong quan hệ giữa  
người lao động và người sử dụng lao động luôn tồn tại những khoảng cách nhất  
định. Người lao động khó có điều kiện thỏa thuận bình đẳng thực sự với người  
sử dụng lao động, đặc biệt là trong lĩnh vực việc làm. Do đó, Nhà nước cần quan  
tâm, bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm như là đối tượng yếu thế  
trong xã hội bằng các biện pháp, cách thức phù hợp.  
Hệ thống luật lao động quốc tế và pháp luật lao động Việt Nam đã quy  
định nhiều biện pháp bảo vệ người lao động nói chung và bảo vệ người lao động  
trong lĩnh vực việc làm nói riêng. Tuy nhiên, dưới cách tiếp cận và phạm vi  
nghiên cứu của đề tài, nhóm tác giả chỉ đề cập đến ba biện pháp sau: biện pháp  
thông qua cơ chế đại diện; biện pháp thông qua cơ quan, tổ chức có thẩm quyền  
giải quyết tranh chấp về lao động; biện pháp thông qua cơ chế xử lí vi phạm.  
Thứ nhất, biện pháp thông qua đại diện lao động  
11  
Biện pháp thông qua cơ chế đại diện lao động có ý nghĩa và vai trò quan  
trọng trong việc bảo vệ người lao động. Theo quan điểm của Tổ chức lao động  
quốc tế ILO, đại diện người lao động hay còn gọi là tổ chức của người lao động  
được hiểu là “mọi tổ chức của người lao động có mục đích xúc tiến và bảo vệ  
những lợi ích của người lao động.”7 Hay nói cách khác, có thể hiểu đại diện lao  
động là tổ chức hoặc cá nhân được thành lập hợp pháp hoặc được thừa nhận, có  
địa vị pháp lý thay mặt cho tập thể lao động giải quyết các vấn đề phát sinh  
trong quá trình lao động liên quan đến quyền và lợi ích của tập thể lao động  
nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ, hướng đến việc xây dựng mối quan  
hệ lao động hài hòa, ổn định và phát triển.8 Hiện nay, trong quan hệ lao động,  
hầu hết các quốc gia đều thừa nhận, bảo đảm cho cơ chế đại diện lao động được  
tổ chức và thực hiện trên cơ sở quan điểm của ILO về “quyền tự do liên kết và  
tổ chức lập hội”9.  
Với sự đa dạng về quy định cơ chế đại diện của các quốc gia trên thế giới,  
biện pháp thông qua cơ chế đại diện lao động cũng được thừa nhận với nhiều  
hình thức khác nhau nhưng đều nhằm một mục đích chung là đại diện, thay mặt  
cho người lao động, tập thể người lao động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp  
của họ. Theo quy định của pháp luật nước Cộng hòa liên bang Đức, các hình  
thức đại diện của tập thể lao động bao gồm bốn hình thức: Công đoàn, Hội đồng  
xí nghiệp, Hội đồng giám sát, đại diện của nhóm người lao động.10  
Một là, hình thức công đoàn.  
Hình thức công đoàn là một hình thức được thừa nhận phổ biến tại nhiều  
quốc gia nhất trong tất cả các hình thức của cơ chế đại diện. Theo hình thức tổ  
chức của mỗi quốc gia, hình thức công đoàn cũng có sự đa dạng trong tổ chức.  
Tại một số quốc gia như Việt Nam, Trung Quốc, hình thức công đoàn chỉ được  
thừa nhận là tổ chức công đoàn đơn nhất. Trong khi đó, tại một số quốc gia như  
Nga, Anh, Singapore,… đều thừa nhận sự tồn tại đa hình thức công đoàn hoặc  
một số quốc gia như Canada, Nhật Bản, Malaysia,…thừa nhận song song cả hai  
loại đại diện lao động là công đoàn và các tổ chức, cá nhân không thuộc hệ  
thống công đoàn (đại diện lao động do tập thể lao động bầu hoặc cử ra).  
7 Tổ chức lao động quốc tế ILO (1949), Công ước số 95 ngày 01/07/1949 “về bảo vệ tiền lương cho người lao  
động”, tr.170.  
8 Đào Mộng Điệp (2015), Đại diện lao động và pháp luật về đại diện lao động, NXB. Tư pháp, Hà Nội, tr.23  
9 Xem: Tổ chức lao động quốc tế ILO (1984), Công ước 87 ngày 09/07/1948 “Quyền tự do liên kết và tổ chức  
lập hội”, tr.182  
10  
Đào Mộng Điệp (2012), Đại diện lao động trong Bộ luật lao động, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học 28  
(2012), tr.223  
12  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 116 trang yennguyen 21040 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo đề tài Bảo vệ người lao động trong lĩnh vực việc làm theo pháp luật Việt Nam – Thực tiễn tại tỉnh Thừa Thiên Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_de_tai_bao_ve_nguoi_lao_dong_trong_linh_vuc_viec_lam.pdf