Xây dựng mô hình mạng lưới phân tích đường bao dữ liệu để đo lường và phân tích hiệu quả hoạt động của ngành ngân hàng Việt Nam

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
XÂY DỰNG MÔ HÌNH MẠNG LƯỚI PHÂN TÍCH ĐƯỜNG BAO DỮ LIỆU  
ĐỂ ĐO LƯỜNG VÀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG  
CỦA NGÀNH NGÂN HÀNG VIỆT NAM  
MODELLING NETWORK DATA ENVELOPMENT ANALYSIS TO EVALUATE AND  
ANALYSIS THE EFFICIENCY OF VIETNAM BANKING INDUSTRY  
Ngày nhận bài: 15/12/2020  
Ngày chấp nhận đăng: 28/12/2020  
Phùng Mạnh Trung  
TÓM TẮT  
Việc đo lường hiệu quả hoạt động của ngành ngân hàng ở Việt Nam vẫn luôn là một chủ đều hết  
sức quan trọng, thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và quản lý. Nghiên cứu  
này phát triển một Mô hình Phân tích Đường Bao Dữ Liệu Mạng Lưới Hai Giai Đoạn để đánh giá  
hiệu quả của 29 NHTM hoạt động ở Việt Nam trong giai đoạn 2016 – 2018. Phân tích kết quả tính  
toán đã chỉ ra “sức mạnh phân biệt” của mô hình so với mô hình đánh giá truyền thống. Tác giả  
cũng đưa ra một số đề xuất mang tính tham khảo cho các nhà quản lý nhằm mục đích nâng cao  
hiệu quả hoạt động cho ngành ngân hàng Việt Nam.  
Từ khóa: phân tích đường bao dữ liệu; đo lường hiệu quả; mạng lưới hai giai đoạn; hoạt động  
ngân hàng.  
ABSTRACT  
Measuring the performance of Vietnam banking industry has been continuously considered as a  
crucial topic that attracted many concerns of researchers and policy-managers. This research  
develops a Two-stages Network DEA to evaluate the efficiency of 29 commercial banks in Vietnam  
from 2016 – 2018. The results reveal the “discriminating power” of the proposed model in  
comparison with traditional DEA models. Furthermore, the author also proposes some oriented  
suggestions to help policy-managers in order to enhance the efficiency of Vietnam banking  
industry.  
Keywords: data envelopment analysis; measuring efficiency; two-stages network; banking  
industry.  
của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt đề án  
1. Giới thiệu  
“Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn  
Tốc độ toàn cầu hóa và tự do hóa thương  
với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020” và  
mại nhanh chóng trong những năm vừa qua  
Quyết định số 1731/QĐ-NHNN ngày  
đã tạo ra nhiều thay đổi về môi trường kinh  
31/8/2018 của Thống đốc NHNN phê duyệt  
doanh tại Việt Nam. Hội nhập kinh tế quốc tế  
kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng  
tạo điều kiện cho quốc gia phát triển, tuy  
hướng đến sự phát triển bền vững.Kết quả  
nhiên điều này cũng khiến cạnh tranh trong  
của các chính sách trên là hàng loạt các  
các lĩnh vực kinh tế trở nên gay gắt hơn và tài  
thương vụ sáp nhập, hợp nhất, mua lại  
chính ngân hàng cũng không phải ngoại lệ.  
(M&A) trong hệ thống NHTM đã diễn ra từ  
Trong nỗ lực nhằm nâng cao năng lực cạnh  
năm 2011 đến nay. Mặc dù vậy, vấn đề hiệu  
tranh cho ngành ngân hàng Việt Nam, Ngân  
quả của các NHTM sau M&A như thế nào,  
hàng Nhà nước (NHNN) đã chủ trương tái cơ  
cấu bộ máy ngân hàng thương mại (NHTM),  
minh chứng là sự ra đời các chính sách như  
Phùng Mạnh Trung, Trường Đại học Hàng hải  
Quyết định 1058/QĐ-TTg ngày 19/07/2017  
Việt Nam  
46  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(04) - 2020  
liệu sau khi tái cơ cấu, hiệu quả hoạt động  
các yếu điểm tồn tại trong nội bộ hệ thống  
kinh doanh của các ngân hàng này có vững  
vàng hơn hay đơn giản chỉ là phép toán cộng  
của các ngân hàng yếu kém? Do vậy, việc  
đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM  
Việt Nam sau giai đoạn tái cấu trúc 2011-  
2015 là hết sức cần thiết nhằm tổng kết những  
thành tích đạt được cũng như những hạn chế  
của công cuộc tái cơ cấu hệ thống NHTM.  
(Ebrahimnejad và Ziari, 2019).  
