Bài giảng Nghệ thuật lãnh đạo - Chương 8: Động cơ thúc đẩy và trao quyền (Mới)

1
Chương 8  
ĐỘNG CƠ THÚC ĐẨY VÀ TRAO QUYỀN  
Sau khi đọc chương này bạn có thể biết  
- Nhận thức và áp dụng các phần thưởng bên trong và bên ngoài  
- Động viên người khác bằng việc đáp ứng các nhu cầu ở mức cao hơn  
- Áp dụng các thuyết động viên dựa trên nhu cầu  
- Thực thi các hệ thống thưởng cá nhân cũng như hệ thống  
- Tránh các bất lợi của chinh sách “củ cà rốt và cây gậy”  
- Thực thi trao quyền  
Chương này sẽ khám phá sự thúc đẩy động viên trong tổ chức và xem xétcách thức  
mà những người lãnh đạo làm thúc đẩy những người phục tùng tốt nhất trong tổ  
chức. Chúng ta sẽ xen xét sự khác nhau giữa phần thưởng bên trong và bên ngoài  
và làm thế nào họ có thể đáp ứng những nhu cầu của người phục tùng. Những cá  
nhân có cả những nhu cầu thấp hơn và cao hơn, và có những phương pháp khác  
nhau trong việc thúc đẩy để đáp ứng những nhu cầu đó. Chương này giới thiệu 1  
vài lý thuyết về sự thúc đẩy, với sự chú ý đặc biệt đối với những sự khác nhau giữa  
lãnh đạo và phương pháp quản trị truyền thống trong việc tạo ra 1 lực lượng lao  
động tích cực. Phần cuối cùng của chương này khám phá sự trao quyền và những  
công cụ thúc đẩy hiện tại khác mà không dựa vào những phương pháp phần  
thưởng và sự trừng phạt truyền thống.  
1. Sự lãnh đạo và sự thúc đẩy.  
Mọi hành động của con người hầu như được thúc đẩy bởi điều gì đó. Động cơ thúc  
đẩy chỉ các lực lượng hoặc ở bên trong hoặc từ bên ngoài tới con người đánh thức  
lòng nhiệt tình, tính kiên trì để theo đuổi một chuỗi hành động nào đó. Động cơ  
thức đẩy của người lao động tác động đến năng suất, và vì thế một phần công việc  
của người lãnh đạo là dẫn truyền động cơ của người phục từng hướng đến thực  
hiện mục tiêu, viễn cảnh của tổ chức.1  
1 2  
Nhu cầu. Tạo ra sự khao khát để đáp  
ứng nhu cầu (tiền bạc, tình bạn, sự  
công nhận, sự thành công)  
Hành động. Những kết  
quả trong những hành  
Phần thưởng. Nhu cầu  
được đáp ứng; những phần  
thưởng bên trong và bên  
ngoài  
động  
để đáp ứng nhu  
cầu.  
PHẢN HỒI. Phần thưởng cho con người biết liệu hành  
động của họ có thích hợp và được sử dụng lại  
Nghiên cứu động cơ thúc đẩy giúp các nhà lãnh đạo hiểu điều gì thúc đẩy con  
người khởi xướng hành động, điều gì ảnh hưởng đến việc lựa chọn hành động của  
họ và tại sao họ kiên trì theo đuổi hành đồng của mình.  
Hình 8.1  
Mô hình đơn giản về động cơ  
Trong mô hình đơn giản về động cơ của con người, các nhu cầu của họ như ăn  
uống, nhận thức và tiền bạc chuyển thành áp lực thúc đẩy các hành vi cụ thể nhờ  
đó thỏa mãn nhu cầu. Tới khi hành vi thực hiện thành công, nhu cầu của họ thỏa  
mãn nghĩa là họ đã nhận được một phần thưởng hay đền đáp. Sự tưởng thưởng  
cũng cho con người biết rằng hành vi là thích hợp và có thể sử dụng lại trong tương  
lai.  
Điều quan trọng của việc thúc đẩy, được minh họa trong hình 8.1, là nó có thể  
hướng dẫn cho những hành vi mà phản ánh sự hiệu suất cao trong tổ chức. Những  
cuộc nghiên cứu đã tìm ra rằng sự thúc đẩy nhân viên cao sự hiệu suất cao và lợi  
nhuận của tổ chức có sự liên quan chặt chẽ2. Các nghiên cứu của tổ chức Gallup  
cho biết rằng khi nhân viên trong tổ chức được động viên cao độ, và họ làm việc  
với phong độ đỉnh cao sẽ làm tăng 70% lòng trung thành khách hàng, tỷ lệ bỏ việc  
giảm 70%, lợi nhuận tăng 40%.3 Những người lãnh đạo có thể sử dụng lý thuyết  
động cơ thúc đẩy để giúp thỏa mãn nhu cầu của người phục tùng và đồng thời  
khuyến khích thực hiện công việc với hiệu suất cao hơn. Khi những người công  
nhân không được thúc đẩy để đạt được mục tiêu của tổ chức, thì lỗi lầm thường  
thuộc về những nhà lãnh đạo.  
2 3  
3 4  
3
1.1. Phần thưởng bên trong và bên ngoài.  
Phần thưởng hay sự tưởng thường từ những hành vi của con người giúp họ thỏa  
mãn nhu cầu, và cũng hàm ý với họ rằng hành vi của họ là thích hợp, và rằng hành  
vi có thể sử dụng lại trong tương lai. Phần thưởng có thể ở bên trong hay bên  
ngoài, có thể áp dụng chung hay cho từng cá nhân.  
Phần thưởng bên trong là sự thỏa mãn bên trong mà một người nhận được trong  
quá trình thực hiện công việc cụ thể. Giải quyết vấn đề để mang lại lợi ích cho  
những người khác có thể hoàn thành sứ mệnh cá nhân, hoặc sự hoàn thành một  
nhiệm vụ phức tạp có thể cho cảm giác hài lòng về thành quả. Một phần thưởng  
bên trong là nội tại và được kiểm soát bởi cá nhân, chẳng hạn tham gia vào hành  
động để thỏa mãn nhu cầu về năng lực hay tự khẳng định.  
Ngược lại, phần thưởng bên ngoài được trao hay nhận được từ người khác bao  
gồm sự thăng chức và tăng lương. Bởi vì những phần thưởng này có từ bên ngoài,  
như là kết quả của việc làm hài lòng người khác, phần thưởng bên ngoài bắt buộc  
cá nhân phải cam kết cách hành động vì một nguồn bên ngoài những thứ có thể  
cung cấp những gì họ cần, chẳng hạn như tiền để sống trong một xã hội hiện đại.  
Để phân biệt phần thưởng bên trong và bên ngoài, chúng ta thử tưởng tượng khi ta  
rửa xe với tư cách của người chủ xe và khi chúng ta đang làm việc đó trong một ga  
ra rửa xe. Ở trường hợp thứ nhất sự sạch sẽ, bóng lộn đem lại một cảm giác riêng  
sảng khoái, đó là phần thưởng bên trong. Còn trong trường hợp hai, mỗi lần rủa  
xong một chiếc xe bóng lộn, sạch sẽ chúng ta đã hoàn thành thêm một phần việc  
của ngày làm việc với hi vọng được trả nhiều tiền hơn.  
