Bài học lịch sử về đối thoại liên tôn giáo từ mối quan hệ Lão - Phật - Nho - Tôn giáo tín ngưỡng bản địa miền Trung thời Chúa Nguyễn

TRAO ĐỔI - NGHIÊN CỨU  
BÀI HỌC LỊCH SỬ VỀ ĐỐI THOẠI LIÊN TÔN GIÁO  
TỪ MỐI QUAN HỆ LÃO - PHẬT - NHO - TÔN GIÁO  
TÍN NGƯỠNG BẢN ĐỊA MIỀN TRUNG THỜI CHÚA NGUYỄN  
TS. Trần Đình Hằng∗  
Tóm tắt: Từ nội tình dòng họ Trịnh - Nguyễn đã dẫn đến một cơ duyên lịch sử của  
cả dân tộc sau sự kiện vào Nam của chúa tôi Nguyễn Hoàng năm Mậu Ngọ (1558).  
Điểm đặc biệt cần chú ý là từ một vùng tử địa, lại dẫn đến sinh lộ độc đạo đi về phương  
Nam để kiến tạo hoàn chỉnh một đất nước Đại Nam hùng mạnh về sau, trong đó đáng  
chú ý là chiến lược nhân tâm trên cơ sở phát huy hài hòa, dung dưỡng tinh hoa của Lão  
- Phật - Nho - tôn giáo tín ngưỡng bản địa để cố kết cộng đồng. Tư tưởng “đồng  
nguyên” trong tôn giáo tín ngưỡng truyền thống đó thể hiện rõ nét chiến lược nhân tâm  
sâu sắc, là bài học hữu hiệu trong việc cố kết cộng đồng, kiến tạo nên bản sắc văn hóa,  
bản lĩnh quốc gia dân tộc thời chúa Nguyễn và cũng đậm tính thực tiễn trong giai đoạn  
hiện nay.  
1. Mở đầu  
Thời chúa Nguyễn - Đàng Trong đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong lịch sử và  
văn hóa miền Trung, miền Nam nói riêng và cả đất nước Việt Nam nói chung. Từ nội  
tình một dòng họ đã dẫn đến cơ duyên mới, tạo nên một sinh lộ mới về phương Nam  
trong quá trình kiến tạo lãnh thổ quốc gia lẫn ý thức, bản lĩnh dân tộc. Sẽ có nhiều  
nguyên nhân lý giải điều này nhưng trước hết cần chú ý đến vấn đề chiến lược nhân tâm  
của các chúa Nguyễn, trên cơ sở dung dưỡng và phát huy tối đa di sản tôn giáo tín  
ngưỡng từ bên ngoài lẫn bản địa nhằm mục tiêu cố kết cộng đồng, phát huy nội lực để  
ươm mầm một thế lực mới trên chính trường đương thời, đủ sức đối trọng với Đàng  
Ngoài và tiếp tục hành trình về Nam một cách hữu hiệu.  
“Tam giáo (Lão, Phật, Nho) đồng nguyên” thường được các nhà nghiên cứu nhấn  
mạnh khi đề cập đến tôn giáo và chính sách an dân thời chúa Nguyễn. Tuy nhiên, chúng  
tôi nhận thấy, gắn liền với các giai đoạn lịch sử, các chúa Nguyễn chủ trương chú trọng  
xiển dương các tôn giáo cụ thể khác nhau, gắn liền xu hướng “bản địa hóa” rồi “Việt  
hóa” dần theo hướng Phật giáo hóa, Nho giáo hóa về sau. Cụ thể, (1) gắn liền với thời  
kỳ đầu của chúa Tiên Nguyễn Hoàng, tôn giáo tín ngưỡng bản địa đặc biệt được tôn  
∗ Phân viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam tại Huế  
69  
 
TRAO ĐỔI - NGHIÊN CỨU  
trọng, (2) sau đó đến quá trình Phật giáo hóa từ mốc tái lập Thiên Mụ tự và (3) sau cùng  
là quá trình Nho giáo hóa. Chính môi trường xã hội đó đã dung dưỡng, định hình nên  
cốt cách con người xứ Thần kinh một thuở có sự ảnh hưởng sâu sắc, hòa quyện đến mức  
khó tách bạch của tư tưởng Tam giáo. Điều đó có thể được nhìn nhận trong những con  
người cụ thể gắn liền với chu kỳ đời người (tuổi trẻ, trung niên, về già khi qua ngưỡng  
“tri thiên mệnh”), thậm chí chỉ trong khoảng thời gian một ngày đêm (sáng sớm, ban  
ngày làm việc, ban đêm).  
Sự chuyển hóa vai trò của tôn giáo tín ngưỡng ở Đàng Trong luôn nổi bật tính chất  
hài hòa, dung dưỡng trên cơ sở tôn trọng hệ giá trị đặc trưng của từng tôn giáo tín  
ngưỡng đương thời, nhằm phát huy tối đa chức năng nhân tâm, cố kết cộng đồng để xây  
dựng một vùng trời mới Đàng Trong. Có lẽ chính vì vậy mà kể cả khi Nho giáo được  
triều đình phong kiến (từ chúa Nguyễn đến vua Nguyễn) xiển dương, Lão giáo và Phật  
giáo vẫn có sự chi phối đời sống xã hội một cách sâu sắc theo dạng phân định đời và  
đạo. Trong phủ chúa Nguyễn vẫn hiện hữu những cơ quan Lão giáo và đến thời  
Nguyễn, các vị sư Phật giáo vẫn đóng vai trò chi phối đời sống lễ nghi, kể cả Nho giáo  
lẫn Đạo giáo, ở chốn cung nội.  
2. Tôn giáo tín ngưỡng ở vùng trời mới Đàng Trong trên con đường đi về  
phương Nam của người Việt, từ thế kỷ XVI  
Đất nước Việt Nam hiện nay về cơ bản là một dải đất hẹp hình chữ S, nối liền hai  
châu thổ Bắc bộ và Nam bộ, nằm kẹp giữa vùng cao nguyên - đồi núi phía Tây và biển  
cả ở phía Đông. Có được thành quả đó, cần có sự nhìn lại những bước tiến đầu tiên của  
các cộng đồng cư dân Việt từ miền ngoài đi về phương Nam, đặc biệt là dấu ấn thời  
chúa Nguyễn, cho đến sự kiện thống nhất đất nước Đại Nam năm 1802 thời Nguyễn.  
Chính thức từ đó, “các cộng đồng dân cư đông đúc và canh tác nông nghiệp lúa nước  
rộng lớn của hai vùng châu thổ được nối bởi hàng ngàn cây số bờ biển hẹp vốn khó  
khăn trong việc liên lạc giao tiếp bằng đường bộ”. Cũng chính khát vọng thống nhất cơ  
bản của lãnh thổ và con người như vậy, đã khắc phục, vượt qua được vô vàn khó khăn,  
trở ngại, phát xuất từ vị trí địa lý của vùng đất, lãnh thổ, kéo theo nhiều hệ lụy về nhân  
quần xã hội suốt chiều dài lịch sử dân tộc.1  
1
Xem thêm phần Dẫn nhập, trong Li Tana, Anthony Reid (Edited,.), Southern Vietnam under the  
Nguyẽ̂n: documents on the economic history of Cochinchina (Đàng Trong), 1602-1777, Pasir Panjang,  
Singapore: Institute of Southeast Asian Studies (Sources for the economic history of Southeast Asia,  
No. 3), 1993.  