Hình 1: Hoạt động của các NHTM  
Xuất phát từ những phân tích trên, yêu  
cầu đặt ra đòi hỏi sự cần thiết xây dựng một  
mô hình thực tế để đánh giá hiệu quả toàn  
diện cho ngành ngân hàng. Do đó, nghiên  
cứu này sẽ phát triển mô hình DEA cổ điển  
trở thành mô hình mạng lưới DEA (NDEA)  
với định hướng đánh giá hiệu quả cho các  
NHTM tại Việt Nam (Hình 1). Trong mô  
hình này, chu trình hoạt động của các ngân  
hàng được chia thành hai giai đoạn (stage),  
được là “tạo lập vốn” (capital organization)  
và “phân phối vốn” (capital allocation). Ở  
giai đoạn A, ngân hàng sẽ sử dụng các tài  
nguyên là lao động (labor) và vốn (capital)  
để tạo ra sản phẩm “tiền gửi” (deposits). Tiếp  
theo đó, tiền gửi sẽ là nhân tố chính để tạo ra  
các sản phẩm cuối cùng của hệ thống là cho  
vay (loans), đầu tư (investment), và dịch vụ  
(service fees). Ưu điểm lớn nhất của mô hình  
này không những có thể đánh giá và xếp  
hạng hiệu quả tổng thể, mà quan trọng hơn,  
hiệu quả và mức quan trọng của các giai  
đoạn trong chu trình hoạt động cũng được  
đem ra mổ xẻ, phân tích. Từ đó, giúp các nhà  
nghiên cứu, hoạch định chính sách có cái  
nhìn chi tiết hơn những kết quả cũng như hạn  
chế của ngành Ngân hàng Việt Nam sau giai  
đoạn M&A.  
Có hai phương pháp đánh giá và xếp hạng  
hiệu quả hoạt động phổ biến nhất hiện này:  
(1) Phân tích biên ngẫu nhiên SFA (đề xuất  
bởi Aigner et al., 1977) và (2) Phân tích  
đường bao dữ liệu DEA do Charnes et al.  
(1978) công bố. Giữa hai phương pháp trên,  
DEA được rất nhiều các chuyên gia và nhà  
nghiên cứu sử dụng bởi lẽ phương pháp này  
dựa trên việc ứng dụng bài toán tối ưu hóa  
trên cơ sở đặc điểm hóa mối quan hệ giữa các  
yếu tố đầu ra và đầu vào của chu trình sản  
xuất. Đặc điểm này dễ dàng được chấp nhận  
hơn việc bắt buộc giả định một mô hình kinh  
tế (ví dụ mô hình sản xuất Cobb-Douglas)  
như yêu cầu của phương pháp SFA. Tuy  
nhiên, mô hình DEA cổ điển không quan tâm  
đến diễn biến xảy ra trong quy trình sản xuất  
mà coi nó như một “hộp đen - black box”. Do  
không quan sát được những thực tế xảy ra  
bên trong “hộp đen” này, chúng ta sẽ bị hạn  
chế tầm nhìn trong việc xác định các yếu tố  
phi hiệu quả, dẫn đến những đánh giá sai lầm.  
Đặc biệt hơn khi ngân hàng là những tổ chức  
tài chính trung gian, việc tạo lập và phân phối  
nguồn tài chính, nếu không được đánh giá  
một cách thích đáng, sẽ làm méo mó kết quả  
nghiên cứu.  
2. Tổng quan nghiên cứu và phương pháp  
nghiên cứu  
Quan trọng hơn cả, điểm yếu lớn nhất của  
mô hình DEA cổ điển trong quá trình đánh  
giá hiệu quả của các đơn vị, đó là nó tạo ra  
quá nhiều “điểm hiệu quả tối đa” (unique  
efficiency score). Điều này gây khó khăn cho  
các nhà quản lý trong công tác xếp hạng hiệu  
quả giữa các ngân hàng cũng như phân tích  
2.1. Tổng quan nghiên cứu hiệu quả  
ngân hàng  
Nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của  
ngân hàng đã xuất hiện gần như đồng thời  
với sự ra đời của lý thuyết hiệu quả. Về cơ  
bản, dựa theo phương pháp nghiên cứu, có  
47  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
thể chia nghiên cứu hiệu quả hoạt động ngân  
Việc đánh giá hiệu quả theo phương pháp  
DEA bỏ qua các trung gian trong chu trình  
sản xuất sẽ rất dễ dẫn đến hiện tượng “đánh  
giá quá cao” (Kao và Huang, 2008) bởi lẽ  
tính phi hiệu quả của các giai đoạn sản xuất  
sẽ “bào mòn” hiệu quả hệ thống. Do đó,  
nhiều nhà nghiên cứu đã đề xuất việc sử  
dụng các mô hình mạng lưới DEA khác nhau  
để đánh giá hiệu quả cho các đơn vị kinh tế.  
