Ảnh hưởng nhận thức khởi nghiệp đến hành vi khởi nghiệp của sinh viên Việt Nam: Vai trò ý định mục tiêu và ý định hành động

Nguyễn Quang Thu và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 23-36 23  
ẢNH HƯỞNG NHẬN THỨC KHỞI NGHIỆP ĐẾN HÀNH VI  
KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM: VAI TRÒ Ý ĐỊNH  
MỤC TIÊU VÀ Ý ĐỊNH HÀNH ĐỘNG  
NGUYỄN QUANG THU  
Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh – [email protected].vn  
TRẦN THẾ HOÀNG  
Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh – [email protected].vn  
HÀ KIÊN TÂN  
Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Bình Dương – [email protected]u.vn  
(Ngày nhận: 20/01/2018; Ngày nhận lại: 02/02/2018; Ngày duyệt đăng: 12/03/2018)  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu này kiểm định mối quan hệ giữa nhận thức, ý định và hành vi khởi nghiệp của sinh viên Việt Nam  
thông qua việc khảo sát 368 sinh viên đã từng khởi nghiệp tại các trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bình  
Dương, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu. Mục tiêu của nghiên cứu này mở rộng lý thuyết sự kiện kinh doanh (EEM)  
bằng việc đưa vào mô hình yếu tố ý định hành động. Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố này đều có tác động dương  
đến hành vi khởi nghiệp. Cuối cùng, nghiên cứu đã đưa ra kết luận và hàm ý chính sách cho các trường Đại học và  
hướng nghiên cứu tiếp theo.  
Từ khóa: Hành vi khởi nghiệp; Nhận thức khả thi; Nhận thức mong muốn; Ý định hành động; Ý định  
mục tiêu.  
Impact of entrepreneurial perceive on entrepreneurial behaviors of Vietnamese  
students: Role of goal intention and implementation intention  
ABSTRACT  
This study investigated the relationships between perceive, intention and entrepreneurial behaviors of  
Vietnamese students. We surveyed 368 start-up students from universities of Ho Chi Minh City, Binh Duong, Dong  
Nai, and Ba Ria Vung Tau. The objective of this study extended the EEM theory by adding the implementation  
intention to the model. The results showed that this factor had a positive effect on entrepreneurial behavior. Finally,  
we drew the conclusions and implications for university policies and the future research.  
Keywords: Entrepreneurial behavior; Perceived feasibility; Perceived desirability; Implementation intention;  
Goal intention.  
trưởng kinh tế; Hai là, giảm thất nghiệp  
(Santarelli & cộng sự, 2009), đặc biệt với sinh  
viên mới ra trường (Fayolle & cộng sự, 2006)  
tại các nước đang phát triển. Lứa tuổi thanh  
niên từ 18 đến 36 thường mạo hiểm, ít sợ rủi  
ro, mong muốn làm giàu, nhạy bén với các cơ  
hội kinh doanh, có ý định khởi nghiệp và thực  
hiện khởi nghiệp ở mức cao (GEM, 2016)1.  
1. Giới thiệu  
Khởi nghiệp là một lĩnh vực luôn được  
các nhà nghiên cứu quan tâm hàng đầu vì sự  
phát triển nền kinh tế quốc gia. Việc gia tăng  
được số lượng các doanh nghiệp trong nền  
kinh tế luôn là mối bận tâm chính của chính  
phủ, các nhà hoạch định chính sách và các học  
giả với hai lý do. Một là, tăng tốc độ tăng  
24 Nguyễn Quang Thu và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 23-36  
Tuy nhiên, nhận thức khởi nghiệp của  
Sinh viên Việt Nam có một số khác biệt nhất  
định. Tại nhiều quốc gia phát triển, khởi  
nghiệp dựa trên nền tảng của sự sáng tạo.  
Trong khi đó, nhận thức tại Việt Nam lại có  
phần nghiêng về tạo việc làm, tăng thu nhập  
và xem như là một lựa chọn nghề nghiệp  
(GEM, 2016). Mặc dù nhận thức về khởi  
nghiệp ở độ tuổi 18-36 là khá cao, nhưng ý  
định khởi nghiệp lại không tương xứng  
(GEM, 2016). Vậy, nhận thức khởi nghiệp  
của sinh viên có ảnh hưởng như thế nào đến ý  
định và cuối cùng đến hành vi khởi nghiệp  
thực sự của họ?  
Nghiên cứu này nhằm kiểm định vai trò  
của nhận thức khởi nghiệp đến ý định và hành  
vi khởi nghiệp của sinh viên Việt Nam thông  
qua việc khảo sát sinh viên năm cuối các  
trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh,  
Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu,  
với 3 đóng góp mới:  
khả thi (nhận thức về năng lực của nhà khởi  
nghiệp). Để dự định có thể được thực hiện nó  
cần phải có một số tác nhân đẩy (tiêu cực),  
làm thay đổi cuộc sống con người như: bất  
mãn công việc hiện tại, li dị, mất việc,… Hay,  
một số tác nhân kéo theo (tích cực) như tìm  
được đối tác tốt hoặc có hỗ trợ tài chính.  
2.1.2. Lý thuyết về các pha hành động  
(Gollwitzer, 1993, 1997)  
Lý thuyết các pha hành động (Theory of  
action phases - TAP) được Gollwitzer (1993)  
phát triển trong những năm 90. Có hai loại ý  
định: ý định mục tiêu (goal intention) và ý  
định hành động (implementation intention). Ý  
định mục tiêu đề cập đến "Tôi định thực hiện  
X", trong khi ý định hành động tương ứng với  
"Tôi có ý định hành động nhắm mục tiêu X  
khi tôi gặp tình huống Y". Vì vậy, những  
người thiết lập ý định hành động xác định khi  
nào, ở đâu và làm thế nào họ có kế hoạch ban  
hành ý định của họ (Brandstätter & cộng sự,  
2001) từ đó dẫn đến hành động. Như vậy, ý  
định mục tiêu sẽ ở dạng tổng quát (là một  
dạng tín hiệu), còn ý định hành động là ý định  
chi tiết để cụ thể hóa ý định mục tiêu.  
1) Kiểm định vai trò của yếu tố nhận thức  
(nhận thức khả thi và nhận thức mong muốn)  
đến ý định (mục tiêu, hành động) và hành vi  
khởi nghiệp.  
2) Kiểm định tác động của yếu tố ý định  
mục tiêu đến ý định hành động.  
2.1.3. Lý thuyết thiết lập mục tiêu (Locke  
& Latham, 1991)  
3) Đánh giá mức độ tác động của ý định  
khởi nghiệp (mục tiêu và hành động) đến  
hành vi khởi nghiệp.  