70  
 
TRAO ĐỔI - NGHIÊN CỨU  
Khoảng trống đóng vai trò kết nối đó là dải đất miền Trung. Sự nối liền như vậy  
không chỉ diễn ra thuần túy về vị trí, khoảng cách hay đặc tính địa lý mà quan trọng  
hơn, chính là sự tiếp xúc, tương tác, hóa giải mọi sự dị biệt về nền tảng kinh tế, cơ tầng  
xã hội và văn hóa các địa phương, vùng miền, kiến tạo nên vùng đất mới Đàng Trong.  
Những lý do chính trị, quân sự, như sau này là chiến cuộc Đàng Trong - Đàng Ngoài,  
giới tuyến sông Gianh... suy cho cùng, lại càng củng cố, thắt chặt hơn cho lý do đoạn  
tuyệt, xa rời đất Bắc trong những con người tha hương Nam tiến, vốn luôn được cổ súy,  
đồng lõa bởi khoảng cách địa lý lẫn những nét dị biệt trong văn hóa phương Nam so với  
cố hương. Do vậy, khát vọng định hình bản sắc, khẳng định mình trên vùng đất mới  
phương Nam của lớp lớp cư dân Việt, của chính thể mới họ Nguyễn càng được thôi thúc  
trên nền tảng hành trang từ đất Bắc, tích hợp với di sản văn hóa bản địa phương Nam  
một cách hài hòa, thiết thực, phù hợp nhất. Có như vậy, sức sống Việt nơi đây mới có  
thể đứng vững, khẳng định ngày càng mạnh mẽ, hóa giải mọi nguy cơ xung đột, từng  
bước Việt hóa các yếu tố văn hóa bản địa phi Việt.2  
Có thể coi cái nôi châu thổ Bắc Bộ là một tâm điểm, hạt nhân chi phối xuyên suốt  
lịch sử văn hóa Việt Nam, gắn liền truyền thống nông nghiệp lúa nước được phát huy  
tối đa. Do vậy, vùng châu thổ đó trở nên quá chật hẹp, bởi rừng núi và đế chế Trung  
Hoa về phía bắc, phía tây, biển cả phía đông. Người Việt vùng châu thổ đối diện với  
biển nhưng cũng với một thái độ rất đặc thù, là “quai đê lấn biển”, nhờ vào phương thức  
cải tạo điều kiện tự nhiên hữu hiệu: “cây cói đi trước, lúa nước theo sau”3. Do vậy, đi về  
phương Nam, từ rất sớm trong lịch sử dân tộc, đã trở thành sinh lộ độc đạo, định hướng  
chủ đạo suốt quá trình kiến tạo quốc gia lãnh thổ. Xem xét trong bối cảnh đó, có thể  
nhận thấy rõ ý nghĩa đặc biệt trong cái nhìn chiến lược về phương Nam của nhà Trần,  
giải quyết dứt điểm nút thắt Hoành Sơn - Hải Vân Sơn cho công cuộc Nam tiến, qua  
cuộc hôn nhân lịch sử của Huyền Trân công chúa năm Bính Ngọ (1306).4  
Xem xét sự hiện diện và mối quan hệ giữa các yếu tố Việt mang theo từ miền  
ngoài và yếu tố phi Việt bản địa, là vấn đề đặc biệt quan trọng trong việc xác định hệ  
2
Trần Đình Hằng (2009), “Của Người, Của Ta: Thần điện làng Việt miền Trung”, Văn hóa nghệ thuật miền Trung - Hành trình 10 năm tiếp cận  
[HTKH], Huế, Phân Viện VHNTVN tại Huế.  
3
- Từ Chi, Phạm Ðức Dương (1996), “Vài nhận xét về cách ứng xử của người Việt trước biển”, T/c Thông tin KH CN Thừa Thiên Huế, số 1, tr. 24.  
- Gourou, P. (2003), Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ (Nguyễn Khắc Ðạm, Ðào Hùng, Nguyễn Hoàng Oanh d.), H.: Hội KHLSVN, Viện Viễn Ðông  
Bác Cổ Pháp, Nxb Trẻ, tr. 38, 74 - 86, 121.  
- Viện Đông Nam Á (1996), Biển với người Việt cổ (Chủ nhiệm: Phạm Đức Dương; Ch.b: Trần Quốc Vượng, Cao Xuân Phổ), H.: Nxb. VHTT, tr. 43-92.  
4
- Cao Huy Thuần (2005), “Vạn đại dung thân”, trong Nhiều tác giả, Tiếp tục đổi mới kinh tế và xã hội để phát triển, Kỷ yếu Hội thảo Mùa Hè, Đà  
Nẵng (28 - 30/7). T/c Thời Đại Mới, số 6 (2005).  
- Nguyên Ngọc (2005), “Quảng Nam, đôi suy nghĩ về một bước đi độc đáo trên hành trình dân tộc”, trong Từ Đông sang Tây (tập biên khảo về khoa  
học xã hội và nhân văn), Cao Huy Thuần, Nguyễn Tùng, Trần Hải Hạc, Vĩnh Sính Ch.b, Đà Nẵng: Nxb Đà Nẵng, tr. 151 - 166.  
71  
     
TRAO ĐỔI - NGHIÊN CỨU  
giá trị bản sắc và bản lĩnh Việt trên vùng đất mới phương Nam, hình thành sắc thái  
riêng của văn hóa miền Trung, văn hóa miền Nam. Chính thức từ năm 1306, người Việt  
đã hiện diện tới tận bờ bắc sông Thu Bồn. Tuy nhiên, yếu tố Việt vẫn còn mờ nhạt bởi  
tính chất “thiểu số”, thậm chí cả hơn trăm năm sau, khi vua Lê Thánh Tông nam chinh  
năm 1470 - 14715 và hầu hết những ngôi làng cổ của xứ Thuận - Quảng vẫn chỉ được  
ghi nhận một cách rõ nét trong Ô Châu cận lục (1553 - 1555).6  
Từ nội tình một dòng họ, dẫn đến cơ duyên lịch sử trọng đại là họ Nguyễn về nam  
(Đoan Quận công Nguyễn Hoàng, Mậu Ngọ - 1558), ươm mầm một thế lực chính trị  
mới đương thời. Rõ ràng, họ Trịnh muốn dồn cậu em vợ vào tử địa Thuận Hóa (sơn lam  
chướng khí, nơi tụ họp, ẩn náu của các thế lực nhà Mạc, tù tội tị nạn…) nhưng có thể  
nói, xu thế Nam tiến khách quan của lịch sử và tài năng lỗi lạc của Đoan Quận công đã  
dần xoay chuyển tình thế, biến tử lộ trở thành sinh lộ7. Tất cả, cộng hưởng với tính chất  
cách mạng tiên phong trong con người Thanh - Nghệ “cương cường”8 dũng cảm rời bỏ  
quê hương bản quán để ra đi tìm đất mới, những “Trung nghĩa quân” theo chúa Tiên  
buổi đầu đầy cam go, góp phần ươm mầm thành công một chính thể mới Đàng Trong  
phía nam Hoành Sơn.  