Hình 8.2: ví dụ về phần thưởng bên  
Bên ngoài  
Bên trong  
Công lao lớn gia  
tăng  
Cảm thấy đáp ứng  
đầy đủ nhu cầu bản  
thân  
Cá nhân  
Bảo đảm những lợi  
ích  
Tự hào trở thành 1  
phần trong sự thành  
công của tổ chức  
Chung  
4
Phần thưởng cũng có thể nhận được trên cơ sở một hệ thống chung hay theo từng  
cá nhân. Phần thưởng chung nghĩa là sẽ nhận được trên một cơ sở hệ thống, áp  
dụng chung cho tất cả mọi người trong tổ chức, hay trong một bộ phận cụ thể.  
Phần thưởng riêng có thể sẽ khác nhau giữa các cá nhân trong cùng một tổ chức.  
Phần thưởng chung bên ngoài có thể là hưởng quyền lợi bảo hiểm, hay một kỳ nghỉ  
giành cho toàn các cá nhân trong tổ chức khi họ đã làm việc trong tổ chức từ 1 năm  
trở lên. Một phần thưởng chung bên trong có thể là một cảm giác tự hào về tổ chức  
họ đang làm việc và bởi những cảm giác đóng góp của họ cho thành công của tổ  
chức. Một phần thưởng bên ngoài có tính cá nhân khi họ được thăng tiến, được  
hưởng lương cao. Phần thưởng cá nhân bên trong có thể là cảm giác thỏa mãn  
được làm công việc yêu thích, được tự thử thách mình…  
Mặc dầu, phần thưởng bên ngoài rất quan trọng, nhưng người lãnh đạo vẫn phải nỗ  
lực đặc biệt để làm cho những người phục tùng có khả năng đạt được những phần  
thưởng bên trong- kể cả phần thưởng mang tính cá nhân và phần thưởng chung.  
Những nhân viên được thỏa mãn bên trong từ công việc thì thường gắng hết sức  
mình để thực hiện công việc. Chúng ta biết rằng người lãnh đạo chân chính phải  
biết quan tâm đến người khác và muốn cho họ có được cảm giác tốt về công việc.  
Các nhà lãnh đạo cần tạo ra một môi trường có thể đem lại những điều tốt đẹp nhất  
cho con người. Chúng ta cũng biết rằng con người tự nguyện bỏ thời gian, sức lực  
cho những công việc mà họ thích thú.  
Trong công việc, các nhân viên có thể phải thực hiện các hoạt động mà họ không  
đặc biệt thích thú, vì vậy, điều quan trọng là nhà lãnh đạo phải luôn tìm cách làm  
phù giữa nhân viên và công việc nhờ đó những người phục tùng có được phần  
thưởng cá nhân bên trong. Hơn nữa, các nhà lãnh đạo cũng phải cố gắng tạo ra môi  
trường để con người làm cảm giác có giá trị, và cảm giác rằng họ đang đóng góp  
điều gì đó có giá trị chung, nhờ đó, ngược phục tùng được hửng phần thưởng  
chung bên trong.  
1.2. Nhu cầu cao và nhu cầu thấp.  
Các phần thưởng bên trong, chẳng hạn, sự hoàn thành, năng lực, sự đáp ứng, và tự  
khẳng định rất hấp dẫn với nhu cầu cá nhân ở mức cao hơn. Còn các phần thưởng  
bên ngoài ví dụ sự tiện lợi vật chất, an toàn căn bản và bảo hiểm nói chung hấp dẫn  
nhu cầu mức thấp của các các nhân.  
Hình 8.3 chỉ ra sự tương phản giữa cách tiếp cận quản trị truyền thống và lãnh đạo  
đối với việc thúc đẩy, động viên dựa trên nhu cầu của con người Thông thường,  
các cách tiếp cận quản trị thường hấp dẫn với các nhu cầu cá nhân cơ bản, ở mức  
thấp và dựa vào phần thưởng bên ngoài hay trừng phạt. Như chúng ta thường thấy  
cách tiếp cận “củ cà rốt và cây gậy” để thúc đẩy các thuộc cấp hành động theo cách  
thức mong muốn. Các cách tiếp cận này có hiệu quả, nhưng chúng dựa trên cơ sở  
5
kiểm soát hành vi của con người bằng cách thao túng các quyết định của họ về  
phương thức hành động. Phần thưởng bên ngoài lại không có tác dụng nhiều trong  
việc sử dụng lao động khi nhu cầu con người ở mức cao hơn. Theo cách tiếp cận  
truyền thống, con người thực hiện đầy đủ sẽ nhận được “củ cà rốt” hay tránh được  
“cây gậy” do vậy họ không nhất thiết nhận được phần thưởng bên trong từ công  
việc của mình.  
Hình 8.3: Nhu cầu của con người và phương pháp thúc đẩy  
Nhu cầu của con người  
Quản trị truyền  
thống  
Lãnh đạo  
Nhu cầu thấp  
Nhu cầu cao  
Củ cà rốt và cây  
gậy (bên ngoài)  
Trao quyền (bên  
trong)  
Kiểm soát con  
người  
Phát triển và đáp  
ứng đầy đủ điều kiện  
Nỗ lực hết sức  
Nỗ lực tương  
xứng  
Các nhà lãnh đạo cố gắng động viên người khác bằng cách cung cấp các cơ hội để  
thỏa mãn nhu cầu ở mức cao hơn và trở thành phần thưởng bên trong. Ví dụ, các  
nhân viên được truyền cảm hứng về sứ mệnh xã hội hay tìm cách để làm giàu cho  
cuộc sống của người khác nói chung sẽ được động viên mạnh mẽ hơn bởi họ nhận  
được phần thường bên trong từ việc giúp đỡ người khác.4 Công ty J.M Smucker,  
một công ty thực phẩm 105 tuổi có chính sach trả lương cho những ngày nghỉ làm  
các việc tự nguyện, nhờ đó có thể thỏa mãn và động viên nhu cầu ở mức cao, giảm  
tỷ lệ thuyên chuyển.5 Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý rằng các phần thưởng bên  
4 8  
5 9  
6
trong có tính nội tại trong mỗi người phục tùng và vì thế không giống nhau giữa  
các cá nhân. Cách thức để người lãnh đạo làm thỏa mãn tất cả mọi người bằng  
phần thưởng bên trong, đó là giao cho họ quyền kiểm soát công việc của mình và  
quyền lực tác động tới kết quả. Khi người lãnh đạo trao quyền cho người khác, cho  
phép họ tự do xác định hành động của mình làm cho phần thưởng tự nó gắn chặt  
một cách nội tại với thực hiện tốt. Họ có thể trở nên sáng tạo, đổi mới và phát triển  
một sự gắn kết mạnh mẽ hơn với mục tiêu. Càng được động viên, họ càng đạt được  
hiệu suất tốt nhất có thể được.  