Các phần tiếp theo của nghiên cứu này  
gồm: (1) Cơ sở lý thuyết và lược khảo các  
công trình nghiên cứu liên quan; (2) Phương  
pháp nghiên cứu; (3) Kết quả và thảo luận; (4)  
Kết luận và hàm ý chính sách.  
2. Lược khảo lý thuyết về khởi nghiệp  
2.1. Cơ sở lý thuyết  
2.1.1. Mô hình sự kiện khởi nghiệp  
(Krueger & cộng sự, 2000)  
Lý thuyết thiết lập mục tiêu (Theory of  
goal setting motivation) cho rằng có hai yếu tố  
quyết định nhận thức về hành vi: Giá trị và ý  
định. Trong khi mục tiêu được định nghĩa là  
những gì cá nhân ý thức được và cố gắng thực  
hiện. Còn giá trị là những kết quả mà cá nhân  
đó mong muốn đạt được. Các mục tiêu cần  
phải rõ ràng cụ thể (không chấp nhận mơ hồ)  
nhưng cũng phải đầy thách thức sẽ giúp nâng  
cao động cơ của cá nhân thực hiện để đạt  
được nó. Mục tiêu càng chi tiết thì càng làm  
động cơ thực hiện hành vi càng cao.  
Theo mô hình này thì ý định khởi nghiệp  
có liên quan đến nhiều yếu tố, chẳng hạn như  
sự mong muốn có nhận thức (nhận thức cơ  
hội khởi nghiệp hay sự hấp dẫn của cơ hội),  
khuynh hướng hành động và nhận thức tính  
2.2. Lược khảo các công trình nghiên  
cứu thực nghiệm có liên quan  
Các nghiên cứu thực nghiệm trong và  
ngoài nước có liên quan đến nghiên cứu này  
được trình bày tóm tắt ở Bảng 1.  
Nguyễn Quang Thu và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 23-36 25  
Bảng 1  
Lược khảo tóm tắt một số công trình nghiên cứu liên quan  
Nghiên cứu  
Lý thuyết nền  
Nhận xét  
Marco van & cộng sự (2008); Lý thuyết dự định hành vi Sử dụng các yếu tố có sẵn trong  
(TPB) Ajzen (1991); Lý lý thuyết để kiểm định cho sinh  
thuyết sự kiện khởi nghiệp viên Đại học hoặc trung học đến  
(Krueger & cộng sự, 2000) từ các nước phát triển (Đức,  
Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào  
do Paço & cộng sự (2011); Bùi  
Thị Thanh & Nguyễn Xuân  
Hiệp (2016)  
Nha) hoặc các nước có nền kinh  
tế đang phát triển (Romania,  
Ukraine, Malaysia, Trung Quốc,  
Tunisia, Ethiopia, Afghanistan,  
Peru, Việt Nam).  
Hmieleski & Corbett (2006); Lý thuyết dự định hành vi Bổ sung yếu tố sự thích ứng  
(TPB) Ajzen (1991);  
(proclivity for improvisation)  
vào mô hình gốc.  
Hayton & Cholakova (2012);  
De Clercq & cộng sự (2013)  
Lý thuyết dự định hành vi Nghiên cứu mối quan hệ giữa  
(TPB) Ajzen (1991); Lý khả năng nhận thức và sự hấp  
thuyết sự kiện khởi nghiệp dẫn đối với ý định được điều tiết  
(Krueger & cộng sự, 2000) bởi định hướng học tập và niềm  
đam mê làm việc.  
Fitzsimmons & Douglas  
(2011);  
Lý thuyết dự định hành vi Nghiên cứu sự tương tác giữa  
(TPB) Ajzen (1991); Lý nhận thức cơ hội khởi nghiệp và  
thuyết sự kiện khởi nghiệp tính khả thi.  
(Krueger & cộng sự, 2000)  
Nabi & Liñán (2013)  
Bhandari (2012) ;  
Lý thuyết dự định hành vi Nghiên cứu ảnh hưởng của cá  
(TPB) Ajzen (1991)  
tính, trạng thái tâm lý và nhân  
khẩu học đến ý định khởi nghiệp.  
Lý thuyết dự định hành vi Nghiên cứu mối quan hệ giữa  
(Hadjimanolis & Poutziouris, (TPB) Ajzen (1991)  
2011)  
nền tảng gia đình và ý định khởi  
nghiệp.  
Guerrero & cộng sự (2008);  
Bùi Thị Thanh & Nguyễn  
Xuân Hiệp (2016)  
Lý thuyết dự định hành vi Nghiên cứu mối quan hệ giữa  
(TPB) Ajzen (1991)  
nền tảng giáo dục và ý định khởi  
nghiệp.  
Gird & Bagraim (2008)  
Lý thuyết dự định hành vi Nghiên cứu mối quan hệ giữa  
(TPB) Ajzen (1991)  
yếu tố kinh nghiệm và ý định  
khởi nghiệp.  
Walker & cộng sự (2013)  
Lý thuyết dự định hành vi Các yếu tố môi trường, văn hóa,  
(TPB) Ajzen (1991); Lý thể chế và các tổ chức hỗ trợ  
thuyết sự kiện khởi nghiệp khởi nghiệp ảnh hưởng đến ý  
(Krueger & cộng sự, 2000) định khởi nghiệp.  
Nguồn: Tổng hợp của nhóm nghiên cứu  
26 Nguyễn Quang Thu và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 23-36  
Như vậy, các nghiên cứu trên chỉ dừng ở ý  
định khởi nghiệp. Hướng nghiên cứu từ ý định  
đến hành vi khởi nghiệp cũng đã được đề cập  
nhưng chưa có nghiên cứu thực nghiệm nào.  
Hơn nữa, nhận thức khởi nghiệp của Sinh viên  
Việt Nam (là quốc gia có nền kinh tế chuyển  
đổi) có một số khác biệt nhất định so với các  
nước đang phát triển. Vì vậy, kiểm định mối  
quan hệ giữa nhận thức đến ý định và hành vi  
khởi nghiệp được đặt ra để nghiên cứu.  
phát triển một hoạt động kinh doanh nhằm thu  
được lợi ích về tài chính hay các lợi ích khác  
trong một thế giới kinh tế hay kinh doanh mà  
thế giới đó sẽ tạo ra một sự tự do cho chính  
người thực hiện hoạt động này. Theo Shapero  
& Sokol (1982) thì tinh thần khởi nghiệp là  
quá trình mà cá nhân sẵn sàng tiên phong  
trong việc nắm bắt các cơ hội kinh doanh hấp  
dẫn và khả thi mà họ nhận biết được. Trong  
khi đó ý định khởi nghiệp là bước đầu tiên  
trong quá trình khám phá, sáng tạo, khai thác  
cơ hội để khởi nghiệp và thành lập doanh  
nghiệp mới (Gartner & cộng sự, 1994).  
