Tác động của đặc điểm ban giám đốc và đặc điểm doanh nghiệp đến công bố trách nhiệm xã hội tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
TÁC ĐỘNG CỦA ĐẶC ĐIỂM BAN GIÁM ĐỐC VÀ ĐẶC ĐIỂM DOANH  
NGHIỆP ĐẾN CÔNG BỐ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI TẠI CÁC NGÂN HÀNG  
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM  
Nguyễn Vĩnh Khương1, Trần Tử Hồ2, Đinh Thị Ngọc Hà3, Nguyễn Thị Phương  
Ngọc4, Nguyễn Phan Bảo Thi5, Cao Thị Tú Uyên6  
1 2 3 4 5 6Trường Đại học Kinh tế - Luật ĐHQG TP.HCM  
Ngày nhận bài: 13/04/2019, Ngày duyệt đăng: 07/09/2019  
Tóm tắt  
Nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm hiểu liệu mức độ tác động của đặc điểm ban  
giám đốc và đặc điểm doanh nghiệp đối với việc công bố trách nhiệm xã hội tại các ngân  
hàng thương mại Việt Nam. Dựa vào dữ liệu của 30 ngân hàng thương mại Việt Nam  
chưa niêm yết hoặc đã niêm yết trên các sàn HOSE, HNX, OTC trong giai đoạn 2008 –  
2017, bằng phương pháp nghiên cứu định lượng sử dụng phân tích hồi quy GMM, chúng  
tôi đã xác định được các nhân tố thuộc ban giám đốc và đặc điểm doanh nghiệp có ảnh  
hưởng đến công bố trách nhiệm xã hội tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Kết quả  
nghiên cứu góp phần đưa ra cái nhìn tổng quan hơn cho các doanh nghiệp, đồng thời giúp  
Nhà nước có định hướng phù hợp trong việc đưa ra các chính sách khuyến khích công bố  
trách nhiệm xã hội.  
Từ khóa: đặc điểm ban giám đốc, đặc điểm doanh nghiệp, ngân hàng thương mại.  
Influence of board of management and firm characteristics to corporate social  
responsibility disclosure in Vietnamese commercial banks  
Abstract  
The study investigated how much influence of board of management and firm  
characteristics to corporate social responsibility disclosure in Vietnam commercial banks.  
Based on the data from 30 unlisted and listed banks on the Vietnam stock exchange in the  
period 2008-2017. Quantitative research method was used to demonstrate the relationship  
between corporate social responsibility and board of management as well as firm  
characteristics. General view has been figured out; therefore, Government could orient  
felicitous regulations to encourage social responsibility disclosure.  
Keywords: board of management, firm characteristics, commercial banks.  
34  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
1. Giới thiệu  
Trong khi các nghiên cứu trước đây  
cung cấp một số bằng chứng về mối liên  
quan giữa hiệu quả tài chính doanh  
nghiệp và công bố trách nhiệm xã hội (Li  
và cộng sự, 2013; Hồ Thị Vân Anh,  
2013) và đặc điểm hội đồng quản trị và  
công bố trách nhiệm xã hội (Janggu và  
cộng sự, 2014). Đa số các nghiên cứu  
trên đều nghiên cứu việc công bố trách  
nhiệm xã hội ở các công ty phi tài chính  
và rất ít nghiên cứu thực nghiệm đã xem  
xét mối liên quan giữa đặc điểm ban  
giám đốc, đặc điểm doanh nghiệp và  
công bố trách nhiệm xã hội, cũng như rất  
ít nghiên cứu về trách nhiệm xã hội ở  
ngân hàng thương mại. Cuối cùng,  
nghiên cứu này cung cấp một số hiểu biết  
có giá trị về trách nhiệm xã hội trong bối  
cảnh toàn cầu hóa, các doanh nghiệp Việt  
Nam dần áp dụng những chuẩn mực đạo  
đức kinh doanh toàn cầu, nên bài nghiên  
cứu hữu ích cho các nhà hoạch định  
chính sách, nhà đầu tư và nhà quản lý.  
Hơn nữa, kiến thức về mối liên hệ giữa  
công bố trách nhiệm xã hội và đặc điểm  
ban giám đốc, đặc điểm doanh nghiệp sẽ  
có giá trị liên quan đến các nhà đầu tư  
trong việc đánh giá khả năng quản lý  
hiệu quả để phát triển bền vững của  
doanh nghiệp.  