Một cách lý tưởng, thì nên làm thỏa mãn cả nhu cầu thấp và cao cũng như việc đáp  
ứng sứ mệnh của tổ chức. Đáng tiếc là không phải điều này lúc nào cúng xảy ra.  
Vai trò thúc đẩy của những người lãnh đạo là tạo ra tình thế trong đó tích hợp nhu  
cầu của con người- đặc biệt là nhu cầu cao- với những mục tiêu cơ bản của tổ  
chức.  
2. Các lý thuyết động viên dựa trên nhu cầu  
Các lý thuyết dựa trên nhu cầu nhấn mạnh nhu cầu là cái thúc đẩy con người. Ở bất  
kỳ thời điểm nào, con người cũng có nhu cầu căn bản, chẳng hạn nhu cầu về ăn  
mặc, thành tích, tiền bạc. Các nhu cầu này là nguồn lực nội tại thúc đẩy các hành vi  
hướng tới đáp ứng nhu cầu. Các nhu cầu của một cá nhân là danh mục ẩn những  
thứ người ấy muốn và sẽ hành động để đạt được. Khi các nhà lãnh đạo hiểu được  
nhu cầu của người phục tùng, họ có thể thiết kế hệ thống thưởng nhằm củng cố  
thêm cho những người phục tùng nói chung để hướng năng lực và sự ưu tiên của  
họ tới các mục tiêu được chia sẻ.  
2.1. Lý thuyết về hệ thống thứ bậc của nhu cầu  
Lý thuyết dựa trên nhu cầu nổi tiếng nhất có lẽ là thuyết về thứ bậc nhu cầu của  
Abraham Maslow.6 Theo Maslow con người được thúc đẩy bởi nhiều nhu cầu và  
các nhu cầu này tồn tại trong một hệ thống có thứ bậc (hình 8.4). Nhu cầu ở mức  
cao không thể thỏa mãn một khi các nhu cầu ở mức thấp hơn chưa được thỏa mãn.  
Qua đó Maslow xác định có năm mức độ của nhu cầu thúc đẩy.  
Sinh lý: những nhu cầu sinh lý cơ bản nhất của con người bao gồm thức ăn, nước  
và oxy. Trong việc thiết lập tổ chức, chúng được phản ánh trong nhu cầu về sự đáp  
ứng sưởi ấm, không khí, và mức lương cơ bản để bảo đảm cho sự tồn tại.  
6 10  
7
Bảng 8.4 – Hệ thống thứ bậc của nhu cầu Maslow  
Đ
áp
ứ
ng trong công vi
ệ
c  
Cơ hội về sự tiến bộ, tư do ý chí, phát triển, sáng tạo  
Nhu cầu tự khẳng định  
mình  
Nhu cầu về sự kính  
trọng  
Sự công nhận, sự chấp thuận, địa vị cao, gia tăng trách nhiệm  
Nhóm làm việc, khách hàng, đồng nghiệp, người giám sát  
Nhu cầu về quan hệ  
Nhu cầu về an toàn  
Công việc an toàn, có nhiều lợi ích, bảo đảm nghề nghiệp  
Sưởi ấm, không khí, lương cơ bản  
Nhu cầu sinh lý  
-
-
Sự an toàn: kế tiếp với nhu cầu sinh lý là nhu cầu về tính an toàn và bảo đảm  
sức khỏe và tình cảm và thoát khỏi những mối đe dọa – ví dụ tránh xa khỏi bạo  
lực, và một xã hội trật tự. Tại nơi làm việc của tổ chức, nhu cầu về an toàn  
phản ánh nhu cầu về công việc an toàn, lợi ích, và sự bảo đảm nghề nghiệp  
Quan hệ: Nhu cầu quan hệ là mong muốn được thừa nhận về địa vị của họ,  
mong muốn được có bạn, được trở thành một phần của nhóm, và được yêu  
thương. Trong tổ chức, những nhu cầu đó ảnh hưởng đến mong muốn có được  
những mối quan hệ tốt đẹp với các đồng nghiệp, được tham gia vào một nhóm  
làm việc, và có mối quan hệ tích cực với những người quản lý.  
-
-
Sự kính trọng: nhu cầu về sự kính trọng liên quan đến những mong muốn về  
một hình ảnh bản thân tích cực, về sự chú ý, sự công nhận, và sự đánh giá cao  
từ những người khác. Trong phạm vi tổ chức, nhu cầu về sự kính trọng phản  
ánh sự thúc đẩy về sự công nhận, sự gia tăng trách nhiệm, địa vị cao, và tiền  
thưởng trong việc đóng góp cho tổ chức.  
Sự tự khẳng định mình: nhu cầu cao nhất trong danh mục, sự tự khẳng định  
mình biểu hiện nhu cầu về sự hoàn thành ước nguyện bản thân, như phát triền  
hết mức khả năng tiềm tàng của bản thân, gia tăng năng lực, và trở thành con  
người tốt hơn. Nhu cầu tự thể hiện đầy đủ tiềm năng của định mình, mà ở trong  
tổ chức thể hiện bằng cách tạo cơ hội cho mọi người được phát triển, được trao  
8
quyền hành động và sáng tạo, và nhận được sự huấn luyện cho những nhiệm vụ  
thử thách và sự tiến bộ.  
Theo lý thuyết Maslow, các nhu cầu sinh lý, an toàn và quan hệ là những nhu cầu  
không đầy đủ. Các nhu cầu ở thứ bậc thấp này chiếm ưu tiên, chúng phải được thỏa  
mãn trước các nhu cầu cao hơn hay nhu cầu tăng trưởng được kích hoạt. Các nhu  
cầu được thỏa mãn theo thứ tự: Nhu cầu sinh lý được thỏa mãn trước nhu cầu an  
toàn, nhu cầu an toàn được thỏa mãn trước nhu cầu xã hội,… Một người còn mong  
muốn an toàn cơ thể sẽ cố gắng tìm được một môi trường an toàn và sẽ chưa quan  
tâm đến nhu cầu được kính trọng hay tự khẳng định. Khi một nhu cầu được thỏa  
mãn, tầm quan trọng của nó giảm xuống và nhu cầu cao hơn được kích hoạt.  
2.2. Thuyết hai nhân tố  
Frederick Herzberg đã phát triển một lý thuyết phổ biến nữa về động viên được gọi  
là thuyết hai nhân tố.7 Từ các nghiên cứu của mình Hezberg cho rằng các đặc tính  
công việc liên quan tới sự không thỏa mãn rất khác biệt so với các đặc tính công  
việc liên quan đến sự thỏa mãn, do vậy, ông có quan niệm về hai nhân tố ảnh  
hưởng đến sự động viên trong công việc.  
Trong mô hình của mình (hình 8.5), Herzberg cho rằng tồn tại một khoảng trung  
tâm là trung tính, nghĩa là người công nhân không thấy thỏa mãn mà cũng không  
cảm thấy không thỏa mãn. Đặc tính hoàn toàn khác biệt của công việc đóng góp  
vào sự thỏa mãn phân bố ở hai bên của khoảng trung tâm này.  