2.3. Các khái niệm trong mô hình  
nghiên cứu và các giả thuyết  
Hành vi khởi nghiệp  
Theo Schumpeter (1934), khởi nghiệp là  
tạo ra các kết hợp mới. Với Cole (1968), là  
hoạt động có mục đích để khởi đầu, duy trì và  
Ý định khởi nghiệp  
Các định nghĩa về ý định khởi nghiệp  
được tổng hợp và trình bày trong Bảng 2.  
Bảng 2  
Định nghĩa về ý định khởi nghiệp  
Tác giả  
Định nghĩa  
Bird (1988)  
Ý định khởi nghiệp là một trạng thái của tâm trí nhấn  
mạnh đến sự quan tâm cá nhân và kinh nghiệm để thực  
hiện việc tạo ra doanh nghiệp mới.  
Tubbs & Ekeberg (1991)  
Shane & Venkataraman (2000)  
Reynolds (2005)  
Ý định khởi nghiệp là một đại diện các hành động có kế  
hoạch để thực hiện một hành vi kinh doanh.  
Ý định khởi nghiệp là quá trình nhận dạng, đánh giá và  
khai thác cơ hội kinh doanh.  
Ý định khởi nghiệp là các gắn kết cá nhân của các doanh  
nhân tiềm năng để bắt đầu khởi nghiệp.  
Souitaris & cộng sự (2007)  
Ý định khởi nghiệp là sự liên quan về ý định của một cá  
nhân để bắt đầu một doanh nghiệp.  
Nguồn: Tổng hợp của nhóm nghiên cứu  
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả sẽ sử  
dụng định nghĩa của Shane & Venkataraman  
(2000).  
lập mục tiêu thì đó là mục tiêu đầy thách thức  
vì đầy thách thức mới khiến cá nhân quyết  
tâm đạt được.  
Ý định mục tiêu  
Ý định hành động  
Theo Gollwitzer (1993), ý định mục tiêu  
chính là ý định trong lý thuyết dự định hành vi  
(TPB) của Azjen hay EEM, với Fayolle &  
Liñán (2014) ý định mục tiêu là một dạng cam  
kết và là một bước đi cần thiết trước khi thực  
hiện ý định và hành vi. Trong lý thuyết thiết  
Theo Sheeran & Silverman (2003) phân  
biệt giữa “giai đoạn tạo động lực mà người đó  
quyết định hành động và một giai đoạn hoạch  
định (volitional) mà người đó hoạch định làm  
thế nào để quyết định trở thành hiện thực”.  
Giai đoạn động lực là giai đoạn liên quan đến  
Nguyễn Quang Thu và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 23-36 27  
quá trình nhận dạng cơ hội khởi nghiệp và khả  
năng khởi nghiệp trong các mô hình ý định.  
Giai đoạn hoạch định đề cập đến ý định hành  
động và không được giải quyết trong các mô  
hình ý định. Tuy nhiên nó vẫn là một phần  
của quá trình thực hiện hành vi.  
giảm theo thời gian. Các ý định hành động  
cũng có thể giúp giải quyết một cách hiệu quả  
sự lo lắng và những cảm xúc tiêu cực  
(Sheeran & cộng sự, 2007). Như vậy, căn cứ  
vào những phân tích trên, giả thuyết H1b  
được phát biểu như sau:  
H1b: Ý định hành động sẽ có tác động  
cùng chiều đến hành vi khởi nghiệp.  
Mối quan hệ giữa ý định mục tiêu và ý  
định hành động  
Nhận thức khởi nghiệp  
Một cơ hội kinh doanh thường được định  
nghĩa như là một "tình huống tương lai được  
coi là hấp dẫn và khả thi" (Stevenson &  
Jarillo, 2007). Tính mong muốn đề cập đến  
giá trị nhận thức hoặc sự hấp dẫn của cơ hội  
(ví dụ: cơ hội có tiềm năng lợi nhuận cao  
được đánh giá là rất mong muốn). Tính khả  
thi đề cập đến khả năng thực thi hay khó khăn  
của cơ hội (ví dụ: cơ hội nằm trong một thị  
trường cạnh tranh cao là khả thi hơn là một cơ  
hội nằm trong một thị trường chỉ với một vài  
đối thủ cạnh tranh yếu).  
Ý định mục tiêu được theo đuổi sẽ thành  
công hơn khi kết hợp với các ý định hành  
động (Gollwitzer & Brandstätter, 1997). Vì nó  
tạo ra một liên kết chặt chẽ giữa các tín hiệu  
và các hành vi trong trí nhớ và mục đích thực  
hiện sẽ làm tăng khả năng tiếp cận trong tư  
duy vì thế gây ra hành động (Gollwitzer,  
1993). Cho nên, các ý định hành động tạo  
thuận lợi cho việc bắt đầu các hành vi dự định  
(Gollwitzer & Sheeran, 2006). Trên cơ sở lý  
thuyết của Gollwitzer (1993), giả thuyết H2  
được phát biểu như sau:  
Mối quan hệ giữa ý định mục tiêu và  
hành vi khởi nghiệp  
Lý thuyết về sự kiện khởi nghiệp (EEM)  
của (Shapero & Sokol, 1982), lý thuyết hành  
vi có kế hoạch (TPB) của (Ajzen, 1991) cho  
rằng ý định là chỉ báo quan trọng dự báo hành  
vi của con người. Theo Randall & Wolff  
(1994), mối quan hệ giữa ý định và hành vi  
không thay đổi theo thời gian. Trong nghiên  
cứu tổng kết về định lượng 98 nghiên cứu  
trước đó của (Schlaegel & Koenig, 2014)  
khẳng định vẫn có tương quan cao cùng chiều  
giữa ý định và hành vi trong bối cảnh khởi  
nghiệp. Từ những phân tích nêu trên, giả  
thuyết H1a được đưa ra như sau:  
H1a: ý định mục tiêu tác động cùng chiều  
đến hành vi khởi nghiệp.  