Thực tế, trên thế giới đã có một số nghiên  
cứu ở các nước sử dụng mô hình mạng lưới  
DEA để đánh giá hiệu quả của ngành ngân  
hàng. Tùy thuộc vào từng góc độ xem xét,  
các mô hình hoạt động đánh giá cũng có thể  
không giống nhau. Chẳng hạn Seiford và Zhu  
(1999) tập trung vào hiệu quả “hình ảnh” của  
các ngân hàng trên thị trường chứng khoán  
chia hoạt động ngân hàng thành 2 giai đoạn  
là “tạo lợi nhuận” (profitability) và “tạo thị  
trường” (marketability) của 55 ngân hàng  
thương mại hàng đầu ở Mỹ. Zhou et al.  
(2018) lại sử dụng mô hình mạng lưới động  
DEA để chia hoạt động của các ngân hàng  
Trung Quốc thành ba giai đoạn “tổ chức  
vốn” (capital organization), “phân phối vốn”  
(capital allocation), và “tạo lợi nhuận”  
(profitability). Thú vị hơn, có những nghiên  
cứu (ví dụ Phung et al. 2020) lại đi vào mổ  
xẻ một cách chi tiết chu trình hoạt động kinh  
doanh của ngân hàng để đề xuất mô hình hỗn  
hợp dạng chuỗi và song song các giai đoạn  
để phù hợp nhất với một số ngân hàng cụ thể.  
hàng thành hai loại chính là Phân tích biên  
ngẫu nhiên (SFA) và Phân tích đường bao dữ  
liệu (DEA).  
Việc sử dụng phương pháp SFA, không  
những có thể tìm ra điểm hiệu quả của các  
ngân hàng, mà còn giúp nhà nghiên cứu  
khám phá những tác nhân tác động đến điểm  
hiệu quả này. Phung et al. (2018) đã so sánh  
và tìm ra sự ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến  
hiệu quả hoạt động của ngành ngân hàng  
Việt Nam và Trung Quốc. Mối quan hệ này  
sau đó được phân tích dưới góc nhìn chính trị  
để hiểu rõ về động cơ của các tác nhân phi  
hiệu quả. Phan và Daly (2014) tập trung tìm  
hiểu mối quan hệ giữa hiệu quả chi phí và  
các loại rủi ro trong ngành ngân hàng và phát  
hiện ra các ngân hàng Việt Nam đang đối  
diện với rủi ro cao trong điều kiện lạm phát  
gia tăng dẫn đến suy giảm hiệu quả chi phí.  
Các nghiên cứu sử dụng phương pháp SFA  
có đặc điểm chung là đơn giản hóa (giả định  
sẵn hàm sản xuất) chu trình hoạt động của  
ngân hàng.  
Phương pháp DEA, thay vào đó, tập trung  
vào việc xây dựng thuật toán tính toán điểm  
hiệu quả tương đối của các ngân hàng dựa  
trên việc mô hình hóa hoạt động trung gian  
tài chính. Hầu hết các nghiên cứu về hiệu quả  
hoạt động của ngành ngân hàng Việt Nam  
đều sử dụng phương pháp DEA truyền thống,  
theo đó, chỉ xét đến các biến đầu vào và đầu  
ra cuối cùng, bỏ qua diễn biến bên trong của  
chu trình sản xuất. Chẳng hạn, Nguyễn Phúc  
Quý Thạnh (2019) bằng việc sử dụng bài  
toán tối đa hiệu quả đã tính toán và kết luận  
hiệu quả bình quân 2007-2018 của các ngân  
hàng thương mại Việt nam đạt 86%. Tương  
tự Phan Thị Thu Hà và Nguyễn Hoàng  
Phong (2018) đã kết luận, hiệu quả chi phí  
của các ngân hàng thương mại Việt Nam đạt  
74% tính theo phương pháp DEA và 93%  
tính theo phương pháp SFA.  
Rõ ràng, việc nghiên cứu hiệu quả của các  
ngân hàng theo mạng lưới DEA thể hiện  
những ưu điểm vượt trội so với phương pháp  
DEA truyền thống. Tuy nhiên, ở Việt Nam,  
chưa có nghiên cứu nào sử dụng mô hình này  
để đánh giá hiệu quả cho ngàng ngân hàng.  
Xuất phát từ đó, nghiên cứu sẽ phát triển mô  
hình mạng lưới hai giai đoạn DEA (two-  
stage NDEA) để đánh giá hiệu quả cho các  
ngân hàng ở Việt Nam  
48  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(04) - 2020  
2.2.2. Xây dựng lời giải cho mô hình mạng  
lưới hai giai đoạn (two-stage network DEA)  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
2.2.1. Mô hình DEA cổ điển  
Xuất phát từ mô hình hoạt động tài chính  
trung gian của các ngân hàng thương mại, tác  
giả trước hết khái quát hóa mạng lưới sản  
xuất hai gian đoạn (two-stage network  
production) như Hình 2 bên dưới.  
DEA liên quan đến việc sử dụng các  
phương pháp lập trình tuyến tính để xây  
dựng một bề mặt không thông số (hoặc biên  
giới) trên dữ liệu. Các biện pháp hiệu quả sau  
đó được tính tương đối với bề mặt này.  