Từ việc củng cố vùng đất đứng chân buổi đầu suốt dải đất Hoành Sơn - Hải Vân  
Sơn vốn có sứ mệnh chính trị tư tưởng nhưng lại nghèo tiềm năng kinh tế, phải đến lúc  
5
Bùi Trành, Thuỷ thiên bản, lưu giữ tại Nhà thờ họ Bùi làng Câu Nhi (Hải Lăng, Quảng Trị), khởi viết  
năm Thuận Thiên 2 (1429), qua sáu lần sao lục, bản gần đây thời Tự Đức, Khải Định. Bản dịch của Bùi  
Hoành, không đề năm dịch.  
6
Vô danh thị (2001), Ô châu cận lục, Dương Văn An nhuận sắc, tập thành, Trần Đại Vinh, Nguyễn Văn Phước  
tân dịch, hiệu chú, Huế: Nxb Thuận Hóa.  
7 - Bản sớ của Trịnh Kiểm gửi vua Lê Anh Tông cho Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa nhấn mạnh: “Thuận Hóa  
là nơi quan trọng, quân và của do đấy mà ra, buổi quốc sơ nhờ đấy mà nên nghiệp lớn. Nay lòng dân hãy còn  
tráo trở, nhiều kẻ vượt biển đi theo họ Mạc, sợ có kẻ dẫn giặc về cướp, ví không được tướng tài trấn thủ vỗ  
yên thì không thể xong. Đoan Quận công là con nhà tướng, có tài trí mưu lược, có thể sai đi trấn ở đấy, để  
cùng với tướng trấn thủ Quảng Nam cùng nhau giúp sức thì mới đỡ lo đến miền nam”. Vua nghe theo và trao  
cho họ chúa trấn tiết, phàm mọi việc đều ủy thác cả, chỉ mỗi năm nộp thuế mà thôi (QSQ triều Nguyễn,  
2002, Đại Nam thực lục, tập I, bản dịch Viện Sử học, H.: Nxb Giáo dục, tr. 29).  
- Trần Ðình Hằng (2008), “Từ Cô Gái Áo Xanh ở Ái Tử (Quảng Trị) đến Bà Trời Áo Đỏ ở Thiên Mụ  
(Huế): Sinh lộ tư tưởng của vùng đất mới Nam hà”, trong UBND tỉnh Thanh Hoá - Hội KHLS Việt  
Nam, Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, H.:  
Nxb Thế giới, tr. 524 - 532 (Kỷ yếu HTKH, Thanh Hoá, 18 - 19/10).  
8
“Dư địa chí”, trong Nguyễn Trãi (1978), Toàn tập, in lần thứ 2, có sửa chữa và bổ sung, H.: Nxb  
KHXH, tr. 231 - 234.  
72  
       
TRAO ĐỔI - NGHIÊN CỨU  
nhãn quan chính trị của các chúa Nguyễn vượt qua Hải Vân, thì xứ Quảng “là nơi giàu  
có nhất thiên hạ”, có thương cảng Hội An hoạt động nhộn nhịp điển hình, mới thực sự  
bổ sung được nguồn lực kinh tế cho chính thể mới Nam hà9. Các chúa Nguyễn làm chủ  
trọng trấn Quảng Nam với nhiều nguồn lợi nông nghiệp vùng châu thổ dọc lưu vực sông  
Thu Bồn cùng vô vàn nguồn lợi lâm thổ sản có giá trị hàng hóa quốc tế. Tuy nhiên, đích  
hướng đến có tính chiến lược trên con đường Nam tiến của người Việt lúa nước thực sự  
mở ra khi đến với Đồng Nai - Gia Định “đất rộng người thưa” thẳng cánh cò bay, một  
hậu phương vững chắc.  
Có lẽ nền tảng kinh tế là một trong những vấn đề then chốt chi phối trở lại cho  
một kết cấu quyền lực trong bức tranh chính trị Đại Việt giai đoạn từ thế kỷ XVI về sau,  
dẫn đến sự khác biệt giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài. Ở đây, yếu tố biển quyết định tới  
trình độ phát triển của kinh tế ngoại thương gắn liền ngành hàng hải thịnh đạt... đã đem  
lại nguồn lực mạnh mẽ cho chính thể Nam hà. Sự tái phục hồi cảng thị Hội An là một  
điển hình cho nhãn quan chính trị thông thương, mở cửa của các chúa Nguyễn, trong  
mối quan hệ xuôi ngược của nội thương và ngoại thương sầm uất. Hơn nữa, xứ Đàng  
Trong là một vùng đa dân tộc, mang đậm bản sắc văn hóa tộc người vốn còn ít chịu ảnh  
hưởng Nho giáo như Đàng Ngoài. Trên một nền tảng kinh tế - xã hội đặc trưng như vậy,  
có thể nhận thấy: “Theo nhiều khía cạnh, nhà nước phía nam Việt Nam thuộc về ‘Đông  
Nam Á’ nhiều hơn so với nhà nước đối đầu ở phương bắc”.10  
Đặt trong bối cảnh lịch sử chính trị xã hội Việt Nam từ giữa thế kỷ XVI đầy biến  
động, sự tồn tại của thế lực Nguyễn Hoàng thật quá cam go. Nhãn quan chính trị lỗi lạc  
của ông sớm nhận ra phương Nam đầy sức sống tiềm tàng, vượng khí bao trùm nhưng  
phải đi qua tử lộ Ô - Rí phía nam Hoành Sơn. Để thoát hiểm, hầu như ông chỉ còn lại  
phương cách duy nhất là thoát khỏi lòng chảo Bắc bộ để đi về phương nam. Nhìn nhận  
vấn đề một cách sâu rộng hơn thì có lẽ nó lại trở thành đại biểu cho việc khơi nguồn giải  
quyết nạn nhân mãn ở châu thổ sông Hồng, qua việc thực hiện lời sấm truyền “Hoành  
Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, tương truyền là của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm,  
nhằm giảm thiểu cảnh nhồi da xáo thịt, là giải pháp chiến lược giải quyết nạn “nhân  
9 Lê Quý Đôn (1977), Toàn tập, T.1. Phủ biên tạp lục, H.: Nxb. KHXH, tr. 240, 337.  
10 Li Tana, Anthony Reid (Edited, .), 1993, phần Dẫn nhập, Tlđd,.  
73  
   
TRAO ĐỔI - NGHIÊN CỨU  
mãn”. Qua Hoành Sơn trở thành sinh lộ “độc đạo” trên chính trường đương thời, khả dĩ  
không bị tiêu diệt.11  
Từ đó, có thể thấy được tầm vóc của chúa Tiên trong việc kiến thiết nền tảng  
dựng nghiệp buổi đầu. Mưu đồ cát cứ, với những bước đi chắc chắn, thậm chí là “khổ  
nhục kế”12 nhưng không có con đường nào khác, ông vẫn giương cao ngọn cờ “phù Lê  
diệt Trịnh” bởi không muốn mang tiếng “soán nghịch”, “vô đạo”. Mặc dù xã hội Lê mạt  
rối ren nhưng ngọn cờ trung quân truyền thống và tư tưởng Nho giáo vẫn chính danh.  