Mối quan hệ giữa ý định hành động và  
hành vi khởi nghiệp  
Ý định hành động hiệu quả trong việc dẫn  
dắt hành động, đặc biệt khi các mục tiêu có  
thể đạt được thông qua các hành động, hoặc  
đối với mô hình hành vi tương đối phức tạp  
như khởi nghiệp. Sheeran & Silverman (2003)  
xác nhận ý định hành động làm tăng khả năng  
hành động và hiệu quả của nó cũng không  
H2: Ý định mục tiêu sẽ có tác động cùng  
chiều đến ý định hành động khởi nghiệp.  
Mối quan hệ giữa nhận thức khởi  
nghiệp và ý định mục tiêu  
Các nghiên cứu gần đây cho rằng mong  
muốn và khả thi là đặc điểm của các cơ hội  
kinh doanh cụ thể (Haynie & cộng sự, 2009).  
Kết quả này cho thấy ảnh hưởng trực tiếp của  
tính mong đợi và khả thi của việc đánh giá cơ  
hội (Haynie & cộng sự, 2009; Robert Mitchell  
& cộng sự, 2011). Hơn nữa tính mong muốn  
và tính khả thi cao đều có ảnh hưởng tích cực  
đến việc đánh giá cơ hội. Lý thuyết tiềm năng  
khởi nghiệp của (Krueger & Brazeal, 1994)  
cho rằng một cá nhân ham muốn khởi nghiệp,  
cảm nhận về tính khả thi khởi nghiệp thì sẽ có  
tiềm năng khởi nghiệp, nếu có tác động của  
các nhân tố kéo hoặc đẩy thì tiềm năng khởi  
nghiệp sẽ thúc đẩy cá nhân hình thành ý định  
khởi nghiệp. Từ những phân tích nêu trên giả  
thuyết H3a và H4a được phát biểu như sau:  
H3a: Nhận thức khả thi sẽ tác động cùng  
chiều đến ý định mục tiêu khởi nghiệp.  
28 Nguyễn Quang Thu và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 23-36  
H4a: Nhận thức mong muốn sẽ tác động  
cùng chiều đến ý định mục tiêu khởi nghiệp.  
Mối quan hệ giữa nhận thức khởi  
nghiệp và ý định hành động  
Gollwitzer (1993) cho rằng giai đoạn  
nhận thức chính là giai đoạn tạo động lực để  
khởi nghiệp. Một cá nhân khi có động lực sẽ  
hình thành ý định mục tiêu hoặc là ý định  
hành động. Sức mạnh của ý định hành động  
trong việc nối kết giữa nhận thức, ý định mục  
tiêu và hành vi lần đầu tiên được Gollwitzer  
kiểm tra và nhiều nghiên cứu thực nghiệm  
khác. Nghiên cứu của (M Brännback & Cộng  
sự, 2006), ý định khởi nghiệp chủ yếu phụ  
thuộc vào nhận thức cơ hội và nhận thức khả  
năng khởi nghiệp. Trong nghiên cứu của  
(Schlaegel & Koenig, 2014), kết hợp giữa hai  
mô hình TPB (Ajzen, 1991) và EEM (Krueger  
& cộng sự, 2000). Vì thế, giả thuyết H3b, H4b  
được phát biểu như sau:  
H3b: Nhận thức khả thi sẽ tác động cùng  
chiều đến ý định hành động khởi nghiệp.  
H4b: Nhận thức mong muốn sẽ tác động  
cùng chiều đến ý định hành động khởi nghiệp.  
Tổng hợp các giả thuyết trên, mô hình  
nghiên cứu đề xuất được trình bày như Hình 1:  
H3a+  
Nhận thức  
Ý định  
khả thi  
mục tiêu  
H1a+  
H3b+  
Hành vi  
khởi nghiệp  
H2+  
H4a+  
H1b+  
Nhận thức  
Ý định  
mong muốn  
hành động  
H4b+  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
phiếu trả lời đã và đang khởi nghiệp, trong số  
này có 38 phiếu có số lượng các câu trả lời  
trống trên 10% tổng số câu hoặc các câu chọn  
điểm như nhau vì vậy bị loại. Số còn lại là 368  
được đưa vào nghiên cứu chính thức. Theo đó,  
Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Bình Dương  
(17SV-4,62%); Đại học Bình Dương (9SV-  
2,45%); Đại học Thủ Dầu Một (20SV-5,43%);  
Đại học Lạc Hồng (35SV-9,51%), Đại học Bà  
Rịa Vũng Tàu (13SV-3,53%); Đại học Kinh tế  
Thành phố Hồ Chí Minh (157SV-42,66%);  
Đại học Hoa Sen (33SV-8,97%); Đại học Tài  
chính - Marketing (30SV-8,15%); Đại học Mở  
Thành phố Hồ Chí Minh (54SV-14,67%). Về  
ngành nghề chỉ khảo sát sinh viên năm cuối  
quản trị kinh doanh. Về giới tính, nam chiếm  
73,8% với 271SV, trong khi đó nữ chiếm  
26,2% với 97SV.  
3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu  
3.1. Dữ liệu nghiên cứu  
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu điều  
tra bằng phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng  
câu hỏi chi tiết với thang đo Likert 7 bậc (từ  
1: Hoàn toàn không đồng ý đến 7: hoàn toàn  
đồng ý).  
Mẫu nghiên cứu  
Nghiên cứu này sử dụng kỹ thuật phỏng  
vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi chi tiết với  
sinh viên năm cuối tại Thành phố Hồ Chí  
Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng  
Tàu. Thời gian phỏng vấn từ tháng 4-7/2017.  
Mẫu được chọn theo phương pháp thuận  
tiện với số lượng theo nguyên tắc 5:1 (Nguyễn  
Đình Thọ, 2011). Mô hình có (22 biến quan  
sát + 02 biến kiểm soát)*5 = 120. Phát ra 1817  
phiếu thu về 1432 phiếu. Trong đó có 406  
Nguyễn Quang Thu và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 23-36 29  
Thang đo  
là thang đo đa biến. Các thang đo này sử dụng  
likert 7 bậc. Mô hình có 5 khái niệm nghiên  
cứu với 22 biến quan sát được trình bày trong  
Bảng 3.  