Thuật ngữ “Trách nhiệm xã hội” đã  
xuất hiện trong lý thuyết quản trị và kế  
toán trong khoảng 45 năm (Wood, 2010).  
Trách nhiệm xã hội nghĩa là, các tổ chức  
hay doanh nghiệp được coi là một thực  
thể của xã hội, đã sử dụng một số nguồn  
lực của xã hội như lao động, tài nguyên  
thiên nhiên. Vì vậy, các tổ chức hay  
doanh nghiệp có nghĩa vụ bù đắp và  
đóng góp cho cộng đồng và đặc biệt  
là các bên liên quan tới lợi ích của  
doanh nghiệp.  
Trong những năm gần đây, không chỉ  
các tổ chức kinh tế mà cả xã hội ngày càng  
tăng mối quan tâm của họ đối với trách  
nhiệm xã hội (Adams và Frost, 2006;  
Gulyas, 2009). Bên cạnh việc tập trung  
chiến lược cho hoạt động kinh doanh và  
lợi nhuận, gần đây, nhu cầu mở rộng các  
hoạt động của tổ chức xã hội đã trở nên  
cấp thiết và đóng vai trò quan trọng trong  
tư duy chiến lược. Các học giả cho rằng  
những hoạt động như vậy chính là các hoạt  
động trách nhiệm xã hội (Margolis và  
Walsh, 2001).  
Nghiên cứu này đóng góp nhằm lấp  
khoảng trống nghiên cứu về trách nhiệm  
xã hội tại Việt Nam. Thứ nhất, kết quả  
phân tích hồi quy của nghiên cứu cho thấy  
mối liên hệ giữa đặc điểm Ban giám đốc,  
đặc điểm doanh nghiệp và công bố trách  
nhiệm xã hội. Đặc biệt, chưa có nhiều  
nghiên cứu đề cập đến các tác động từ đặc  
điểm ban giám đốc đến công bố trách  
nhiệm xã hội tại Việt Nam. Thứ hai,  
nghiên cứu này gia tăng bằng chứng cho  
tổng quan các nghiên cứu trước đây bằng  
cách kiểm tra mối liên hệ giữa đặc điểm  
ban giám đốc, đặc điểm doanh nghiệp và  
công bố trách nhiệm xã hội.  
Nghiên cứu này thực hiện nhằm đánh  
giá tác động của đặc điểm Ban giám đốc  
và đặc điểm doanh nghiệp đến công bố  
trách nhiệm xã hội tại các ngân hàng  
thương mại niêm yết và chưa niêm yết trên  
thị trường chứng khoán tại Việt Nam dựa  
trên phương pháp nghiên cứu định lượng  
phù hợp với dữ liệu bảng và dữ liệu của 30  
ngân hàng thương mại niêm yết, công  
bố báo cáo tài chính trong giai đoạn  
2008 – 2017.  
35  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
2. Giả thuyết nghiên cứu và mô hình  
nghiên cứu  
xã hội hơn nhằm thu hút đầu tư, tăng lợi  
ích. Mô hình hoạt động của CEO sẽ ngày  
càng trở nên lỗi thời khi tuổi, cũng như  
nhiệm kỳ của họ tăng lên và quá trình này  
làm giảm hiệu suất trong tương lai, quy mô  
hoạt động của các ngân hàng và mức độ  
công bố trách nhiệm xã hội. Từ những lập  
luận trên, tác giả đưa ra giả thuyết:  
2.1. Giả thuyết nghiên cứu  
Dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên  
cứu trước đây, giả thuyết nghiên cứu được  
xây dựng như sau:  
Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy  
rằng số lượng thành viên Ban giám đốc  
được xác định bởi nhiều yếu tố như ngành  
nghề, quy mô công ty và mức độ phức tạp  
trong hoạt động kinh doanh của doanh  
nghiệp (Pathan, 2009). Ban giám đốc là  
những người trực tiếp điều hành doanh  
nghiệp, nên khi quy mô doanh nghiệp  
được mở rộng số lượng giám đốc có thể  
tăng lên vì nảy sinh nhiều nhiệm vụ và  
trách nhiệm, cần phát triển số lượng nguồn  
nhân lực quản lý phù hợp để có thể điều  
hành doanh nghiệp một cách hiệu quả. Bên  
cạnh đó, các nghiên cứu cho thấy quy mô  
doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến  
mức độ và chất lượng công bố trách nhiệm  
xã hội (Branco và Rodrigues, 2008).  