Đặc tính thứ nhất được gọi là những nhân tố vệ sinh liên quan đến việc có hay  
không có những yếu tố không được thỏa mãn trong công việc, chẳng hạn như điều  
kiện làm việc, chi trả tiền lương, chính sách công ty, và những mối quan hệ giữa  
các cá nhân với nhau. Khi yếu tố vệ sinh kém, thì công việc không được thỏa mãn.  
Điều này tương tự như các nhu cầu không đầy đủ của Maslow. Khi nhân tố vệ sinh  
tốt nó sẽ loại bỏ được sự không thỏa mãn, nhưng bản thân chúng lại không làm cho  
con người trở nên thỏa mãn cao hơn, và được động viên hơn trong công việc.  
7 11  
9
Phần thứ hai của thuyết này liên quan đến nhân tố thỏa mãn nghề nghiệp. Các động  
lực thỏa mãn nhu cầu mức cao và bao gồm thành tích, sự thừa nhận, trách nhiệm,  
và cơ hội tăng trưởng. Herzberg tin rằng khi những động lực thúc đẩy hiện diện thì  
những người công nhân sẽ được thúc đẩy và thỏa mãn cao hơn. Do đó, hai yếu tố  
vệ sinh và động lực rõ ràng là hai nhân tố riêng biệt ảnh hưởng đến sự thúc đẩy.  
Yếu tố vệ sinh phục vụ cho nhu cầu thấp, và sự thiếu vắng của nó là nguyên nhân  
dẫn đến sự không thỏa mãn. Điều kiện làm việc không an toàn hay môi trường làm  
việc quá ồn ào sẽ làm cho mọi người cảm thấy không được hài lòng; nhưng những  
điều kiện đó tốt thì cũng sẽ không tạo ra sự nhiệt tình và thỏa mãn. Những yếu tố  
động lực ở mức cao chẳng hạn như sự thử thách, trách nhiệm, và sự thừa nhận,  
phải được đặt đúng chỗ trước, nhân viên sẽ được thúc đẩy cao để trở nên xuất sắc  
hơn trong công việc của họ.  
Bảng 8.5: Thuyết 2 yều tố của Frederick Herzberg  
Khu vực của sự thỏa mãn cao  
Những yếu tố  
Yếu tố thúc đẩy  
Sự thành đạt  
thúc đẩy ảnh  
hưởng đến  
cấp độ của sự  
thoả mãn  
Sự thừa nhận  
Trách nhiệm  
Tự làm việc  
Phát triển bản thân  
Không có sự thỏa mãn hoặc sự không thỏa mãn  
Khu vực của sự không thỏa mãn  
Yếu tố vệ sinh  
Điều kiện làm việc  
Lương và sự an toàn  
Chính sách cty  
Những yếu tố  
vệ sinh thúc  
đẩy  
ảnh  
đến  
Những người quản lý  
Các mối quan hệ giữa các  
cá nhân  
hưởng  
cấp độ  
10  
Trên phương diện lãnh đạo, hàm ý của thuyết hai nhân tố rất rõ ràng. Vai trò của  
người lãnh đạo là phải tiến xa hơn nữa trong việc gỡ bỏ những sự không thỏa mãn  
để sử dụng các động lực đáp ứng nhu cầu ở mức cao và đẩy nhân viên hướng tới  
thành tích và sự thỏa mãn cao hơn.  
2.3. Lý thuyết nhu cầu đạt được  
Lý thuyết nhu cầu đạt được do McClelland phát triển. Theo thuyết này thì trong  
cuộc đời con người có những loại nhu cầu nhất định đạt được. Nói cách khác, con  
người không sinh ra với các nhu cầu này mà có thể học chúng thông qua trải  
nghiệm của cuộc đời.8 Có ba nhu cầu thường được nghiên cứu:  
- Nhu cầu thành tích: Mong muốn hoàn thành điều gì đó khó khăn, đạt đến  
chuẩn mực cao của thành công, làm chủ các công việc phức tạp và vượt qua  
người khác.  
- Nhu cầu xác định tư cách: mong muốn tạo lập các quan hệ cá nhân chặt chẽ,  
tránh xung đột, thiết lập quan hệ thân thiện.  
- Nhu cầu quyền lực: mong muốn gây ảnh hưởng hay kiểm soát người khác,  
chịu trách nhiệm về người khác và có quyền lực với người khác.  
Con người với nhu cầu cao về thành tích sẽ có khuynh hướng thích công việc có  
tính đổi mới và chấp nhận rủi ro. Con người với nhu cầu quan hệ cao là “những  
người hợp nhất” thành công thì công việc của họ là để phối hợp công việc của con  
người và tổ chức.9 Những người hợp nhất bao gồm các nhà quản trị thương hiệu,  
và nhà quản trị dự án, các vị trí yêu cầu những kỹ năng con người ưu tú. Người có  
nhu cầu cao về quyền lực thường gắn với các nhà quản trị thành công ở mức cao  
của hệ thống thứ bậc quản trị. Những người có nhu cầu quyền lực cao thích tìm  
những công việc có đường dẫn tới sự thăng tiến liên tục theo thời gian.  
Các thuyết dựa trên nhu cầu thường hướng tập trung vào các nhu cầu cơ bản thúc  
đẩy con người hành động. Thuyết thứ bậc của nhu cầu, thuyết hai nhân tố, và  
thuyết nhu cầu đạt được đều nhận diện nhu cầu thúc đẩy con người. Các nhà lãnh  
đạo có thể làm việc để đáp ứng nhu cầu của người phục tùng và nhờ thế gợi ra các  
hành vi làm việc thích hợp và thành công.  
3. Những lý thuyết thúc đẩy khác  
Có thêm ba lý thuyết thúc đẩy khác, đó là lý thuyết ủng hộ, lý thuyết về kỳ vọng,  
và lý thuyết công bằng tập trung trước hết vào phần thưởng bên ngoài và sự trừng  
phạt. Bởi vì, chủ yếu dựa vào phần thưởng bên ngoài và sự trừng phạt mà đôi khi  
chúng ta chúng được xem như là cách tiếp cận “củ cà rốt và cây gậy”10. Những  
8 13  
9 14  
10 15  
11  
hành vi tạo ra kết quả tích cực, như mong muốn được tưởng thưởng với bằng cách  
nhận lương cao hơn hay thang tiến xem như “củ cà rốt”. Ngược lại, những hành vi  
tạo ra kết quả không mong muốn có thể phải chịu sự trừng phạt ví dụ như hoãn  
tăng lương, giáng chức. Cách tiếp cận củ cà rốt và cây gậy có khuynh hướng tập  
trung vào các nhu cầu thấp mặc dù đôi khi nó vấn có thể tác đến nhu cầu cao.  