Thang đo dựa trên các thang đo lập lại và  
được điều chỉnh sau nghiên cứu định tính. Tất  
cả các thang đo trong mô hình nghiên cứu đều  
Bảng 3  
Thang đo các khái niệm trong mô hình và nguồn gốc các thang đo  
Số biến  
Khái niệm nghiên cứu  
Nguồn gốc  
quan sát  
04  
Krueger & Carsrud  
(2000); Wang, Lu, &  
Millington (2011)  
Ý định mục tiêu khởi nghiệp (INT)  
1) Tôi đã sẵn sàng làm bất cứ điều gì để trở thành một  
doanh nhân; 2) Mục tiêu nghề nghiệp của tôi đang trở  
thành một doanh nhân; 3) Tôi sẽ cố gắng hết sức để bắt  
đầu và điều hành công ty của riêng tôi; 4) Tôi quyết tâm  
tạo công ty trong tương lai  
05  
03  
05  
Kautonen (2015)  
Hành vi khởi nghiệp (BEH)  
1) Xây dựng kế hoạch kinh doanh; 2) Phát triển sản  
phẩm hoặc dịch vụ; 3) Các nỗ lực tiếp thị theo kế  
hoạch; 4) Nói chuyện với khách hàng tiềm năng; 5) Thu  
thập thông tin về đối thủ cạnh tranh  
Gollwitzer & Brandstätter  
(1997).  
Ý định hành động khởi nghiệp (INT_I)  
1) Bạn có nghĩ về một ý tưởng có thể làm cơ sở để bắt  
đầu công ty của riêng bạn; 2) Bạn đang phát triển một  
sản phẩm/dịch vụ; 3) Hiện bạn đang tiết kiệm tiền cho ý  
định bắt đầu kinh doanh của mình  
Krueger & Carsrud (2000)  
Nhận thức mong muốn (DES)  
1) Là một doanh nhân có nhiều lợi thế hơn bất lợi đối  
với tôi; 2) Một sự nghiệp như một doanh nhân là điều  
thú vị đối với tôi; 3) nếu tôi có cơ hội, vốn và khả năng,  
tôi sẽ bắt đầu một công ty mới; 4) Là một doanh nhân  
sẽ cho tôi một sự hài lòng lớn; 5) Trong số các lựa chọn  
khác nhau, tôi muốn trở thành một doanh nhân  
05  
Krueger & Carsrud (2000)  
Nhận thức khả thi (FEA)  
1)Tin tưởng vào khả năng tồn tại và tăng trưởng của dự  
án kinh doanh nếu tôi có ý định thành lập công ty;  
2) Tôi cho rằng việc thành lập công ty với tôi là khả thi;  
3)Tôi đủ phẩm chất để thành lập công ty; 4) Kiến thức  
và kinh nghiệm là động lực cho tôi thành lập công ty  
mới; 5) Mạng lưới các mối quan hệ thuận lợi cho việc  
thành lập công ty của tôi  
Nguồn: Tổng hợp của nhóm nghiên cứu  
30 Nguyễn Quang Thu và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 23-36  
đo được hoàn chỉnh và sử dụng cho bước  
nghiên cứu định lượng chính thức. Nghiên  
cứu sơ bộ định lượng được thực hiện để đánh  
giá thang đo bằng hệ số tin cậy (Cronbach’s  
Alpha) và phân tích nhân tố khám phá (EFA).  
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
3.2. Phương pháp nghiên cứu  
Phương pháp nghiên cứu được thực hiện  
thông qua 02 giai đoạn: (1) Nghiên cứu sơ bộ;  
và (2) Nghiên cứu chính thức.  
Nghiên cứu sơ bộ định tính: dùng để điều  
chỉnh các biến quan sát đo lường các khái  
niệm nghiên cứu thông qua kỹ thuật thảo luận  
nhóm để các thang đo có thể được hiểu rõ  
ràng và đồng nhất về yếu tố nhận thức, ý định  
mục tiêu, ý định hành động, và hành vi khởi  
nghiệp.  
Nghiên cứu sơ bộ định lượng: Thang đo  
nháp được dùng để phỏng vấn thử với mẫu  
110 sinh viên đã và đang khởi nghiệp theo  
phương pháp lấy mẫu thuận tiện để kiểm định  
độ tin cậy của thang đo. Sau bước này, thang  
4.1. Kết quả nghiên cứu  
Kết quả phân tích CFA với mô hình tới  
hạn cho thấy chi-bình phương là 240,109 với  
109 bậc tự do, giá trị p=0,000. Nếu điều chỉnh  
theo bậc tự do có CMIN/df = 2,202<3, đạt yêu  
cầu độ tương thích. Các chỉ tiêu khác nhau  
như GFI = 0,928, TLI = 0,935, CFI = 0.948,  
RMSEA = 0.057 < 0,80, đều đạt yêu cầu. Vì  
vậy, mô hình tới hạn đạt được độ tương thích  
với dữ liệu thị trường.  
Bảng 4  
Bảng tóm tắt kết quả kiểm định thang đo  
Khái niệm  
Số biến  
quan sát  
Độ tin cậy  
Phương sai  
trích (Average  
Variance  
Cronbach’s Tổng hợp (Composite  
Alpha  
Reliability)  
Extracted)  
Ý định mục tiêu  
03  
03  
03  
04  
03  
0,860  
0,804  
0,788  
0,756  
0,806  
0,862  
0.808  
0,761  
0,806  
0,806  
0,676  
0,584  
0,485  
0.517  
0,511  
Ý định hành động  
Hành vi khởi nghiệp  
Nhận thức mong muốn  
Nhận thức khả thi  
Nguồn: Xử lý số liệu điều tra của nhóm nghiên cứu  
Kết quả SEM (Hình 2) cho thấy chi-bình  
phương là 322,014 với 112 bậc tự do, giá trị  
p=0,000. Nếu điều chỉnh theo bậc tự do có  
CMIN/df = 2,875 <3.0, đạt yêu cầu độ tương  
thích; GFI = 0,907, TLI = 0,898, CFI = 0.916,  
RMSEA = 0.071 < 0,80, đều đạt yêu cầu.  
Hiện tượng Heywood không xuất hiện trong  
quá trình ước lượng các mô hình CFA, SEM  
và đa số các sai số chuẩn (standardized  
residuals) đều nhỏ hơn |2,28|. Vì vậy, có thể  
kết luận, mô hình này thích hợp với dữ liệu  
thị trường.  
Nguyễn Quang Thu và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 23-36 31  
Hình 2. Kết quả SEM cho mô hình lý thuyết (đã chuẩn hóa)  
Kết quả ước lượng các tham số chính  
được trình bày ở Bảng 5 tất cả các mối quan hệ  
đều có ý nghĩa thống kê (p-value<5%). Như  
vậy tất cả các giả thuyết đều được chấp nhận.  
Bảng 5  
Kết quả kiểm định mối quan hệ giữa các khái niệm nghiên cứu (chuẩn hóa)  
Mối quan hệ  
<--- Ý định mục tiêu  
Ước lượng S.E. C.R.  