Charnes et al. (1978) đã đề xuất một mô hình  
có định hướng đầu vào và giả định các tổng  
thể không đổi theo tỷ lệ (CRS). Mô hình này  
đã được Banker et al. (1984) phát triển với  
giả thiết hiệu quả thay đổi theo quy mô  
(BCC). Theo mô hình này, hiệu quả của một  
đơn vị đưa ra quyết định (DMU) được xác  
định như sau:  
Hình 2: Mạng lưới hai giai đoạn  
Giả sử có một tập hợp gồm n DMU hoạt  
động theo mô hình trên được đánh giá hiệu  
quả, DMU = {DMUj ; j=1, 2,...,n}; mỗi  
DMU có I biến đầu vào (inputs), tập biến đầu  
vào là X x , x ,..., x ; các biến đầu vào  
j
1 j  
2 j  
Ij  
này sẽ cùng tham gia để sản xuất ra D biến  
trung gian (intermediates – vừa là đầu ra của  
Stage A vừa là đầu vào của Stage B), tập  
Trong đó R, I là số lượng các biến đầu ra  
biến trung gian là Z z , z ,..., z ; R là  
j
1 j  
2 j  
Dj  
và đầu vào;  
và  
Y y , y ,..., y  
Rj
  
j
1 j  
2 j  
số lượng sản phẩm đầu ra cuối cùng  
(outputs) của chu trình, tập biến đầu ra là  
là tập hợp các biến  
X x , x ,..., x  
Ij
  
j
1 j  
2 j  
đầu ra và đầu vào tương ứng của chu trình  
sản xuất; ur và vi là các hệ số nhân cần xác  
.
Y y , y ,..., y  
j
1 j  
2 j  
Rj  
Để xác định hiệu quả tổng thể của mô  
định để tối đa hóa hàm mục tiêu; là một  
hình này, đầu tiên, chúng ta cần xác định  
hiệu quả của từng giai đoạn (stage) dựa trên  
giả định không có mối liên hệ nào giữa hai  
giai đoạn. Hiệu quả của stage A tính theo mô  
hình BCC định hướng đầu vào được thể hiện  
thông qua bài toán tối đa hóa sau như sau.  
hằng số tự do để xác định sự biến đổi của  
hiệu quả theo quy mô.  
Bài toán này tương ứng với việc tìm giá  
trị cho u và v, tương ứng với đó, hiệu quả của  
đơn vị thứ i sẽ được tối đa hóa, với các ràng  
buộc là rất cả các đại lượng hiệu quả này sẽ  
nhỏ hơn hoặc bằng 1. Tuy nhiên bởi lẽ bài  
toán tối ưu này có vô hạn đáp án, chúng ta có  
thể biến đổi tương đương để chuyển về dạng  
bài toán tối đa hóa tuyến tính sau:  
D
d zd 0 A  
d 1  
0A* Max  
(3)  
I
vi xi0  
i1  
D
I
s.t.  
z A   
vi xij j  
d 1  
i1  
d
d 0  
d ,vi ; A free  
Tương tự như vậy, hiệu quả của stage B  
sẽ được tính toán như sau:  
49  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
R
Để đưa bài toán này về dạng tuyến tính,  
ur yr0 B  
r1  
0B* Max  
s.t.  
(4)  
áp dụng phương pháp biến đổi của Charnes  
và Cooper (1962), chúng ta có thể  
chuyển về dạng sau:  
D
d zd 0  
d 1  
R
D
ur yrj B  
d zd 0 j  
r1  
d 1  
D
R
0AB* Max  
d zd 0  
ur yr0 A B  
d ,ur ;  
B free  
Trong đó ngoại trừ biến đầu vào Xj và  
biến đầu ra Yj như đã đề cập ở mô Hình 1, tác  
giả giả định thêm có D biến trung gian  
d 1  
r1  
(8)  
D
I
s.t.  
d zd 0  
vi xi0 1  
d 1  
i1  
D
I
d zdj A  
vi xij  
j  
để kết nối giữa hai  
Z z , z ,..., y  
Dj  
d 1  
i1  
j
1 j  
2 j  
R
D
ur yrj B  
d zdj j  
d 1  
giai đoạn. Dựa theo mô hình “gia tăng” của  
Chen et al. (2010), mối quan hệ giữa hiệu  
quả của hai giai đoạn trên với hiệu quả tổng  
thể của hệ thống được thể hiện dưới dạng  
trung bình trọng số của hiệu quả stage A và  
r1  
vi ,ur ,d  
; ,  
A B free  
Sau khi tìm lời giải cho bài toán tối ưu  
(8), chúng ta có thể thay các giá trị trọng số  
tối ưu vào (3), (4), (5) và (6) để tìm ra hiệu  
quả và “mức đóng góp quan trọng” cho các  
stage A và B.  
hiệu  
quả  
stage  
B.  