3.1. Sự ủng hộ trong thúc đẩy  
Thuyết ủng hộ tiếp cận với sự thúc đẩy nhân viên tránh đi sâu hơn vào vấn đề nhu  
cầu của người phục tùng như các lý thuyết nhu cầu. Lý thuyết ủng hộ đơn giản chỉ  
xét mối quan hệ giữa hành vi và kết quả của nó bằng cách thay đổi hoặc sửa đổi  
hành vi trong công việc của người phục tùng thông qua sự sử dụng thích hợp của  
những phần thưởng và trừng phạt tức thì.  
“Sự sửa đổi hành vi” là cái tên được đưa ra với tập hợp các kỹ thuật sử dụng để sửa  
đổi hành vi. Giả định cơ bản của sửa đổi hành vi là nguyên tắc tác động, đó là hành  
vi được ủng hộ một cách tích cực có xu hướng được lặp đi lặp lại, và hành vi  
không được ủng hộ có xu hướng không lặp lại. Sự ủng hộ được định nghĩa là  
những thứ mà dẫn đến một hành vi nào đó được lặp đi lặp lại hoặc hay bị hạn chế.  
Những người lãnh đạo có 4 cách sử dụng sự ủng hộ để sửa đổi hoặc định hình hành  
vi của các nhân viên, đó là: ủng hộ tích cực, ủng hộ không tích cực, trừng phạt và  
tiêu diệt:  
- Ủng hộ tích cực là sự thực hiện một kết quả hài lòng và thỏa mãn theo sau hành  
vi. Ví dụ 1 lời tán dương một người nhân viên đi làm đúng giờ hoặc là làm việc  
thêm giờ. Kết quả hài lòng sẽ làm gia tăng khả năng lặp lại của các hành vi làm  
việc xuất sắc.  
- Ủng hộ không tích cực là sự rút lại kết quả không hài lòng khi hành vi được cải  
thiện. Đôi khi chúng được xem như là học những điều nên tránh, ủng hộ không tích  
cực có nghĩa là mọi người học cách thực hiện những hành vi mong muốn bằng  
cách tránh đi những việc làm khó chịu. Ví dụ, giám thị thôi không quở trách việc đi  
học không đúng giờ của học sinh khi thấy họ đã bắt đầu đi học đúng giờ.  
- Sự trừng phạt là sự bắt nhân viên phải chịu những kết quả không được dễ chịu.  
Sự trừng phạt thường là xảy ra theo sau những hành vi không được mong muốn.  
- Sự dập tắt là sự thu hồi phần thưởng, có nghĩa là hành vi đó không được ủng hộ  
thêm nữa và do đó sẽ ít có khả năng xảy ra trong tương lai.  
Các nhà lãnh đạo có thể ủng hộ hành vi sau mỗi lần xuất hiện như là sự ủng hộ liên  
tục, hoặc họ có thể ủng hộ hành vi ngay lập tức, thường gọi là ủng hộ từng phần.  
Với sự ủng hộ từng phần, hành vi mong muốn được ủng hộ đủ để làm cho người  
12  
phục tùng tin rằng hành vi đang lặp lại có giá trị, nhưng không phải mọi khi nó  
được xác đinh. Ủng hộ liên tục có thể rất hiệu quả để thiết lập các hành vi mới,  
nhưng ủng hộ một phần lại hiệu quả hơn khi duy trì hành vi lâu dài.11Nhiều nhà  
lãnh đã đã rất thành công khi áp dụng lý thuyết ủng hộ để định dạng hành vi của  
người phục tùng. Các nghiên cứu cũng cho thấy ủng hộ tích cực có thể giúp làm  
cải thiện thành tích. Hơn nữa, các ửng hộ phi tài chính như phản hồi tích cực, thừa  
nhận xã hội, quan tâm cũng có hiệu lực như những khích lệ tài chính.12  
3.2. Lý thuyết về kỳ vọng.  
Là lý thuyết trong đó chỉ ra rằng sự động viên, khuyến khích tuỳ thuộc vào nguyện  
vọng của từng cá nhân về khả năng của họ trong việc thực hiện nhiệm vụ và nhận  
được phần thưởng xứng đáng. Victo Vroom là một trong những tác giả quan tâm  
nhiều đến lĩnh vực này. Thuyết kỳ vọng không liên quan đến các loại nhu cầu mà  
với quá trình tư duy mà mỗi cá nhân sử dụng để đạt được phần thưởng.  
Thuyết kỳ vọng dựa vào mối quan hệ giữa nỗ lực cá nhân, khả năng thực hiện và  
khát khao về kết quả đằng sau thành tích cao. Các yếu tố của thuyết kỳ vọng gồm:  
nỗ lực E: effort); Thành tích ( P: performance); kết quả (O: outcome) và khả  
năng kết hợp (V: valence). Các trường hợp cụ là:  
- E -> P: kỳ vọng là khả năng nỗ lực thực hiện hành động sẽ dẫn đến thành tích  
cao. Để có kỳ vọng này cao, cá nhân cần phải có khả năng, kinh nghiệm trước đó,  
công cụ cần thiết, thông tin và cơ hội để thực hiện.  
- P -> O: kỳ vọng liên quan đến việc liệu rằng việc thực hiện thành công có dẫn  
đến kết quả tốt. Nếu kỳ vọng này cao thì những cá nhân sẽ được thúc đẩy cao hơn.  
- Kết hợp: liên quan đến giá trị của kết quả đối với cá nhân. Nếu kết quả sẵn có từ  
nỗ lực cao và thành tích tốt không được nhân viên quan tâm, động cơ thúc đẩy sẽ  
thấp. Ngược lại nếu kết quả có giá trị cao , động cơ thúc đẩy sẽ cao hơn.  
Trách nhiệm của người lãnh đạo là giúp những người phục tùng đáp ứng nhu cầu  
của họ trong khi đạt được mục tiêu của tổ chức. Một nhân viên có thể muốn được  
đề bạt đến một vị trí có trách nhiệm caovà người khác có thể muốn một quan hệ tốt  
với đồng nghiệp. Để tăng động cơ thúc đẩy, các nhà lãnh đạo có thể tăng kỳ vọng  
của người phục tùng bằng việc làm rõ ràng nhu cầu cá nhân, cung cấp các kết quả  
mong muốn, và đảm bảo rằng các cá nhân có năng và sự hỗ trợ cần thiết để thực  
hiện tốt và đạt được các kết quả mong muốn của họ .  
11 17  
12 19  
13  
Một số công ty sử dụng các nguyên tắc của thuyết kỳ vọng bằng việc thiết kế hệ  
thống thưởng mà trong đó xác định các kết quả mong muốn của toàn tổ chức và  
cho mỗi ngưiừoi chọn nhận lấy phần thưởng. Mấu chốt là thiết kế một hệ thống  
phù hợp với khả năng và nhu cầu của nhân viên.  
Hình 8.6 Các yếu tố của thuyết kỳ vọng  
E => P  
Nổ lực => Hành động  
Liệu nỗ lực có dẫn đến những hành  
độ
ng nh
ư
mong
đợ
i không?  
Liệu thực hiện công việc ở với mức độ cao có  
đem lại hiệu quả như mong đợi không?  