P
0,066 5.306 ***  
0,071 3.595 ***  
0,063 4.309 ***  
0,082 6.963 ***  
0,087 2.829 0,005  
0,082 5.546 ***  
0,079 2.303 0,021  
Hành vi khởi nghiệp  
Hành vi khởi nghiệp  
Ý định hành động  
Ý định mục tiêu  
0,351  
0,256  
0,270  
0,570  
0,247  
0,457  
0,182  
<--- Ý định hành động  
<--- Ý định mục tiêu  
<--- Nhận thức khả thi  
<--- Nhận thức mong muốn  
<--- Nhận thức khả thi  
<--- Nhận thức mong muốn  
Ý định mục tiêu  
Ý định hành động  
Ý định hành động  
Ghi chú: *** mức ý nghĩa 1%  
Nguồn: Kết quả từ xử lý số liệu điều tra của nhóm nghiên cứu  
Kết quả các tác động trực tiếp, gián tiếp và tổng hợp vào các biến phụ thuộc (hành vi  
khởi nghiệp, ý định hành động, ý định mục tiêu) được trình bày ở Bảng 6.  
32 Nguyễn Quang Thu và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 23-36  
Bảng 6  
Tác động nhận thức khởi nghiệp đến hành vi khởi nghiệp thông qua ý định khởi nghiệp  
Nhận thức  
Ý định  
Ý định  
Nhận thức  
khả thi  
Biến phụ thuộc  
Loại tác động  
mong  
muốn  
mục tiêu  
hành động  
Hành vi khởi nghiệp Trực tiếp  
Gián tiếp  
0,394  
0,078  
0,472  
0
0,264  
0
0
0
0,328  
0,328  
0,467  
0
0,115  
0,115  
0,168  
0
Tổng hợp  
0,264  
Ý định mục tiêu  
Trực tiếp  
Gián tiếp  
Tổng hợp  
Trực tiếp  
Gián tiếp  
Tổng hợp  
0
0
0
0
0
0
0
0
0,467  
0,407  
0,137  
0,544  
0,168  
0,135  
0,049  
0,184  
Ý định hành động  
0,294  
0
0,294  
Nguồn: Kết quả từ xử lý số liệu điều tra của nhóm nghiên cứu  
4.2. Đánh giá kết quả  
Kết quả nghiên cứu có một số ý nghĩa  
như sau:  
5. Kết luận và hàm ý chính sách cho  
các trường Đại học  
5.1. Kết luận  
Một là, Kiểm chứng được vai trò quan  
trọng của nhận thức khả thi đến ý định khởi  
nghiệp (ý định mục tiêu và ý định hành động)  
của sinh viên Việt Nam.  
Hai là, Khẳng định lại vai trò quan trọng  
của ý định mục tiêu và ý định hành động  
trong mối quan hệ giữa nhận thức và hành vi  
khởi nghiệp, trong đó yếu tố trung gian ý định  
hành động được đưa vào mô hình có ý nghĩa  
thống kê (mối quan hệ mới chưa được kiểm  
định tại Việt Nam), góp phần phát triển lý  
thuyết sự kiện khởi nghiệp (EEM) của  
Krueger & cộng sự (2000).  
Ba là, Yếu tố ý định hành động được  
xem là yếu tố có hiệu quả đối với việc thúc  
đẩy hành vi khởi nghiệp. Nó nhấn mạnh từ  
dạng tâm trí (ý định mục tiêu) chuyển sang ý  
định hành động nhằm cụ thể hóa các mục  
tiêu đã định hướng trước đó. Từ đó giúp nhà  
khởi nghiệp tiềm năng kiên trì với ý định  
khởi nghiệp.  
Kết quả nghiên cứu này khác với kết quả  
nghiên cứu của (Schlaegel & Koenig, 2014  
được kiểm định tại các nước phương Tây) cho  
rằng yếu tố nhận thức mong muốn (khả năng  
nhận thức cơ hội của nhà khởi nghiệp) có vai  
trò rất quan trọng trong việc hình thành ý định  
hơn là so với yếu tố nhận thức khả thi (nhận  
thức năng lực của nhà khởi nghiệp). Schlaegel  
& Koenig (2014) nhận định rằng có thể tại các  
nước phương Đông nhận thức khả thi sẽ quan  
trọng hơn so với nhận thức mong muốn và đề  
nghị kiểm định lại mối quan hệ này. Trong  
khi đó, kết quả của nghiên cứu này (tại Việt  
Nam) lại cho thấy nhận thức khả thi có tác  
động rất mạnh đến ý định (cả mục tiêu và  
hành động) và hành vi khởi nghiệp.  
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo  
Nghiên cứu này chỉ thực hiện đối với sinh  
viên năm cuối ngành quản trị kinh doanh tại  
09 trường Đại học các tỉnh/thành: Thành phố  
Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa  
Nguyễn Quang Thu và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 23-36 33  
Vũng Tàu, do đó khả năng tổng quát hóa chưa  
cao. Kết quả sẽ tốt hơn nếu được thực hiện tại  
các trường Đại học như Cần Thơ, Đà Nẵng,  
Hà Nội.  
Nghiên cứu này chọn mẫu thuận tiện do  
đó cũng có nhược điểm là tính đại diện không  
cao. Hơn nữa, nghiên cứu từ ý định đến hành  
vi nếu chỉ khảo sát một lần cũng có hạn chế  
nhất định, nó cần phải có các dữ liệu một thời  
điểm và đa thời điểm để phân tích thì sẽ cho  
kết quả tốt.  
Còn nhiều các yếu tố khác tác động đến  
ý định và đến hành vi khởi nghiệp như các  
yếu tố văn hóa hoặc động cơ khởi nghiệp,…  
đây cũng là một hướng phát triển tiếp theo  
của nghiên cứu.  
ngay từ đầu hoặc đóng cửa chỉ sau vài tháng  
khởi nghiệp.  
Để có thể khởi nghiệp, sinh viên cần  
được trang bị rất nhiều nền tảng kiến thức  
khởi nghiệp có liên quan như kiến thức về thị  
trường sản phẩm/dịch vụ, bán hàng và  
marketing, đối thủ cạnh tranh, công nghệ,  
nguồn nhân lực, luật pháp đặc biệt là tài  
chính. Nếu sinh viên có ý tưởng, kiên trì, tìm  
được thị trường cho sản phẩm/dịch vụ của  
mình nhưng thiếu vốn thì tất cả vẫn chỉ là ý  
tưởng trên giấy. Vì vậy, nếu không có hoặc ít  
vốn để khởi nghiệp thì sinh viên có thể huy  
động vốn bên ngoài nếu muốn khởi nghiệp.  