Cụ  
thể  
0AB wA0A wB0B trong đó wA và wB là  
các trọng số thể hiện “mức độ quan trọng  
tương đối” của các giai đoạn và  
3. Thực nghiệm mô hình – Hiệu quả của  
ngành ngân hàng Việt Nam  
. Hai trọng số này được xác định  
wA wB 1  
3.1. Lựa chọn biến nghiên cứu  
bằng tỷ lệ giữa tài nguyên sử dụng cho giai  
đoạn tương ứng với tổng các yếu tố đầu vào  
của cả hai giai đoạn. Cụ thể:  
Nghiên cứu về hoạt động của ngân hàng  
chứng kiến hai cách tiếp cận cổ điển chính.  
“Cách tiếp cận sản xuất” (production  
approach) do Benston (1965) đề xuất cho  
rằng ngân hàng sử dụng hai nguồn lực chính  
là lao động và vốn (không bao gồm tiền gửi)  
để sản xuất ra các sản phẩm là các loại tiền  
gửi, tiền cho vay và dịch vụ. Trong khi đó  
“cách tiếp cận trung gian” (intermediate  
approach) do Sealey và Lindley (1977) lại  
giải thích rằng mục đích chính của các ngân  
hàng thương mại là tạo ra các khoản cho vay  
và dịch vụ dựa trên việc sử dụng vốn (bao  
gồm cả tiền gửi) và lao động. Việc lựa chọn  
cách tiếp cận nào trong hai cách tiếp cận trên  
vẫn là một tranh cãi chưa thể kết thúc trong  
nghiên cứu về hoạt động của ngân hàng.  
Boďa và Piklová (2018) đã chỉ ra rằng việc  
lựa chọn cách thức tiếp cận, thực sự có ảnh  
hưởng đến kết quả nghiên cứu hiệu quả ngân  
hàng, và cùng với rất nhiều nghiên cứu khác  
(chẳng hạn (Ví dụ Huang et al., 2017; Phung  
I
vi xi0  
i1  
wA   
wB   
(5)  
(6)  
I
D
v x   
d zd 0  
i1  
d 1  
i
i0  
D
d zd 0  
d 1  
I
D
v x   
d zd 0  
d 1  
i1  
i
i0  
Từ đó, hiệu quả của hệ thống được xác  
định theo bài toán như sau:  
D
R
z   
ur yr0 A B  
d 1  
r1  
d
d 0  
0AB* Max  
D
I
z   
d 1  
vi xi0  
i1  
d
d 0  
(7)  
D
I
s.t.  
z A   
vi xij  
j  
d 1  
i1  
d
dj  
R
D
u y B   
d zdj j  
r1  
d 1  
r
rj  
vi ,ur ,d ; A,B free  
50  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(04) - 2020  
et al., 2020), đã chỉ ra cách thức an toàn nhất  
Thống kê mô tả ở Bảng 1 cho thấy các  
ngân hàng Việt Nam có sự chênh lệch khá  
lớn về quy mô kinh doanh. Ví dụ, chênh lệch  
giữa số vốn của ngân hàng lớn nhất (BIDV)  
so với ngân hàng nhỏ nhất (NCB) lên tới 21  
lần, trong khi đó, ngân hàng có tổng khoản  
thu phí dịch vụ lớn nhất gấp đến hơn 600 lần  
so với thu nhập tương ứng của ngân hàng  
nhỏ nhất. Không những vậy, giá trị độ lệch  
tiêu chuẩn của tất cả các biến cũng khẳng  
định sự phân bố không đồng đều của các yếu  
tố sản xuất trong ngành ngân hàng Việt Nam.  
để trung hòa hai luồng quan điểm trên là tách  
chu trình hoạt động của ngân hàng thành hai  
giai đoạn và coi tiền gửi như một sản phẩm  
trung gian giữa hai giai đoạn đó.  
Xuất phát từ phân tích trên, trong phần  
thực nghiệm này, tác giả sử dụng biến đầu  
vào là lao động (labor) và vốn (capital), sản  
phẩm đầu ra cuối cùng của chu trình sản xuất  
là các khoản cho vay (loans), các khoản đầu  
tư (investments) và phí dịch vụ (service  
fees). Do tính chất lưỡng tính của tiền gửi  
(deposits) như đã giải thích bên trên, tác giả  
sẽ sử dụng biến này như sản phẩm trung  
gian, cụ thể, nó vừa là sản phẩm đầu ra của  
giai đoạn A, vừa là “nguyên liệu” đầu vào  
cho giai đoạn B.  
3.2. Hiệu quả hoạt động của các ngân hàng  
Kết quả tính toán hiệu quả hoạt động của  
các NHTM ở Việt Nam được thể hiện thông  
qua Bảng 2. Trong bảng này, hiệu quả của hệ  
thống sẽ được xác định trước. Tiếp theo, hiệu  
quả và trọng số (mức đóng góp quan trọng  
tương đối) của giai đoạn A và giai đoạn B  
cũng được xác định lần lượt. Tất cả các điểm  
hiệu quả đều được xếp hạng theo thứ tự từ  
lớn đến bé.  