P => O  
Hành động => Hiệu quả  
Có phải những kết quả khả thi thường  
được đánh giá cao?  
V - giá trị của hiệu quả.  
( Tiền lương, phần thưởng, sự thừa  
nhận)  
Động lực  
(Motivation)  
3.3. Lý thuyết công bằng  
Đôi khi động cơ thúc đẩy của nhân viên bị tác động không chỉ bởi các kỳ vọng của  
họ và phần thưởng mà họ nhận được, mà còn bởi nhận thức của họ về việc họ được  
đối xử công bằng thế nào với những người khác. Thuyết công bằng cho rằng con  
người được thúc đẩy để tìm thấy công bằng xã hội trong những phần thưởng mà họ  
14  
nhận được theo thành tích.13 Theo thuyết này, nếu con người cảm nhận phần  
thưởng của họ công bằng với những gì mà người khác nhận được cho một đóng  
góp tương đương sẽ tin rằng họ được đối xử công bằng và vì thế có được động cơ  
thúc đẩy cao hơn. Khi họ tin rằng họ không được đối xử thẳng thắn và công bằng,  
động cơ thúc đẩy sẽ giảm xuống.  
Người ta đánh giá sự công bằng thông qua tỷ số giữa đầu vào và kết quả. Do vậy,  
các nhân viên tiến hành so sánh những gì họ bỏ vào cho công việc và phần thưởng  
họ nhận được trong tương quan với cái mà người khác đạt được trong tổ chức. Đầu  
vào bao gồm những thứ như giáo dục, kinh nghiệm, nỗ lực, và khả năng. Kết quả  
bao gồm lương, sự thừa nhận, thăng tiến và các phần thưởng khác. Trạng thái công  
bằng tồn tại khi tỷ số giữa kết quả và đầu vào của một người cân bằng với tỷ số đó  
của những người khác trong nhóm làm việc. Sự không công bằng xuất hiện khi tỷ  
số kết quả so với đầu vào không cân bằng, chẳng hạn một người có mức kinh  
nghiệm và khả năng cao lại nhận được mức lương ngang với một nhân viên mới có  
trình độ thấp.  
Mặc dù có nhiều điều chưa thực sự rõ ràng, cũng như có nhiều phê phán song  
thuyết công bằng cũng nêu ra những gợi ý rất quan trong cho các nhà lãnh đạo.  
Điểm quan trọng của thuyết công bằng đó là với nhiều người động cơ thúc đẩy  
chịu ảnh hưởng nặng nề bởi cả các phần thượng tuyệt đối cũng như tương đối. Các  
nhà lãnh đạo cần giữ trong tâm trí quan niệm về ảnh hưởng của sự không công  
bằng lên động cơ và thành tích của những người phục tùng.  
4. Trao quyền để đáp ứng nhu cầu cao  
Một cách điển hình mà nhà quản trị dùng để thoả mãn nhu cầu cao của nhân viên  
là dịch chuyển quyền lực từ đỉnh của hệ thống cấp bậc quản trị xuống phía dưới và  
chia sẻ quyền lực cho họ. Họ có thể bớt nhấn mạnh vào thiết kế hệ thống khuyến  
khích nhằm tác động và kiểm soát hành vi của thuộc cấp, thay vào đó là nỗ lực  
chia sẻ quyền lực với các thành viên trong tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung.  
Trao quyền là sự chia sẻ quyền lực, là sự ủy thác quyền lực hay quyền hành cho  
các cấp dưới trong tổ chức14. Nhà lãnh đạo dịch chuyển từ chỗ nỗ lực kiểm soát  
hành vi bằng cách tiếp cận“củ cà rốt và cây gậy” sang cung cấp cho nhân viên  
13 25  
14 43  
15  
quyền lực, thông tin, và quyền hành, tạo điều kiện cho phép họ tìm thấy sự thoả  
mãn bên trong nhiều hơn đối với công việc của họ. Những người lãnh đạo giúp cho  
những người phục tùng hiểu biết về tầm quan trọng của công việc họ làm với sứ  
mệnh và thành tích của tổ chức, nhờ đó trao cho họ quyền điều khiển trong phạm  
vi họ được tự do hành động.15  
Một mặt, trao quyền tạo ra một động cơ thúc đẩy mạnh mẽ bởi vì nó đáp ứng các  
nhu cầu cá nhân ở mức cao hơn. Các nghiên cứu chỉ ra rằng các cá nhân có nhu  
cầu tự hoàn thiện, nghĩa là, họ có khả năng tạo ra các kết quả và cảm nhận rằng  
chúng có hiệu quả.16Hầu hết mọi người tham gia tổ chức với mong muốn làm một  
công việc tốt, và trao quyền cho phép các nhà lãnh đạo tạo ra động cơ thúc đẩy  
trong trường hợp đó. Các nhà lãnh đạo ngày càng có trách nhiệm động viên mọi  
người để họ có thể làm được những điều tốt nhất với họ.  
Hơn nữa, các nhà lãnh đạo có lợi nhiều nhờ mở rộng các khả năng mà sự tham gia  
của các nhân viên đem đến cho tổ chức. Điều này cho phép họ ưu tiên chú ý nhiều  
hơn vào viễn cảnh và bức tranh tổng thể. Nó cũng giảm sức ép lên nhà lãnh đạo khi  
người phục tùng có khả năng đáp ứng tốt hơn và nhanh hơn với thị trường mà họ  
phục vụ.17 Ở vị trí tiền tiêu người công nhân thường có hiểu biết tốt hơn các nhà  
lãnh đạo về cách thức cải thiện quá trình làm việc, thỏa mãn một khách hàng hay  
giải quyết một vấn đề sản xuất  
4.1. Các nhân tố của trao quyền  
Thông thường, khi quyền lực và trách nhiệm tăng dẫn đến sự động viên, sự thoả  
mãn cũng tăng theo và tỷ lệ thuyên chuyển, vắng mặt sẽ giảm xuống. Một nghiên  
cứu về trao quyền cho công nhân, bao gồm việc tăng thêm trách nhiệm, tự chủ  
trong việc xác định công việc, có quyền tự đưa ra quyết định là những nhân tố cơ  
bản của việc thoả mãn hoặc hài lòng với công việc của công nhân cho thấy rằng  
trao quyền là chỉ định quan trong nhất cho sự thỏa mãn tại nơi làm việc.18  
Bước đầu tiên hướng tới trao quyền hữu hiệu là tuyển dụng và đào tạo hữu hiệu.  
Các nhà lãnh đạo phải tìm ra những con người có khả năng cũng như mong muốn  
đóng góp thật sự và tổ chức, sau đó huấn luyện một cách đầy đủ để trở thành ưu tú.  