Đối với các trường Đại học  
Các trường Đại học nên tập trung đào tạo  
phương pháp và kỹ năng để giúp sinh viên  
phát hiện ra các sản phẩm/dịch vụ đáp ứng  
nhu cầu thị trường. Hiện nay, sinh viên  
thường được đào tạo theo các quy tắc kinh  
doanh, các lí thuyết kinh tế, phương pháp tài  
chính và xây dựng bản kế hoạch kinh doanh  
khá lý thuyết trong khi khởi nghiệp phải điều  
hành doanh nghiệp thực.  
Sinh viên thường chỉ được dạy làm ra  
nhiều tiền thay vì được dạy về gia tăng giá trị  
cho thị trường. Mục đích tối thượng của khởi  
nghiệp là phá vỡ thị trường bằng việc đem tới  
giá trị cho nhiều người và đồng thời tạo ra  
việc làm mới, thị trường mới, và ngành công  
nghiệp mới.  
Các trường Đại học tại Việt Nam chưa có  
hoạt động tạo môi trường để sinh viên có thể  
trao đổi các ý tưởng và học hỏi từ người khác,  
rất khó tìm ra người hỗ trợ giỏi, phần lớn sinh  
viên đều tự làm việc độc lập. Vì vậy, các  
trường Đại học nên tạo ra môi trường cho sinh  
viên thảo luận về các ý tưởng của họ với các  
doanh nhân thành công, từ đó hiện thực hóa ý  
tưởng và tiến tới khởi nghiệp. Khởi nghiệp là  
phải hành động không phải trên giấy. Bên  
cạnh dạy về tài chính, kinh tế và quản trị thì  
phải dạy cho sinh viên về tâm lí để có thể đối  
phó với những thất bại và chấp nhận rủi ro  
5.2. Hàm ý chính sách và giải pháp  
Kết quả nghiên cứu đã khẳng định yếu tố  
nhận thức khả thi (năng lực của nhà khởi  
nghiệp) và ý định hành động có tác động rất  
lớn đến hành vi khởi nghiệp. Yếu tố này gợi  
mở cho sinh viên cần trải nghiệm và kiên trì  
đầu tư cho các ý tưởng khởi nghiệp của mình  
thông qua các hoạt động đào tạo tại Đại học  
nhằm tăng cường năng lực khởi nghiệp cho  
sinh viên. Sau đây là một số hàm ý chính sách  
và giải pháp:  
Đối với sinh viên  
Trước khi khởi nghiệp sinh viên cần phải  
hình thành động lực thông qua nhận thức tính  
hấp dẫn của các cơ hội khởi nghiệp, đánh giá  
năng lực khởi nghiệp từ đó hình thành các ý  
tưởng, ý định khởi nghiệp cộng với đam mê  
để thực hiện những ý định khởi nghiệp đó.  
Những nhà khởi nghiệp thành công ngoài  
việc có động lực, khát vọng, ý chí thì cần  
phải kiên trì phát triển các ý tưởng kinh  
doanh dù phải đối mặt với nhiều trở ngại khó  
khăn và thất bại. Nghiên cứu này cho thấy,  
khả năng khởi nghiệp là yếu tố rất quan trọng,  
trong khi rất nhiều người cố gắng khởi nghiệp  
còn thiếu những kiến thức, kỹ năng và những  
năng lực cơ bản. Đây là một trong những lý  
do mà nhiều nhà khởi nghiệp gặp khó khăn  
34 Nguyễn Quang Thu và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 23-36  
Chú thích:  
1 GEM: Global Entrepreneurship Monitor – chỉ số khởi nghiệp toàn cầu  
Tài liệu tham khảo  
Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2),  
179-211. doi:http://dx.doi.org/10.1016/0749-5978(91)90020-T  
Albert, B. (1986). Social foundations of thought and action: A social cognitive theory. NY.: Prentice-Hall.  
Bird, B. (1988). Implementing Entrepreneurial Ideas: The Case for Intention. Academy of Management Review,  
13(3), 442-453. doi:10.5465/amr.1988.4306970  
Brandstätter, V., Lengfelder, A., & Gollwitzer, P. M. (2001). Implementation intentions and efficient action  
initiation. Journal of Personality and Social Psychology, 81(5), 946-960. doi:10.1037/0022-3514.81.5.946  
Bùi Thị Thanh & Nguyễn Xuân Hiệp (2016). Ý định khởi nghiệp của sinh viên: Nghiên cứu điều tra tại TP.HCM.  
Hội thảo khoa học: Khởi nghiệp tại Việt Nam: Cơ hội và thách thức trong thời kỳ hội nhập, Đại học Kinh tế  
Thành phố Hồ Chí Minh.  
Carree, M., Piergiovanni, R., Santarelli, E., & Verheul, I. (2009). Policies fostering new firm formation and self-  
employment in Italy. In Public Policies for Fostering Entrepreneurship, 15-34. Springer US.  
doi:10.1007/978-1-4419-0249-8_2  
Cole, A. H. (1968). The Entreprenuer Introductory Remarks. The American Economic Review, 58(2), 60-63.  
De Clercq, D., Dimov, D., & Thongpapanl, N. (2013). Organizational Social Capital, Formalization, and Internal  
Knowledge Sharing in Entrepreneurial Orientation Formation. Entrepreneurship Theory and Practice, 37(3),  
505-537. doi:10.1111/etap.12021  
Fayolle, A., & Liñán, F. (2014). The future of research on entrepreneurial intentions. Journal of Business Research,  
Fitzsimmons, J. R., & Douglas, E. J. (2011). Interaction between feasibility and desirability in the formation  
of entrepreneurial intentions. Journal of Business Venturing, 26(4), 431-440. Retrieved from  
Gartner, W. B., Shaver, K. G., Gatewood, E., & Katz, J. A. (1994). Finding the entrepreneur in entrepreneurship.  
Entrepreneurship Theory and Practice, 18, 5-5.  
GEM (2016). Báo cáo chỉ số khởi nghiệp Việt nam 2015: Hoạt động kinh doanh xã hội. Hà Nội:NXB GTVT.  