Vấn đề có tính chiến lược từ buổi đầu của họ Nguyễn là phải xác lập nền tảng tư tưởng  
thống nhất để cố kết xã hội, làm chất keo kết dính cộng đồng, định hướng tinh thần cho  
quốc gia lãnh thổ mà vẫn không vượt khỏi, không rập khuôn máy móc “khuôn vàng  
thước ngọc” định chuẩn Nho giáo đương thời từ miền Bắc. Phật giáo từng bước đảm  
đương được sứ mạng cao cả đó trên vùng đất mới Đàng Trong.  
Nhiều nghiên cứu đánh giá cao thời Đàng Trong trong diễn trình lịch sử và văn  
hóa Đại Việt khi chỉ ra điểm đặc biệt ở trường hợp Việt Nam, dễ dàng có thể kể đến  
nhiều sự kiện cụ thể đã đem lại cho xứ sở này 3/5 diện tích nhờ vào quyết định rời khỏi  
kinh đô Thăng Long của chúa Tiên Nguyễn Hoàng, những tưởng là một nước cờ thí. Từ  
ý tưởng tống khứ một địch thủ, Trịnh Kiểm đã đi sai nước cờ bởi không những không  
thành công mà còn trao cho Nguyễn Hoàng một vương quốc. Không chỉ dừng lại ở đó,  
11  
Thiên tai, địch họa, mất mùa đói kém cùng nạn cường hào nhũng nhiễu ở miền Bắc càng làm tăng  
cường độ di cư và “chẳng có con đường nào về phía Tây và thật quá khó khăn, không thể đi về phương  
Bắc. Vì vậy chúng ta nên cố hết sức mình để tiến về phía Nam” (Nguyễn Cư Trinh, Sãi Vãi).  
12 Tháng 5/Nhâm Thìn (1592), chúa Tiên mang binh quyền ra Đông Đô yết kiến, vua Lê yên ủi: “Ông làm  
trấn thủ hai xứ, dân nhờ được yên, công ấy rất lớn”, phong Trung quân đô đốc phủ tả đô đốc chưởng  
phủ sự Thái úy Đoan Quốc công. Sau 8 năm đánh đông dẹp bắc “phò Lê”, tháng 5/Canh Tý (1600),  
chúa Tiên mới trở về nam nhân sự kiện các tướng nhà Lê là Phan Ngạn, Bùi Văn Khuê, Ngô Đình Nga  
làm phản ở cửa biển Đại An (thuộc Nam Định). Cho dời dinh phủ sang Dinh Cát. Đến tháng 10, mới gả  
công chúa Ngọc Tú cho Trịnh Tráng (con cả của Trịnh Tùng) và “từ đấy, chúa không ra Đông Đô nữa”  
(QSQ triều Nguyễn,2002, Thực lục, Tlđd, tr. 33-35).  
Ngay khi còn ở Đông Đô, chúa Tiên vẫn dõi theo hành trình nam tiến, trong việc khai hoang vỡ đất.  
Lệnh truyền của Tổng trấn Thuận Quảng năm 1597 cho Phù Nghĩa hầu Lương Văn Chánh nói rõ rằng:  
“...Hãy liệu đem số dân xã Bà Thê đã trục vào hạng dân và các thôn phường khách hộ theo hầu công  
việc, lấy riêng số dân khách hộ đến các xứ Cù Mông, Bà Đài, Bà Diễn, Bà Niễu, trên từ nguồn mọi,  
dưới đến cửa biển, kết lập gia cư địa phận, khai khẩn ruộng đất hoang cho tới khi thành thục sẽ nộp thuế  
như lệ thường...” (Trần Viết Ngạc, 1999, “Về một công văn của Tổng trấn Thuận Quảng Nguyễn Hoàng  
năm 1597”, Nghiên cứu Huế, tập I, Trung tâm Nghiên cứu Huế, tr. 306).  
74  
   
TRAO ĐỔI - NGHIÊN CỨU  
diễn tiến của câu chuyện về nam của ông và hậu duệ đã góp phần quan trọng trong việc  
làm thay đổi toàn bộ lịch sử Việt Nam và thậm chí, của cả Đông Nam Á13.  
Trong hệ tham chiếu của lý thuyết về một khu trung tâm, Thăng Long mang đậm  
dấu ấn văn minh Đại Việt từ thời Lý - Trần - Lê. Từ thế kỷ XVI, Thuận Quảng đã ươm  
mầm một thế lực chính trị mới của họ Nguyễn ngày càng hùng mạnh, tạo nên bức tranh  
lãnh thổ và lịch sử - văn hóa Đàng Trong hoàn bị trong sự đa dạng, mang nhiều dáng  
dấp khác biệt và nổi trội, năng động hơn Đàng Ngoài. Tất cả, chính là tiền đề căn bản  
cho sự tái lập vương triều Nguyễn đầu thế kỷ XIX. Ở đây, Li Tana đã rất chú trọng tới  
sự khác biệt giữa hai xứ sở, đặc biệt là xuất phát từ ý thức hệ làm nền tảng tư tưởng, khi  
mà Nho giáo đã thống trị Đàng Ngoài suốt một thời kỳ dài, còn ở Đàng Trong, lại chưa  
được đề cao, thậm chí chưa được biết đến14.  
Tuy nhiên, điểm khác biệt mà chúng tôi nhận thấy là quan niệm về Tam giáo đồng  
nguyên trong xã hội Đàng Trong, hoàn toàn chưa hẳn là một xã hội có sự hiện hữu, chi  
phối đồng thời của cả Đạo giáo, Phật giáo và Nho giáo; hoặc một xã hội “hữu Phật, phi  
Nho” theo cách nói của Li Tana15.  
Chúng tôi muốn nhấn mạnh, đi sâu phân tích khía cạnh tư tưởng của chính thể Nam  
hà qua ba giai đoạn: (1) từ việc chú trọng các truyền thống văn hóa bản địa (quá trình bản  
địa hóa) ở thời kỳ đầu; (2) chuyển hóa vai trò nổi bật của các vị nữ thần - Bà Mẹ Xứ Sở  
thành Phật Bà mang dáng dấp Quan Âm để định hình vai trò chủ đạo, đảm đương vai trò  
hệ tư tưởng chính thống của Phật giáo ở giai đoạn giữa; (3) và sau cùng, là sự nổi trội của  
Nho giáo, một khi Đàng Trong đã có sự hoàn bị, kiện toàn theo hướng tập quyền, phong  
kiến hóa theo mô hình thiên triều phương Bắc.  