Tuy nhiên, có một nhóm nhân viên có năng lực vẫn chưa đủ. Để thực hiện trao  
15 44  
16 48  
17 49  
18 50  
16  
quyền hữu hiệu cần phải có 5 nhân tố, đó là: thông tin, kiến thức, sự thận trọng, ý  
nghĩa, và phần thưởng.19  
1. Nhân viên được nhận thông tin về công việc của công ty. Trong một công ty  
mà công nhân được trao quyền hoàn toàn thì không có thông tin bí mật. Họ  
có thể nắm được đặc tính kinh doanh chung của công ty, các thông tin  
thường xuyên về sự thực hiện của các đơn vị kinh doanh, và các xưởng.20  
2. Nhân viên nhận được kiến thức và kỹ năng để đóng góp vào mục tiêu của  
công ty. Công ty huấn luyện nhân viên để họ có được các kỹ năng và kiến  
thức mà họ cần để đóng góp một vào thành tích của công ty. Kiến thức và kỹ  
năng dẫn đến năng lực mà họ tin rằng có khả năng thực hiện thành công  
công việc của mình.21  
3. Công nhân có quyền đưa ra những quyết định độc lập. Ngày nay, nhiều  
công ty cạnh tranh cho phép nhân viên được quyền ảnh hưởng đến những  
thủ tục công việc và định hướng tổ chức thông qua vòng tròn chất lượng và  
những nhóm tự quản.  
4. Nhân viên hiểu được ý nghĩa và sự tác động của công việc họ làm. Những  
nhân viên được trao quyền lực hiểu được tầm quan trọng và ý nghĩa của  
công việc họ làm, thấy được khả năng, sự thành thạo, và nhận ra tác động  
công việc của họ lên khách hàng, những bên hữu quan, và sự thành công của  
tổ chức.22 Hiểu được mối liên hệ giữa các hoạt động hàng ngày của mỗi  
người và viễn cảnh chung của tổ chức cho con người một cảm giác định  
hướng, một ý tưởng về ý nghĩa công việc họ đang làm. Nó cho phép gắn kết  
các hành động của nhân viên với viễn cảnh và có ảnh hưởng tích cực đến kết  
quả công việc của họ.23  
5. Nhân viên được thưởng dựa vào thành tích của công ty. Nghiên cứu đã chỉ  
ra tầm quan trọng của hệ thống thưởng và công nhận công bằng trong việc  
hỗ trợ trao quyền. Bằng việc khẳng định các nhân viên đang trong quá trình  
hướng đến mục tiêu, phần thưởng sẽ giúp cho việc duy trì động cơ thúc đẩy  
ở mức độ cao.24 Lãnh đạo cần xem xét cẩn thận và thiết kế lại hệ thống  
thưởng để hỗ trợ việc trao quyền và làm việc nhóm. Hai cách mà tổ chức mà  
19 51  
20 52  
21 53  
22 56  
23 58  
24 59  
17  
có thể chọn để thưởng trên phương diện tài chính cho nhân viên dựa vào  
thành tích công ty đó là lợi nhuận chia sẻ và kế hoạch chia sẻ quyền sở hữu  
cho nhân viên (ESOPs).  
Thực tế ngày nay, nhiều tổ chức đang thực thi các chương trình trao quyền, nhưng  
họ trao quyền cho nhân viên theo những mức độ khác nhau. Ở một số công ty, trao  
quyền có nghĩa là khuyến khích nhân viên đóng góp ý kiến trong khi quyền ra  
quyết định cuối cùng vẫn thuộc về nhà quản trị. Ở các công ty khác trao quyền có  
nghĩa là cho các nhân viên ở vị trí tiền tiêu có quyền lực hầu như hoàn toàn để ra  
quyết định thực thi việc khởi xướng và tưởng tượng. Phương pháp trao quyền hiện  
nay có thể tóm lược trong hình 8.7  
5. Các chương trình động viên trên toàn tổ chức  
Gần đây, các nhà lãnh đạo có thể động viên các thành viên của tổ chức bằng việc  
sử dụng khác nhiều hơn so với các cách tiếp cận “củ cà rốt và cây gậy” và ít hơn so  
với trao quền hoàn toàn.  
Một trong những cách tiếp cận là nuôi dưỡng môi trường tổ chức cho phép con  
người tìm ra giá trị và ý nghĩa thật sự trong công việc của họ. Cách tiếp cận thứ hai  
là thực thi các chương trình trên phạm vi toàn tổ chức chẳng hạn quyền sở hữu của  
nhân viên, làm giàu công việc, các kiểu kế hoạch khuyến khích mới.  
Cung cấp ý nghĩa của công việc  
Chúng ta đã biết rõ về các phần thưởng bên trong và tầm quan trọng của nó đối với  
động cơ thúc đẩy ở mức cao. Một cách thức gắn phần thưởng bên trong vào công  
việc là khi làm cho mọi người cảm thấy sâu sa về tầm quan trọng và ý nghĩa của  
công việc, chẳng hạn con người làm việc vì lý do xã hội hay sứ mệnh.  
Các cách tiếp cận khác:  
Có nhiều cách tiếp cận khác để có thể cải thiện động cơ thúc đẩy của toàn bộ tổ  
chức. Một trong những cách thông thường nhất là: chương trình giàu công việc,  
quyền sở hữu của nhân viên, chia sẻ lợi nhuận, trả lương theo năng lực, trả lương  
theo thành tích. Thù lao biến đổi và các dạng thanh toán theo rủi ro khác nhau là  
các công cụ chính ngày này và đang trở thành phổ biến hơn các hình thức lương cố  
định ở nhiều công ty  
Quyền sở hữu của nhân viên thể hiện bằng hai hình thức. Thứ nhất, trao  
quyền có thể gây ra một sự cam kết tâm lý với sứ mệnh của tổ chức trong đó nhân  
viên làm việc như người chủ sở hữu hơn là với tư cách nhân viên.Thứ hai, bằng  
việc sở hữu chứng khoán trong công ty mà họ làm việc, các cá nhân được thức đẩy  
để đạt được thành tích tốt nhất của mình.  
18  
Tự quản trị  
Cao  
Chịu trách nhiệm  
quá trình ra quyết  
định ra quyết định  
và chiến lược  
Các nhóm tự quản  
Các nhóm xuyên  
chức năng  
Ra quyết định  
Các nhóm tham gia và  
vòng tròn chất lượng  
Mức độ  
trao  
quyền  
Tham gia trong các  
quyết định  
Đề nghị các  
chương trình  
Cung cấp đầu vào  
Chỉ dẫn  
định kỳ  
Không có quyết  
định độc lập  
Thấp  
Kỹ năng cần  
thiết của  
nhân viên  
Một vài  
Nhiều và  
phức hợp  
19  
Chia sẻ lợi nhuận là một hình thức tiếp cận khác cho rằng việc thúc đẩy con  
người làm việc cùng nhau sẽ tốt hơn tập trung vào thành tích và phần thưởng của  
từng cá nhân. Như thế, nhân viên tham gia vào các chương trình gắn một khoản trả  
tăng với sự cải thiện thành tích của các nhân viên nói chung. Nhân viên được  
khuyến khích để tích cực tìm kiếm những cách để cải tiến quá trình, với bất kì kết  
quả lợi ích tài chính nào đều được chia cho các nhân viên.  