Số liệu về các biến sử dụng được tác giả  
trích xuất từ nguồn tổng hợp của Công ty cổ  
phần Dữ liệu Kinh tế Việt Nam bao gồm 30  
ngân hàng công khai dữ liệu báo cáo tài  
chính trên các Sở giao dịch. Trong số 30  
ngân hàng trên, do số liệu của Ngân hàng  
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt  
nam không đầy đủ qua các năm nghiên cứu  
nên tác giả đã loại ra khỏi mẫu. Dựa vào các  
nghiên cứu trước đây (Sealey và Lindley,  
1977; Benston, 1965), tác giả định nghĩa  
“vốn” là vốn chủ sở hữu và các khoản nghĩa  
vụ (sau khi đã trừ đi tiền gửi). Các khoản  
“cho vay” là dư nợ cho vay khách hàng tại  
thời điểm cuối năm được lấy trên Bảng cân  
đối kế toán. Biến “phí dịch vụ” được xác  
định là chênh lệch giữa thu nhập và chi phí  
tất cả các hoạt động dịch vụ lấy từ báo cáo  
Kết quả hoạt động kinh doanh.  
Bảng 2. Hiệu quả hoạt động của các NHTM  
Việt Nam qua các năm  
Mean Min Max Std.  
Stage A  
Stage B  
0.62  
0.85  
0.10 1.00  
0.43 1.00  
0.27  
0.19  
2016  
2017  
2018  
System  
Stage A  
Stage B  
System  
Stage A  
0.69  
0.49  
0.92  
0.53  
0.61  
0.14 1.00  
0.04 0.99  
0.48 1.00  
0.07 0.99  
0.06 1.00  
0.21  
0.31  
0.14  
0.29  
0.26  
Stage B  
System  
0.82  
0.68  
0.82 1.00  
0.36 1.00  
0.22  
0.20  
Bảng 1. Thống kê mô tả các biến lựa chọn  
Có thể nhận, hiệu quả bình quân của  
ngành ngân hàng Việt Nam không được đánh  
giá cao. Cụ thể, trong năm giá trị trung bình  
của hiệu quả hệ thống chỉ đạt 0.68 điểm  
trong khi đó, hiệu quả của giai đoạn A và  
giai đoạn B đạt tương ứng 0.61 và 0.82 điểm.  
Đáng chú ý, có hai ngân hàng duy nhất nằm  
trên đường hiệu quả sản xuất là BID và BVB,  
51  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
đặc biệt, cả hai ngân hàng này đều đạt hiệu  
luôn luôn nằm dưới hai mô hình black-box  
truyền thống. Điều này có thể giải thích  
thông qua “hiệu ứng ma sát” (Phung et al.  
2020), theo đó, nếu càng chia nhỏ hệ thống  
sản xuất thành nhiều giai đoạn, hiệu quả tổng  
thể tính toán sẽ càng giảm sút do sự phân  
tách kỹ lưỡng ở hiệu quả các giai đoạn. Hơn  
nữa, sự biến thiên của hiệu quả trong mô  
hình mà cho dù tiền gửi được xem như đầu  
vào hay đầu ra là không rõ rệt. Trong khi đó,  
đánh giá hiệu quả các ngân hàng sử dụng mô  
hình tác giả đề xuất thể hiện sự thay đổi rất  
đáng kể trong giai đoạn 2016-2018.  
quả tối đa ở cả hai giai đoạn. Đứng cuối bảng  
xếp hạng là ngân hàng VPB khi chỉ đạt 0.36  
điểm hiệu quả và cá biệt hiệu quả của giai  
đoạn B chỉ đạt 0.19 điểm.  
Xem xét hiệu quả và trọng số (mức độ  
quan trọng tương đối) của các giai đoạn, kết  
quả nghiên cứu cũng chỉ ra một số điểm đáng  
chú ý. Thứ nhất, đối với các ngân hàng Việt  
Nam, giai đoạn A (tạo lập vốn) được đánh  
giá có trọng số cao hơn rất nhiều so với giai  
đoạn B (phân phối vốn) với tỷ lệ trung bình  
cụ thể là 72:28. Tuy nhiên, điều thứ hai, cũng  
là một nghịch lý đáng chú ý, hiệu quả của  
giai đoạn A lại thấp hơn giai đoạn B đến 21  
điểm % (61% so với 82%). Thứ ba, các ngân  
hàng chỉ đạt được đánh giá là có hiệu quả  
tuyệt đối khi và chỉ khi ngân hàng đó đạt  
hiệu quả tuyệt đối ở cả hai giai đoạn.  