Gollwitzer, P. M. (1993). Goal Achievement: The Role of Intentions. European Review of Social Psychology, 4(1),  
141-185. doi:10.1080/14792779343000059  
Gollwitzer, P. M., & Brandstätter, V. (1997). Implementation intentions and effective goal pursuit. Journal of  
Personality and Social Psychology, 73(1), 186-199. doi:10.1037/0022-3514.73.1.186  
Gollwitzer, P. M., & Sheeran, P. (2006). Implementation intentions and goal achievement: A meta analysis of  
effects and processes. Advances in experimental social psychology, 38, 69-119. doi: 10.1016/S0065-  
2601(06)38002-1  
Haynie, J. M., Shepherd, D. A., & McMullen, J. S. (2009). An opportunity for me? The role of resources in  
opportunity evaluation decisions. Journal of Management studies, 46(3), 337-361.  
Hayton, J. C., & Cholakova, M. (2012). The Role of Affect in the Creation and Intentional Pursuit of  
Entrepreneurial Ideas. Entrepreneurship Theory and Practice, 36(1), 41-68. doi:10.1111/j.1540-  
6520.2011.00458.x  
Nguyễn Quang Thu và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 23-36 35  
Hmieleski, K. M. and Corbett, A. C. (2006). Proclivity for Improvisation as a Predictor of Entrepreneurial  
Intentions. Journal of Small Business Management, 44, 45–63. doi:10.1111/j.1540-627X.2006.00153.x  
Kautonen, T., van Gelderen, M., & Tornikoski, E. T. (2015). Predicting entrepreneurial behaviour: a test of the  
theory of planned behaviour. Applied Economics, 45(6), 697-707. doi:10.1080/00036846.2011.610750  
Krueger, N. F., & Brazeal, D. V. (1994). Entrepreneurial potential and potential entrepreneurs. Entrepreneurship  
Theory and Practice, 18, 91-91.  
Krueger Jr, N. F., Reilly, M. D., & Carsrud, A. L. (2000). Competing models of entrepreneurial intentions. Journal  
of Business Venturing, 15(5–6), 411-432. Retrieved from http://dx.doi.org/10.1016/S0883-9026(98)00033-0  
Latham, G. P., & Locke, E. A. (1991). Self-regulation through goal setting. Organizational behavior and human  
decision processes, 50(2), 212-247.  
Marco van, G., Maryse, B., Mirjam van, P., Wynand, B., Erik, P., & Anita van, G. (2008). Explaining  
entrepreneurial intentions by means of the theory of planned behaviour. Career Development International,  
13(6), 538-559. doi:10.1108/13620430810901688  
Nabi, G., & Liñán, F. (2013). Considering business start-up in recession time: The role of risk perception and  
economic context in shaping the entrepreneurial intent. International Journal of Entrepreneurial Behavior &  
Research, 19(6), 633-655. doi:10.1108/IJEBR-10-2012-0107  
Nguyễn Đình Thọ (2011). Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh - thiết kế và thực hiện. Nhà xuất bản  
Lao động Xã hội, 2011.  
Parks–Stamm, E. J., Gollwitzer, P. M., & Oettingen, G. (2007). Action control by implementation intentions:  
Effective cue detection and efficient response initiation. Social Cognition, 25(2), 248-266. doi:  
10.1521/soco.2007.25.2.248  
Randall, D. M., & Wolff, J. A. (1994). The time interval in the intention-behaviour relationship: Meta-analysis.  
British Journal of Social Psychology, 33(4), 405-418. doi:10.1111/j.2044-8309.1994.tb01037.x  
Reynolds, P., Bosma, N., Autio, E., Hunt, S., De Bono, N., Servais, I., . . . Chin, N. (2005). Global Entrepreneurship  
Monitor: Data Collection Design and Implementation 1998–2003. Small Business Economics, 24(3), 205-  
231. doi:10.1007/s11187-005-1980-1  
Robert Mitchell, J., Shepherd, D. A., & Sharfman, M. P. (2011). Erratic strategic decisions: when and why  
managers are inconsistent in strategic decision making. Strategic Management Journal, 32(7), 683-704.  
doi:10.1002/smj.905/full  
Schlaegel, C., & Koenig, M. (2014). Determinants of Entrepreneurial Intent: A Meta-Analytic Test and Integration  
of Competing Models. Entrepreneurship Theory and Practice, 38(2), 291-332. doi:10.1111/etap.12087  
Schumpeter, J. A. (1934). The theory of economic development: An inquiry into profits, capital, credit, interest, and  
the business cycle (55). Transaction publishers.  
Shane, S., & Venkataraman, S. (2000). The Promise of Entrepreneurship as a Field of Research. Academy of  
Management Review, 25(1), 217-226. doi:10.5465/amr.2000.2791611  
Shapero, A., & Sokol, L. (1982). The social dimensions of entrepreneurship. Encyclopedia of entrepreneurship,  
72-90.  
Sheeran, P., & Silverman, M. (2003). Evaluation of three interventions to promote workplace health and safety:  
evidence for the utility of implementation intentions. Social Science & Medicine, 56(10), 2153-2163.  
doi:10.1016/S0277-9536(02)00220-4  
Sheeran, P., Aubrey, R., & Kellett, S. (2007). Increasing attendance for psychotherapy: Implementation intentions  
and the self-regulation of attendance-related negative affect. Journal of Consulting and Clinical Psychology,  
75(6), 853. doi: 10.1037/0022-006X.75.6.853  
36 Nguyễn Quang Thu và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 60(3), 23-36  
Sokol, L. (1982). The social Dimension of Entrepreneurship. The Encyclopedia of Entrepreneurship. Englewood  
Cliffs. NJ.: Prentice-Hall.  
Souitaris, V., Zerbinati, S., & Al-Laham, A. (2007). Do entrepreneurship programmes raise entrepreneurial intention  
of science and engineering students? The effect of learning, inspiration and resources. Journal of Business  
Stevenson, H. H., & Jarillo, J. C. (2007). A paradigm of entrepreneurship: Entrepreneurial management.  
Entrepreneurship: Concepts, theory and perspective, 155-170.  
Tubbs, M. E., & Ekeberg, S. E. (1991). The role of intentions in work motivation: Implications for goal-setting  
theory and research. Academy of Management Review, 16(1), 180-199.  
Walker, J. K., Jeger, M., & Kopecki, D. (2013). The Role of Perceived Abilities, Subjective Norm and Intentions in  
Entrepreneurial Activity. The Journal of Entrepreneurship, 22(2), 181-202. doi:10.1177/0971355713490621  
pdf 14 trang yennguyen 14660 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ảnh hưởng nhận thức khởi nghiệp đến hành vi khởi nghiệp của sinh viên Việt Nam: Vai trò ý định mục tiêu và ý định hành động", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfanh_huong_nhan_thuc_khoi_nghiep_den_hanh_vi_khoi_nghiep_cua.pdf