Trả lương theo năng lực: lương của nhân việc dựa trên số lượng các kĩ năng  
công việc mà họ có được. Nếu những nhân viên tăng thêm được những kĩ năng của  
họ thì họ sẽ được trả lương nhiều hơn. Một tổ chức có lực lượng lao động với  
nhiều kỹ năng tất nhiên nó sẽ linh hoạt hơn.  
Trả lương theo thành tích: gắn ít nhất là một phần tiền thưởng của nhân viên  
với kết quả hoặc sự hoàn thành công việc, là một khuynh hướng của những tổ chức  
ngày nay. Chia sẻ lợi ích cũng là một hình thức gắn phần thưởng với thành tích.  
Nhứng ví dụ khác về khả năng gắn kết phần thưởng với thành tích là hoa hồng, trả  
công xứng đáng, chia sẻ lợi nhuận  
Làm giàu công việc kết hợp các động cơ thúc đẩy cao vào công việc, bao gồm  
trách nhiệm công việc, sự thừa nhận và các cơ hội phát triển, học tập và thành tích.  
Trong một công việc đã được làm giàu nhân viên kiểm soát các nguồn lực cần thiết  
để thực hiện tốt và ra các quyết định vầ cách thức làm việc. Một cách thức làm  
giàu công việc đơn giản là mở rộng công việc sao cho nó bao phủ một số hoạt  
động thay vì chỉ một hoạt động.  
TÓM TẮT  
Chương này trình bày một số ý tưởng quan trọng về động viên trong các tổ chức. Các cá nhân  
được động viên để hành động thỏa mãn hàng loạt các nhu cầu. cách tiếp cận lãnh đạo để động  
viên có khuynh hướng tập trung vào các nhu cầu cao hơn của nhân viên. Vai trò của lãnh đạo là  
tạo ra một tình thế trong đó các nhu cầu cao hơn của người phục tùng và các nhu cầu của tổ chức  
đồng thời được đáp ứng.  
Các lý thuyết dựa trên nhu cầu tập trung vào các nhu cầu cơ bản thúc đẩy hành vi con người. Hệ  
thống thứ bậc nhu cầu của Maslow đề nghị rằng các cá nhân thỏa mãn các nhu cầu thấp trước khi  
dịch chuyển lên các nhu cầu cao hơn. Thuyết hai nhân tố của Herzberg cho rằng những gì không  
được thỏa mãn thì phải bị dỡ bỏ và những yếu tố động viên cần được tăng thêm. McClelland  
khẳng định rằng con người được động viên khác nhau tùy thuộc vào những nhu cầu mà họ đã đạt  
được. Các lý thuyết động viên khác, bao gồm thuyết ủng hộ, thuyết kỳ vọng, thuyết công bằng  
chủ yếu tập trung vào thưởng phạt bên ngoài, đôi khi được gọi là phương pháp động viên “củ cà  
rốt và cây gậy”. Thuyết ủng hộ cho rằng hành vi có thể thay đổi khi dùng phần thưởng và hình  
phạt hợp lý. Thuyết kỳ vọng dựa trên ý tưởng cho rằng động cơ của con người là ngẫu nhiên dựa  
trên các kỳ vọng của họ về hành vi nhất định với phần thưởng có thể nhận được. Thuyết công  
20  
bằng đề nghị rằng động cơ của mỗi cá nhân chịu ảnh hưởng không chỉ bởi phần thưởng họ nhận  
được mà còn bởi nhận thức về việc được đối xử công bằng trong quan hệ với người khác. Con  
người được động viên để tìm công bằng xã hội trong phần thưởng mà họ kỳ vọng tương ứng với  
thành tích.  
Mặc dù, các phương pháp động viên “củ cà rốt và cây gậy” có thể được áp dụng rộng rãi, nhưng  
có nhiều ý kiên phê phán rằng nó các phần thưởng bên ngòI lmf giảm tác dụng các phần thưởng  
bên trong, đem lại các kết cục không mong muốn, và quá đơn giản với các thực tiễn tổ chức, thay  
thế hợp tác bằng cạnh tranh không lành mạnh.  
Một cách tiếp cận khác với “củ cà rốt và cây gây” đó là động viên bằng trao quyền, trong đó  
thuộc cấp hiểu rõ định hướng của tổ chức và tự chủ hành động phù hợp với định hướng đó. Các  
nhà lãnh đạo cung cấp cho nhân viên kiến thức để đóng góp vào tổ chức, quyền lực để ra quyết  
định, và nguồn lực cần thiết để thực hiện công việc của họ. Trao quyền nói chung đáp ứng được  
các nhu cầu cao hơn của các cá nhân. Trao quyền gắn với khuynh hướng giúp nhân viên tìm ra  
giá trị và ý nghĩa công việc của họ và tạo một môi trường để con người có thể phát triển. Khi con  
người toàn tâm toàn ý với công việc, sự thỏa mãn, thành tích và lợi nhuận tăng lên.  
Câu hỏi thảo luận  
1. Mô tả các loại nhu cầu của con người trong một tổ chức? Các thái độ và hành vi của con  
người chịu ảnh hưởng như thế nào bởi nhu cầu đó?  
2. Nêu rõ mối quan hệ giữa nhu cầu, phần thưởng và động cơ thúc đẩy?  
3. Vai trò của nhà lãnh đạo như thế nào trong việc động viên người khác?  
4. Cách tiếp cận “cây gậy và củ cà rốt” là gì? Bạn có nghĩa rằng nó sẽ thu nhỏ tổ chức  
không? Vì sao?  
5. Các đặc trưng cơ bản của thuyết kỳ vọng và thuyết ủng hộ làm cho nó dường như giống  
với cách tiếp cận “củ cà rốt và cây gậy”? Tại sao chúng được áp dụng phổ biến trong các  
tổ chức?  
6. Vì sao điều quan trọng đối với nhà lãnh đạo là phải có hiểu biết cơ bản về thuyết công  
bằng? Bạn có thể nhận ra trong cách trả thù lao phổ biến ngày nay như trả lương theo  
thành tích, chia trả lợi nhuận có thể có những sự không công bằng giữa các nhân viên  
không? Hãy thảo luận vấn đề này?  
7. Lợi ích của việc trao quyền cho nhân viên là gì? Tại sao cũng có những nhân viên không  
cần được trao quyền?  
8. bạn có đồng ý rằng nhân tố vệ sinh như mô tả trong thuyết hai nhân tố của Herzberg  
không cung cấp sự thỏa mãn và đông viên không? Hãy thảo luận?  
9. Bạn có tin rằng trách nhiệm của người lãnh đạo là giúp nhân viên tìm ra ý nghĩa trong  
công việc của họ không? Lãnh đạo sẽ làm điều này như thế nào với các nhân viên ở nhà  
hàng?  
pdf 20 trang yennguyen 22100 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bài giảng Nghệ thuật lãnh đạo - Chương 8: Động cơ thúc đẩy và trao quyền (Mới)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_nghe_thuat_lanh_dao_chuong_8_dong_co_thuc_day_va_t.pdf