Thêm vào đó, việc sử dụng mô hình  
black-box truyền thống còn một nhược điểm  
rất lớn, đó là điểm hiệu quả đánh giá của rất  
nhiều DMU sẽ đạt mức tối đa. Cụ thể theo  
kết quả ở Bảng 3, khi sử dụng mô hình cổ  
điển coi tiền gửi là đầu vào, số lượng ngân  
hàng đạt hiệu quả tối đa qua các năm lần lượt  
là 6,7,7. Trong khi đó, nếu coi tiền gửi là đầu  
vào số lượng này vẫn khá lớn, lần lượt là  
5,4,6. Điều này thực sự gây ra khó khăn  
trong việc xếp hạng hiệu quả của các ngân  
hàng bởi lẽ không có bất cứ cơ sở nào để xếp  
hạng các ngân hàng có cùng điểm hiệu quả  
này. Trong khi đó, như đã chỉ ra ở trên, sử  
dụng mô hình mạng lưới DEA, chỉ có tối đa  
hai ngân hàng đạt 100% hiệu quả hệ thống.  
Điều này góp phần củng cố “sức mạnh phân  
biệt” (discrimination power) của mô hình mà  
tác giả đề xuất.  
3.3. Phân tích kết quả và các đề xuất  
Để làm nổi bật tác dụng của việc đánh giá  
mô hình mạng lưới DEA hai giai đoạn (two-  
stage NDEA). Tác giả đã tính toán hiệu quả  
của các ngân hàng ở Việt Nam bằng hai mô  
hình black-box truyền thống với giả định tiền  
gửi là biến đầu vào (deposits as input) và tiền  
gửi là biến đầu ra (deposit as output). Kết  
quả về sự thay đổi hiệu quả bình quân qua  
các năm 2016-2018 được thể hiện thông qua  
Hình 3.  
Bảng 3. So sánh số lượng ngân hàng đạt  
điểm hiệu quả tối đa theo các mô hình  
2016  
2017  
2018  
Two-stages NDEA  
Deposits as input  
Deposits as output  
2
6
5
0
7
4
2
7
6
Kết quả đánh giá phân tích còn chỉ ra  
nguyên nhân chính dẫn đến hiệu quả yếu  
kém trong ngành ngân hàng Việt Nam chủ  
yếu xuất phát từ việc khai thác kém các  
Hình 3: Hiệu quả theo các mô hình  
Có thể thấy rất rõ ràng, hiệu quả của ngân  
hàng tính toán theo mô hình mạng lưới DEA  
52  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(04) - 2020  
nguồn lực tài chính. Thực tế, ngành ngân  
4. Kết luận  
Nghiên cứu này, dựa trên thực tiễn về  
hàng Việt Nam đã làm khá tốt công tác sử  
dụng vốn, thể hiện ở hiệu quả giai đoạn B  
khá cao (bình quân 3 năm 87%). Tuy nhiên,  
với thực trạng khó khăn chung của các nền  
kinh tế đang phát triển là thiếu thốn nguồn  
lực tài chính dẫn đến hệ quả giai đoạn tạo lập  
nguồn vốn chính của ngân hàng – tiền gửi,  
đươc xem là giai đoạn quan trọng hàng đầu,  
lại có mức hiệu quả khá thấp (bình quân chỉ  
đạt 57%). Từ đó, tác giả đề xuất các nhà  
quản lý ngân hàng cần xem xét, giải quyết  
bài toán huy động vồn một cách hiệu quả  
bằng cách mở rộng hơn nữa các kênh huy  
động vốn, nâng cao chất lượng dịch vụ, đảm  
bảo niềm tin cho người gửi tiền. Hơn nữa,  
trọng số và hiệu quả của giai đoạn B cũng ám  
chỉ một thực tế, đó là, các ngân hàng Việt  
Nam có thể vẫn khá dễ dàng trong công tác  
sử dụng nguồn vốn, đặc biệt trong công tác  
tín dụng, cho vay và đầu tư. Trong phạm vi  
của nghiên cứu này, tác giả chưa nghiên cứu  
sâu về ảnh hưởng của các biến đầu ra không  
kỳ vọng (ví dụ các khoản nợ xấu), nếu xét  
các biến này trong mô hình, kết quả đánh giá  
hiệu quả của ngành ngân hàng Việt Nam có  
thể sẽ rất khác biệt.  
hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt  
Nam, đã phát triển một mô hình DEA mạng  
lưới hai giai đoạn để đánh giá hiệu quả hoạt  
động của các ngân hàng này. Phân tích kết  
quả tính toán đã chỉ ra “sức mạnh phân biệt”  
của mô hình tác giả xây dựng so với mô hình  
DEA truyền thống. Điều này giúp các nhà  
quản lý có thể dễ dàng đánh giá, phân loại và  
xếp hạng hiệu quả của các tổ chức trung gian  
tài chính này. Không những vậy, mô hình  
còn chỉ ra sự “đóng góp” của các giai đoạn  
trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng  
vào hiệu quả tổng thể. Từ đó đưa ra một số  
gợi ý chính sách cho các nhà quản lý về việc  
phân phối nguồn lực cho một cách hợp lý  
cho từng giai đoạn.  