Một điều như có vẻ ngẫu nhiên khi sử sách nói việc Nguyễn Hoàng cho tái xây  
dựng chùa Thiên Mụ (1601)16. Tín ngưỡng thờ nữ thần rất phổ biến đương thời nhưng  
13 Li Tana (1999), Xứ Ðàng Trong, lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII, Tp. HCM: Nxb.  
Trẻ, Dẫn nhập, tr. 15.  
14 Li Tana, Xứ Ðàng Trong…, Tlđd, tr. 16.  
15  
Li Tana (2001), “Xứ Đàng Trong thế kỷ XVII và XVIII. Một mô hình khác của Việt Nam”, trong  
Nhiều tác giả, Những vấn đề lịch sử Việt Nam, H.: Nxb. Trẻ - Xưa & Nay, tr. 186.  
16  
“Bấy giờ chúa dạo xem hình thế núi sông, thấy trên đồng bằng xã Hà Khê (thuộc huyện Hương Trà),  
giữa đồng bằng nổi lên một gò cao, như hình đầu rồng quay lại, phía trước nhìn ra sông lớn, phía sau có  
hồ rộng, cảnh trí rất đẹp. Nhân thế hỏi chuyện người địa phương, họ đều nói rằng gò này rất thiêng, tục  
truyền rằng: Xưa có người đêm thấy bà già áo đỏ quần xanh ngồi trên đỉnh gò nói rằng: 'Sẽ có vị chân  
chúa đến xây chùa ở đây, để tụ khí thiêng, cho bền long mạch'. Nói xong bà già biến mất. Bấy giờ nhân  
đấy mới gọi là núi Thiên Mụ. Chúa cho nơi ấy có linh khí, mới dựng chùa, gọi là chùa Thiên Mụ” (QSQ  
triều Nguyễn, 2002, Thực lục, Tlđd, tr. 35).  
75  
       
TRAO ĐỔI - NGHIÊN CỨU  
điểm đáng bàn là tài năng chính trị nhạy bén xuất chúng của chúa Tiên đã kịp thời nắm  
bắt, khai thác và hướng tất cả vào mục tiêu bình ổn nhân tâm. Điểm đáng chú ý là trước  
thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng, người Việt di cư đã “Việt hóa” vị nữ thần Bà Mẹ Xứ Sở  
này bằng cách phiên âm, chuyển hóa Bà trở thành bà Thiên Mụ qua cả một chặng  
đường dài đầy cam go, từ Poh Inư Nagar [Bà Mẹ Xứ Sở] thành Thiên Y A Na [theo âm  
Hán Việt] có nghĩa là Bà Mẹ Trời Đất/Xứ Sở, lại được cô đọng thành Thiên Mẫu, và dân  
gian thường gọi là Thiên Mụ. Từ đó, Phật giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống, trên  
cơ sở tích hợp tín ngưỡng bản địa, thông qua việc tái lập chùa Thiên Mụ, từ một giai  
thoại, truyền tích Bà Trời Áo Đỏ17. Cũng trên phông nền chung đó, có lẽ hiện tượng/sự  
kiện Đức Mẹ hiện ra ở La Vang (Quảng Trị) hồi cuối thế kỷ XVIII, cũng là một phương  
thức tiếp nhận, tiếp cận và vận dụng quá trình thiêng hóa tín ngưỡng nữ thần bản địa  
dưới góc độ tôn giáo.  
Điều đó lại thêm phần ý nghĩa khi trước đây, Nguyễn Hoàng từng rất ghét đạo  
Phật: “Ngày trước, khi còn ở Trung đô, một hôm giả vờ ốm mệt đi dạo chơi ở ngoài, bị  
một gã thầy chùa làm nhục. Từ đó ôm giận nhà chùa, hễ khi có việc chay đàn sám  
nguyện cầu phúc thường chỉ chuộng dùng đạo sĩ, không dùng tăng thích. Các nhà sư  
đều lánh xa, không ai dám đến hầu”18.  
Những sự kiện này nhấn mạnh đến “... khả năng của Nguyễn Hoàng là nhân tố  
quyết định và ông đã được Nguyễn Bỉnh Khiêm, một nhà hiền triết của quốc gia xức  
dầu thánh phong làm người trị vì miền Nam...”19. Nếu nói thực thi câu sấm của Trạng  
Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, mới dẫn đến cơ duyên Nguyễn Hoàng vào Nam20, thì theo  
Trịnh - Nguyễn diễn chí, sự kiện này diễn ra rất muộn, mãi cho đến mùa hè năm Canh  
Tý (1600), có nghĩa là cậu cháu Nguyễn Hoàng - Nguyễn Ư Dĩ đã vào Nam những hơn  
40 năm rồi, do “phải tính kế giữ mình, nhưng không nghĩ ra cách gì”, mới tới xin Trình  
Quốc công vấn kế, thì được ông cho tờ giấy vẻn vẹn 8 chữ: Hoành Sơn nhất đái, vạn đại  
17 - Trần Đình Hằng (2008), “Từ Cô Gái Áo Xanh...”, Tlđd.  
- Trần Đình Hằng (2008), “Tiếp xúc văn hoá Việt - Champa ở miền Trung: nhìn từ làng xã vùng Huế”,  
Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần III, Hà Nội, 4-7/12.  
- Nguyễn Hữu Thông, Nguyễn Phước Bảo Đàn, Trần Đình Hằng…, (2006), Hải Cát: Đất và Người, Huế:  
Nxb. Thuận Hoá.  
18  
Nguyễn Khoa Chiêm (1994), Việt Nam khai quốc chí truyện (Ngô Ðức Thọ, Nguyễn Thuý Nga dịch  
chú và giới thiệu), H.: Nxb. Hội Nhà văn, tr. 38).  
19 Taylor. Keith W. (2001), “Nguyễn Hoàng và bước mở đầu...”. Tlđd, tr. 97.  
20  
Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư (Nội các quan bản, mộc  
bản khắc năm Chính Hoà 18 [1697]), bản dịch Viện KHXHVN, H.: Nxb. KHXH, tr. 606, 611.  
76  
       
TRAO ĐỔI - NGHIÊN CỨU  
dung thân”21. Chính từ đây, chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò ẩn dật nhưng tối  
quan trọng của Khai quốc công thần Uy Quốc công Nguyễn Ư Dĩ, nay vẫn được người  
dân thờ tự ở xóm Nam Bôi, làng Trà Liên (Triệu Giang, Triệu Phong, Quảng Trị).  