Trên thực tế, mô hình hoạt động của các  
ngân hàng có thể còn phức tạp hơn mô hình  
mà tác giả đã đề xuất và luôn thay đổi để phù  
hợp với sự vận động của nền kinh tế. Do đó,  
việc đi sâu khám phá, xây dựng các mô hình  
đánh giá hiệu quả phù hợp với sự tác động  
của các yếu tốt khách/chủ quan cũng sẽ là  
một hướng đi tốt cho các nghiên cứu sau này.  
Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được tài trợ bởi Trường Đại học Hàng hải Việt Nam trong đề  
tài mã số: DT20-21.86  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Aigner, D., Lovell, C., & Schmidt, P. (1977). Formulation and Estimation of Stochastic  
Frontier Production Functions. Journal of Econometrics, 6, 21-37. doi:10.1016/0304-  
4076(77)90052-5  
Banker, R., Charnes, A., & Copper, W. (1984). Some models for estimating technical and scale  
inefficiencies in data envelopment analysis. Management Science, 30(9), 1031-1142.  
doi:10.1287/mnsc.30.9.1078  
Benston, G. J. (1965). Branch Banking and Economies of Scale. The Journal of Finance, 20(2),  
312-331. doi:10.1111/j.1540-6261.1965.tb00212.x  
53  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Boďa, M., & Piklová, Z. (2018). The Production or Intermediation Approach?: It Matters. In:  
Jajuga K., Locarek-Junge H., Orlowski L. (eds) Contemporary Trends and Challenges in  
Finance. Springer Proceedings in Business and Economics. Springer, Cham.  
doi:10.1007/978-3-319-76228-9_11  
Charnes, A., & Cooper, W. (1962). Programming with linear fractional functionals. Naval  
Research Logistics Quarterly, 9(3-4), 181-186. doi:10.1016/0304-4076(90)90048-X  
Chen, Y., Cook, W. D., Li, N., & Zhu, J. (2009). Additive efficiency decomposition in two-  
stage DE. European Journal of Operational Research, 196(3), 1170-1176.  
doi:10.1016/j.ejor.2008.05.011  
Ebrahimnejad, A., & Ziari, S. (2019). New model for improving discrimination power in DEA  
based on dispersion of weights. International Journal of Mathematics in Operational  
Research, 14(3), 433-450.  
Huang, T.-H., Lin, C.-I., & Chen, K.-C. (2017). Evaluating efficiencies of Chinese commercial  
banks in the context of stochastic multistage technologies. Pacific-Basin Finance Journal,  
41, 93-110. doi:10.1016/j.pacfin.2016.12.008  
Kao, C., & Huang, S.-N. (2008). Efficiency decomposition in two-stage data envelopment  
analysis: An application to non-life insurance companies in Taiwan. European Journal of  
Operational Research, 185(1), 418-429. doi:10.1016/j.ejor.2006.11.041  
Nguyễn, P. (2019). Phân tích hiệu quả hoạt động tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Tạp  
chí Công thương, online.  
Phan, T. T., & Daly, K. (2014). Cost Efficiency and the Relation with Risks in Vietnamese  
Banking Industry. Australian Journal of Basic & Applied Sciences, 8(12), 30-38.  
Phan, T., & Nguyễn, H. (2018). Hiệu quả chi phí biên của các ngân hàng thương mại Việt  
Nam. Tạp chí Ngân hàng, 22.  
Phung, M.-T., Cheng, C.-P., Guo, C., & Kao, C.-Y. (2020). Mixed Network DEA with Shared  
Resources: A Case of Measuring Performance for Banking Industry. Operations Research  
Perspectives, 7, 100173. doi:10.1016/j.orp.2020.100173  
Phung, M.-T., Cheng, P.-C., & Kao, C.-Y. (2018). Ownership Structure and Efficiency of  
Banking Industry in China and Vietnam - A Political View. International Journal of  
Financial Research, 9(3), 61-74. doi:10.5430/ijfr.v9n3p61  
Sealey, C. W., & Lindley, J. T. (1977, 9). Inputs, Outputs, and a Theory of Production and Cost  
at Depository Financial Institutions. The Journal of Finance, 32(4), 1251-1266.  
doi:10.2307/2326527  
Seiford, L. M., & Zhu, J. (1999). Profitability and marketability of the top 55 U.S. commercial  
banks. Management Science, 45(9), 1270-1288. doi:10.1287/mnsc.45.9.1270  
54  
pdf 9 trang yennguyen 11020 Free
Bạn đang xem tài liệu "Xây dựng mô hình mạng lưới phân tích đường bao dữ liệu để đo lường và phân tích hiệu quả hoạt động của ngành ngân hàng Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfxay_dung_mo_hinh_mang_luoi_phan_tich_duong_bao_du_lieu_de_do.pdf