Đoạn đường Ái Tử - Phú Xuân chỉ ngắn ngủi chừng 65 km nhưng phải mất tới 78  
năm (1558 - 1636), hai đời chúa (Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Nguyên) mới từng bước  
tiệm cận được Kim Long đầy thận trọng, bởi phải tôn trọng yếu tố văn hóa bản địa  
phương Nam nhiều dị biệt, nhất là tín ngưỡng thờ nữ thần, theo hướng tích hợp và tránh  
mọi nguy cơ xung đột có thể diễn ra22. Trong quá trình trung chuyển từ việc tiếp thu di  
sản văn hóa bản địa phương Nam để từng bước định hình nên giá trị bản sắc, có lẽ vì  
vậy mà Taylor cũng nhận thấy: “Các giai thoại ghi lại sự gặp gỡ giữa Nguyễn Hoàng  
với thần linh địa phương và thiết lập nơi thờ cúng gợi cho thấy việc áp dụng một  
phương thức đặc biệt Việt Nam trong sự thiết lập một địa điểm mới của quyền lực hợp  
pháp, lần đầu tiên tại vùng đất mới phương Nam”23.  
Ở dạng thức này, chúng tôi đã từng dẫn chứng nhiều sự kiện cần lưu ý24. Ngay ở  
Ái Tử buổi đầu, trước hiện tượng người dân bản địa mang 7 chum nước đến vẩy mừng  
vị tân trấn thủ, lời giải thích của vị quốc cữu Nguyễn Ư Dĩ rất có ý nghĩa: “Đấy là phúc  
Trời cho đó. Việc trời tất có hình tượng. Nay chúa thượng mới đến mà dân đem nước  
dâng lên, có lẽ là điềm được nước đó chăng” 25. Trong trận chiến trên sông Ái Tử, cho  
dù mỹ nhân kế là “mẹo vặt”, “thủ đoạn” rất “không đáng mặt trượng phu”, dễ làm mất  
lòng người, nhưng chúa Tiên đã sớm vận dụng nguyên tắc “thiêng hóa” theo dạng thức  
nữ thần sông Trảo Trảo (Cô Gái Áo Xanh) báo mộng để có được chiến thắng, trấn an  
quân tình. Tương tự, ở mức độ đỉnh cao là việc kiến tạo nên hình tượng Bà Trời Áo đỏ  
để khai sinh chùa Thiên Mụ. “Có vẻ đó là hình ảnh của tin tưởng tôn giáo tiên tri của  
phương Nam trùng hợp với quan niệm mong đợi chân chúa Nho giáo được đưa ra để  
ủng hộ ý thức phân ly thành hình trong con người Nguyễn Hoàng sau lần trốn về nam  
(1600)”26.  
21  
Nguyễn Khoa Chiêm (1994), Việt Nam khai quốc chí truyện (Ngô Ðức Thọ, Nguyễn Thuý Nga dịch  
chú và giới thiệu), H.: Nxb. Hội Nhà văn, tr. 73.  
22 Trần Đình Hằng, “Từ Cô Gái Áo Xanh ở Ái Tử...”, 2008, Tlđd.  
23 Taylor. Keith W. (2001), “Nguyễn Hoàng và bước mở đầu cuộc Nam tiến của người Việt”, trong Nhiều  
tác giả, Những vấn đề lịch sử Việt Nam, H.: Nxb. Trẻ - Nguyệt san Xưa & Nay, 2001, tr. 179).  
24 Trần Đình Hằng (2008), “Từ Cô Gái Áo Xanh ở Ái Tử...”, Tlđd.  
25  
QSQ triều Nguyễn (1997), Ðại Nam liệt truyện, tập I, Tiền biên, Huế.: Nxb. Thuận Hóa, tr. 83.  
26 Tạ Chí Đại Trường (2006), Thần, Người và Đất Việt, H.: Nxb. VHTT, tr. 211.  
77  
           
TRAO ĐỔI - NGHIÊN CỨU  
Thời chúa Nguyễn, theo Onishi Kazuhiko, Đạo giáo có vai trò đặc biệt quan trọng  
mà lâu nay, thường ít được các nhà nghiên cứu quan tâm, được thể hiện cụ thể qua các  
thiết chế ty như Nội pháp lục, Huyền pháp, Đạo sĩ đạo lục, Tứ quí, Đạo sĩ lương y. Điều  
đó được tác giả đi sâu phân tích từ dẫn chứng về chùa Thiên Tôn ở Quảng Trị27.  
Có thể thấy Thực lục tiền biên thường đề cập đến việc chúa Nguyễn Hoàng  
“thường kinh dinh đất này [Phú Xuân và vùng đất nam Hải Vân]”. Dù rằng xem ra sử  
liệu đề cập có vẻ như rất tình cờ, kể cả chuyện cử người con trai thứ sáu đầy tài năng  
Nguyễn Phúc Nguyên trấn thủ Quảng Nam - cửa ngõ kinh tế ngoại thương, trọng trấn  
phương Nam..., nhưng đặt trong bối cảnh đó, có thể thấy sự kiện Hà Khê - Thiên Mụ tự ra  
đời trên nền tảng giai thoại dân gian về Bà Trời Áo Đỏ cùng lời sấm truyền liên quan đến  
vị “chân Chúa” xuất hiện là một bước chiến lược trên con đường phát triển Đàng Trong  
về nam, mở đầu từ chúa Tiên và được các chúa kế tục tuân thủ thực hiện. Vấn đề không  
còn là “quân tình” giới hạn trong một trận đánh ở Ái Tử chật hẹp nữa mà Bà Trời Áo đỏ  
đã mang một sứ mạng khác, tầm vóc quốc gia lãnh thổ, hay chí ít cũng là vùng miền -  
“dân tình” để cố kết nhân tâm, xác lập hệ tư tưởng khi đã có sự chuyển hóa về chất lẫn  
mang lớp áo Phật giáo, trở thành Phật Bà Quán Thế Âm.  
Phân tích các dữ liệu từ chính sử, có ý kiến nói Nguyễn Hoàng “có xu hướng thu  
hút bởi các nữ thần”28. Tuy nhiên, theo chúng tôi, những nhận định đó chỉ sát thực ở giai  
đoạn đầu, hay một nửa, là lúc mà tính chất Đông Nam Á tiệm cận nhất, khi ông “có đủ  
đức độ để giành được sự quan tâm và giúp đỡ của các thế lực siêu nhiên”29. Còn về sau,  
khi chính thể họ Nguyễn đi chệch khỏi quỹ đạo đó, bế môn tỏa cảng bởi lo sợ ảnh hưởng  
ngày càng lớn của các nước phương Tây để quay trở về chịu ảnh hưởng cố hữu của thiên  
triều phương Bắc, quá trình phong kiến hóa bắt đầu thì yếu tố Nho giáo/vai trò của Nho sĩ  
ngày càng được củng cố30. Rõ ràng là không hoàn toàn các nữ thần “thu hút” Nguyễn  
Hoàng tuyệt đối mà cũng có thể lập luận ngược lại, rằng tài năng của Chúa Tiên đã thấy  
được ở đó sức mạnh cố kết nhân tâm, mà ông, khi đang mưu cầu nghiệp bá cho chính  
27  
Onishi Kazuhiko (2013), “Đạo giáo thời chúa Nguyễn qua nghiên cứu chùa Thiên Tôn tại làng Đâu  
Kênh, tỉnh Quảng Trị”, trong Kỷ yếu hội thảo Quảng Trị - Đất dựng nghiệp của chúa Nguyễn Hoàng  
(1558-2013), Quảng Trị: UBND tỉnh Quảng Trị- Hội Khoa học Lịch sử VN, tháng 9, tr. 122-136.  
28 Tạ Chí Đại Trường (2006), Thần, Người và Đất Việt, Tlđd, tr. 210.  
29 Taylor. Keith W. (2001), “Nguyễn Hoàng...”, Tlđd, tr. 98.  
30  
Trong Nam hà tiệp lục, tác giả nhìn nhận rằng các chúa sớm “thấy việc dùng binh là cấp thiết nhưng  
Nho học là điều không thể thiếu” (Lê Đản, Nam hà tiệp lục, Tài liệu Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Huế,  
Nguyễn Đình Thảng d., Phòng Tư liệu Khoa Lịch sử Trường ĐHKH Huế, 1999).  
78  
       
TRAO ĐỔI - NGHIÊN CỨU  
thể mới đang cần, theo nguyên tắc “thiêng hóa”. Đồng thời, cũng khẳng định yếu tố bản  
sắc - bản địa hóa, từ cấp độ làng xã, cho đến vùng miền, và sau cùng là quốc gia lãnh  
thổ. Tất cả, nhằm giúp khẳng định tính chính danh, vấn đề nhân tâm: hợp lòng người,  
thuận ý trời.  
Tài năng của các vị chúa Nguyễn thể hiện rõ ở khía cạnh tư tưởng này và đó chính  
là nền tảng vững chắc nhất cho hệ thống chính quyền được hoàn bị, mà Huế là điểm  
dừng sau cùng của quá trình định đô. Taylor. K. bằng việc phân tích hai bộ chính sử  
Toàn thư và Thực lục, đã khắc họa rõ nét hai hệ thống quan điểm nhìn nhận, từ hai hệ  
qui chiếu khác nhau, tạm gọi là tính chất Đông Á và Đông Nam Á. Theo đó thì Toàn  
thư nêu bật ý tưởng về Nguyễn Hoàng như một kẻ xảo trá, ngạo mạn và đầy tham vọng,  
người đe dọa nền hòa bình và ổn định quốc gia, người không thể lay chuyển bởi yêu cầu  
về lòng trung thành. Còn Thực lục lại phác họa ông như một người làm những gì mình  
muốn, người làm họ Trịnh lo sợ; điều này không quá mâu thuẫn với cách nhìn của  
phương Bắc. Nhưng nó còn cho thấy Nguyễn Hoàng là người có số mệnh vượt ra ngoài  
đường chân trời của các bậc tiền bối, người gây nên tiếng vang với phong cảnh của  
vùng đất mới, các thế lực siêu nhiên cư ngụ ở đó và những cơ hội có được. Đàng Trong  
gắn liền với biểu tượng của khát vọng tự do, rộng mở và cả tính cách mạng, mà sự  
nghiệp của các chúa Nguyễn được ví như “cánh chim bằng của miền Thuận Quảng”. Do  
vậy không phải ngẫu nhiên, có ý kiến cho rằng ranh giới của tính chất Đông Nam Á đó  
chí ít cũng từ Hoành Sơn, hay rõ nét nhất là ở Hải Vân Sơn, và “Cuộc gặp gỡ của ông  
với thế giới rộng lớn vùng Đông Nam Á đã đem lại một bài học kinh nghiệm mới về sự  
tự do. Ông dám chấp nhận bị tuyên án là một kẻ chống lại triều đình nhà Lê bởi ông đã  
tìm được vùng đất, nơi những lời tuyên bố như vậy không còn quan trọng nữa. Giao  
điểm của Đông Nam Á và Việt Nam là chỗ để thử nghiệm những lựa chọn về việc nên  
là như thế nào mà không cần một mô hình vũ lực. Ở phương Nam, Nguyễn Hoàng là  
trung tâm của một quốc gia Việt Nam mới...”31.  
Tôn trọng sắc thái văn hóa bản địa và từng bước tích hợp với truyền thống văn hóa  
Thăng Long trên vùng đất mới một cách phù hợp là tinh thần xuyên suốt trong chiến  
lược nhân tâm của các chúa Nguyễn. Tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc đó và dấu ấn  
Phật giáo đã góp phần chính yếu tạo dựng nên sắc thái văn hóa Đàng Trong.  
Trong lịch sử, có hai thời kỳ Phật giáo hòa mình thành sức mạnh quốc gia, dân  
tộc: thời Lý - Trần và thời chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Tuy nhiên, xét đến tận cùng, ở  
31 Taylor. Keith W., “Nguyễn Hoàng...”, Tlđd, tr. 175, 181.  
79  
 
TRAO ĐỔI - NGHIÊN CỨU  
đây đã có sự khác biệt căn bản về bản chất: tính chiến lược ở thời Lý - Trần, nhưng chỉ  
là sách lược thời Đàng Trong. Tính chất sách lược ở đây là bởi trong một bối cảnh bất  
đắc dĩ, không thể chọn lựa Nho giáo vì phải tránh tiếng soán nghịch, bất đạo theo quan  
điểm Nho gia truyền thống Thăng Long của nhà Lê. Trên độc đạo đi về phía nam, Phật  
giáo được lựa chọn như là một sinh lộ duy nhất trên cơ sở kế thừa, tích hợp các tín  
ngưỡng bản địa, mà nổi bật là dấu ấn của các nữ thần. Một khi đủ mạnh, chính quyền  
Đàng Trong lại sớm quay trở lại con đường “phong kiến hóa”, với mục đích sau cùng là  
xác lập một chính thể phong kiến, thì đương nhiên Nho giáo không thể thiếu. Việc cải tổ  
bộ máy hành chính theo hướng dân sự hóa cho thấy rõ điều đó, thậm chí còn tự xưng là  
Quốc chúa, hay Quốc vương. Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu còn sai Nguyễn Quang Tiền  
soạn biểu tiến cống, giao cho giám sinh Hoàng Thần, tăng đồ Hưng Triệt sang nhà  
Thanh cầu phong. Đồng thời, là các động thái xây dựng Văn miếu, đàn Nam Giao và tổ  
chức tế Giao, các kỳ Quận thí, Hội thí mùa xuân, mùa thu 32 v.v…  
Đàng Trong từ “hữu Phật phi Nho”, dần chuyển sang một xã hội ngày càng đậm  
nét Nho giáo, và chính quá trình phong kiến hóa gắn liền với sự lớn mạnh của chính thể  
mới Nam hà đã càng làm chậm lại, dẫn đến đứt gãy quá trình tiệm cận tính chất Đông  
Nam Á của xứ này, cả về ngoại thương lẫn tư tưởng. Suy cho cùng, đó cũng là nguyên  
nhân sâu xa cho vấn đề và cũng là thực trạng “bế quan tỏa cảng” của xã hội Việt Nam  
giai đoạn từ thế kỷ XVIII - XIX.  
Trong chiến cuộc Nguyễn - Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã bằng mọi cách để tái lập  
vương triều Nguyễn, trong đó có sự bén duyên tác hợp Pháp - Việt một cách chính thức,  
lâu dài, kể từ câu chuyện Giám mục Bá Đa Lộc, Hoàng tử Cảnh. Vua Gia Long phải  
chịu ơn và trả nghĩa cho người Pháp. Xu hướng mở rộng thuộc địa, tìm kiếm thị trường  
của các nước thực dân, tư bản ngày càng nổi bật và phương Đông là những thành trì  
màu mỡ cần công phá trước tiên, dưới nhiều danh nghĩa, lớp áo thương mại, tôn giáo,  
chuyển giao khoa học công nghệ v.v… Cuộc đụng độ văn minh Đông - Tây với nhiều  
sự khác biệt đến cách biệt, từ đó, đã làm cho vua Gia Long nhìn thấu được nhiều nguy  
cơ có thể làm nguy hại tới vận mệnh đất nước, nên đã có sự chọn lựa đồng minh truyền  
thống là thiên triều phương Bắc. Từ đó, người Pháp và Thiên Chúa giáo đã gặp không ít  
khó khăn ở Đại Nam khi triều đình xiển dương Nho giáo, Phật giáo và Lão giáo luôn có  
một sức sống bền chặt, sâu rộng trong đời sống người dân.  
32 Theo Tiền biên thì kỳ thi Đình đầu tiên được tổ chức năm Bính Tuất (1646) thời chúa Thượng; đến năm  
Quý Dậu (1693), tổ chức được 7 kỳ thi, tuyển 140 người; chỉ riêng các năm 1694 - 1695, số văn chức  
được tuyển đã lên đến 285 người v.v...  
80  
 
TRAO ĐỔI - NGHIÊN CỨU  
Cho đến cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, mối quan hệ hài hòa, dung dưỡng trong  
tư tưởng Tam giáo và tôn giáo tín ngưỡng bản địa vẫn còn được ghi nhận đậm nét. Sớ  
điệp công văn cung cấp nhiều tư liệu cho thấy Hòa thượng Giác Tiên có vai trò và ảnh  
hưởng rất lớn trong đời sống sinh hoạt lễ nghi của triều đình Huế, kể cả nghi lễ tế Nam  
Giao, tế Thiên Y A Na ở điện Hòn Chén v.v...33  
Tinh thần cốt lõi xuyên suốt dẫn tới trào lưu chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ XX  
chính là điển chế hóa Phật giáo theo hướng qui củ, nhất quán. Theo đó, toàn bộ những  
yếu tố phi Phật giáo (Thiên Y A Na, Ngọc Hoàng, Nam Tào Bắc Đẩu, Quan Công...)  
đều được đưa ra khỏi chánh điện (sang chái tả hữu, lui sau hậu tẩm, ra vườn...). Ranh  
giới và mối quan hệ giữa Phật giáo và các tôn giáo tín ngưỡng khác, từ đây, mới được  
đặt ra một cách rõ nét.  
3. Vấn đề đặt ra  
Thời chúa Nguyễn Đàng Trong được coi là thời kỳ thịnh đạt trong lịch sử Việt  
Nam, cả về nội trị lẫn ngoại giao, trong đó có nguyên nhân tư tưởng, nổi bật tính chất  
hỗn dung, hòa hợp giữa các tôn giáo tín ngưỡng Việt và phi Việt bản địa trong bối cảnh  
lịch sử văn hóa của một vùng đất mới. Từ đó, có thể nhận thấy một số vấn đề quan  
trọng có ý nghĩa khoa học và thời sự sâu sắc:  
- Vai trò và sự can thiệp, điều tiết của nhà nước, nhà chính trị tư tưởng đương thời  
là rất cần thiết, rất quan trọng, nhưng tất yếu phải ưu tiên giải quyết phù hợp nhu cầu  
chiến lược nhân tâm, cố kết cộng đồng, gắn liền với những giai đoạn lịch sử nhất định.  
- Nguyên tắc bản địa hóa được đặc biệt tôn trọng, nhằm tôn vinh và kế thừa di sản  
văn hóa bản địa để tích hợp, làm giàu thêm di sản văn hóa quốc gia dân tộc. Hơn nữa,  
điều đó cũng giúp làm giảm thiểu mọi khoảng trống, mọi nguy cơ xung đột về tâm linh,  
tôn giáo tín ngưỡng có thể diễn ra.  
- Nguyên tắc thiêng hóa cũng có vai trò và tính chất tương tự. Nhờ chất men  
thiêng liêng cao cả đó, khả năng bảo tồn và phát huy giá trị của di sản tôn giáo tín  
ngưỡng sẽ có điều kiện được thực thi một cách bền vững theo đúng nghĩa của nó. Giải  
thiêng trong bối cảnh đó, chỉ có tính sách lược và ngay sau đó, phải được bổ sung, điền  
thế bởi một quá trình thiêng hóa khác liền kề để giải quyết nhu cầu tâm linh của cộng  
đồng được đặt ra cấp thiết đương thời.  
- Đa dạng tôn giáo tín ngưỡng là một nét đặc trưng trong lịch sử văn hóa dân tộc,  
từ đó cũng nổi lên tính chất dung dưỡng, hài hòa của các tôn giáo tín ngưỡng. Điều đó,  
suy cho cùng, chính là thông điệp truyền thống trong xã hội hiện nay dưới góc nhìn đối  
thoại liên tôn giáo.  
33  
Thích Nguyên Tâm (2013), Bản thủ bút của Hòa thượng Giác Tiên, trong Sớ điệp công văn, Tập 2,  
Tp.HCM: Nxb. Hồng Đức.  
81  
 
TRAO ĐỔI - NGHIÊN CỨU  
HISTORICAL LESSONS OF INTERRELIGOUS DIALOGUE  
FROM THE RELATIONSHIP AMONG TAOISM-BUDDHISM-  
CONFUCIANISM AND INDIGENOUS BELIEF IN THE CENTRAL  
OF VIETNAM UNDER THE RULER OF NGUYEN LORDS  
Tran Dinh Hang, Ph.D  
Abstract: Trinh-Nguyen family affairs led to a historical fate of the whole nation after  
Lord Nguyen Hoang imgrated to the South in the Mau Ngo year (1558).  
Specially, a vital area has become a powerful country, Dai Nam in the South.  
Moreover, a humane strategy has been built on the base of promoting the harmony and the  
development of the elites among Taoism-Buddhism-Confucianism-indigenous belief to  
structuralize the community. The thought of “đồng nguyên” in traditional religious beliefs  
deeply expresses the humane strategy which is an effective lesson in structuralizing the  
community, creating cultural identity and national power under the ruler of Nguyen Lords.  
This lesson is also imbued with its practicality in the current situation.  
82  
pdf 14 trang yennguyen 17180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bài học lịch sử về đối thoại liên tôn giáo từ mối quan hệ Lão - Phật - Nho - Tôn giáo tín ngưỡng bản địa miền Trung thời Chúa Nguyễn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_hoc_lich_su_ve_doi_thoai_lien_ton_giao_tu_moi_quan_he_la.pdf