Do đó, tác giả kỳ vọng rằng Ban giám  
đốc lớn hơn sẽ có khả năng quản lý trực  
tiếp tốt hơn để tham gia vào các hoạt động  
CSR và truyền đạt hiệu quả xã hội của họ  
tới các bên liên quan của ngân hàng. Điều  
này dẫn đến giả thuyết đầu tiên:  
H1: Quy mô ban giám đốc tác động  
cùng chiều đến công bố trách nhiệm xã hội.  
CEO lớn tuổi hơn sẽ kém thích ứng  
hơn với các quyết định ủng hộ thực hiện  
trách nhiệm xã hội vì rút ngắn thời gian  
(Oh và cộng sự, 2014). Tác giả lập luận  
rằng các CEO trẻ tuổi sẽ áp dụng các chính  
sách an toàn để đảm bảo lợi ích của họ  
trong các ngân hàng. Điều này ảnh hưởng  
tới hiệu suất hoạt động, lợi nhuận và danh  
tiếng công ty gây dựng. Vì vậy, CEO trẻ  
tích cực công bố các thông tin trách nhiệm  
H2: Tuổi của CEO có ảnh hưởng ngược  
chiều đến công bố trách nhiệm xã hội.  
Phụ nữ và nam giới có nhận thức khác  
nhau và do đó, họ có niềm tin, chuẩn mực  
và hành vi khác nhau (Pelled và cộng sự,  
1999). Đối với phương diện trách nhiệm  
xã hội, do có sự khác nhau nói trên, các  
bên liên quan thường xem sự đa dạng giới  
là một dấu hiệu của một tổ chức quan tâm  
và hướng tới xã hội với khát vọng cao hơn.  
Việc bổ nhiệm các nữ giám đốc trong ban  
điều hành không chỉ biểu thị tầm quan  
trọng về mặt đạo đức của ban điều hành đa  
dạng mà còn đóng vai trò như một tín hiệu  
cho các bên liên quan thấy các công ty có  
trách nhiệm với xã hội (Bear và cộng sự,  
2010). Điều này cho phép các công ty thực  
hiện các sáng kiến thực hiện trách nhiệm  
xã hội và tăng cường hành vi có trách  
nhiệm xã hội (Webb và cộng sự, 2008). Do  
đó, nếu CEO là nữ giới, họ sẽ có khả năng  
thúc đẩy công bố trách nhiệm xã hội nhiều  
hơn. Từ đó, tác giả đưa ra giả thuyết  
nghiên cứu:  
H3: Giới tính của CEO liên quan  
ngược chiều với công bố trách nhiệm xã  
hội, trong đó, CEO nam được mã hóa là 1,  
CEO nữ được mã hóa là 0.  
Lý thuyết tín hiệu cho thấy các đặc  
điểm của công ty như quy mô và lợi nhuận  
có thể liên quan đến mức độ tự nguyện  
công bố (Watson và cộng sự, 2002; Kaur  
và Lodhia, 2014; Ho và Taylor, 2013). Từ  
36  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
quan điểm của lý thuyết tín hiệu, người ta  
đồng ý rằng công ty càng lớn, sự bất cân  
xứng thông tin với các nhà cung cấp quỹ  
hiện tại và tương lai càng lớn (Prencipe,  
2004). Do đó, các công ty lớn có thể tiết lộ  
thêm thông tin trách nhiệm xã hội để báo  
hiệu thông tin chất lượng cao cho các nhà  
đầu tư của họ. Nghiên cứu điều tra các chỉ  
số tài chính nêu bật mối quan hệ tích cực  
giữa quy mô doanh nghiệp và công bố  
thông tin tự nguyện (Watson và cộng sự,  
2002). Bên cạnh đó, các doanh nghiệp lớn  
có ảnh hưởng đến cộng đồng lớn hơn các  
doanh nghiệp nhỏ (Barnea và Rubin,  
2010). Vì thế, các doanh nghiệp lớn hơn  
cũng chịu sự giám sát chặt chẽ hơn của các  
nhóm khác nhau trong xã hội và do đó sẽ  
chịu áp lực lớn hơn trong việc tiết lộ các  
hoạt động liên quan đến trách nhiệm xã hội  
liên quan đến hoạt động kinh doanh  
(Cowen và cộng sự, 1987).  
Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam,  
sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương  
mại ngày càng gay gắt do số lượng các  
ngân hàng tăng lên một cách đáng kể từ  
năm 2006. Hơn nữa, số lượng và quy mô  
các công ty tài chính tăng lên đáng kể  
trong thời gian gần đây cũng làm cho môi  
trường cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn  
(Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai,  
2015).  
Sự cạnh tranh này đã dẫn đến việc  
ngân hàng phải tăng cường đầu tư vào các  
hoạt động mang lại lợi nhuận, cụ thể là đa  
dạng hóa các hoạt động sinh lời. Điều này  
đã đem lại mức độ tăng trưởng cao về tài  
sản cũng như lợi nhuận cho các ngân hàng,  
dẫn đến tỷ số sinh lời trên tổng tài sản  
cũng tăng. Việc mở rộng mạng lưới “vật  
lý” sẽ tốn kém khá nhiều chi phí, trong đó  
có yếu tố hạ tầng cơ sở, nhân lực, tuy  
nhiên, đây lại là cách phổ biến để các ngân  
hàng thu hút nguồn vốn, cho vay,… nhằm  
hướng tới mục tiêu chủ yếu là tiếp cận  
nhiều hơn đến khách hàng, các thị trường  
mới và tiềm năng. Do đó, các ngân hàng  
thương mại Việt Nam không đủ nguồn lực  
và động lực để thực hiện các hoạt động  
trách nhiệm xã hội.  
H4: Quy mô doanh nghiệp có tác động  
tích cực đến công bố trách nhiệm xã hội  
với quy mô doanh nghiệp là số logarit của  
tổng tài sản.  
Lợi nhuận ròng trên tổng tài sản  
(Return on assets - ROA) được tính bằng  
tỷ số lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản.  
Trong nhiều bài nghiên cứu nước  
ngoài trước đây, các số liệu cho thấy ROA,  
với vai trò là biến kiểm soát, có tác động  
tích cực đến công bố trách nhiệm xã hội  
như Jizi (2013), Zheng (2014), Li (2013),  
Liao (2016). Muttakin (2015) đưa ra giả  
thuyết cho rằng lợi nhuận công ty có ảnh  
hưởng tích cực đến mức độ công bố trách  
nhiệm xã hội, và thông qua nghiên cứu các  
công ty Bangladesh trong giai đoạn 2005 –  
2009, đã đưa ra kết luận các công ty có lợi  
nhuận ở Bangladesh cung cấp nhiều thông  
tin trách nhiệm xã hội hơn.  
Vì mục tiêu của các ngân hàng là tối  
đa hóa lợi ích của chủ sở hữu nhằm cạnh  
tranh tốt trên thị trường nên khi có lời  
nhiều hơn, các ngân hàng thương mại ở  
Việt Nam có xu hướng đầu tư tiếp vào các  
hoạt động để kiếm lời, thay vì bỏ thêm tiền  
để thực hiện các hoạt động liên quan đến  
trách nhiệm xã hội. Từ đó, tác giả đưa ra  
giả thuyết nghiên cứu như sau:  
H5: Tỷ số lợi nhuận sau thuế trên tổng  
tài sản tác động ngược chiều đến công bố  
trách nhiệm xã hội.  
Tỷ số dòng tiền thuần từ hoạt động  
37  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
kinh doanh (Cash from operations - CFO)  
là trên tổng tài sản. Nghiên cứu của Chiang  
(2015) đã chỉ ra rằng mặc dù CFO không  
có ý nghĩa liên quan đến trách nhiệm xã  
hội nhưng giá trị cực kỳ gần với mức ý  
nghĩa 10%, ngoài ra Janssen (2017) sử  
dụng CFO như một biến kiểm soát trong  
việc đo lường cường độ của hiệu quả tài  
chính để dẫn đến kết luận rằng hiệu quả tài  
chính có mối quan hệ với CSR. Ở Việt  
Nam cổ phiếu của các ngân hàng được  
nhận định là nhóm có tầm ảnh hưởng lớn  
đến thị trường chứng khoán và vì thế áp  
lực lớn nhất đối với hệ thống ngân hàng  
những năm gần đây chính là việc tăng vốn  
để đáp ứng chuẩn mực Basel II. Do đó,  
việc thu hút các nguồn vốn đến từ trong và  
ngoài nước trên thị trường chứng khoán là  
rất cần thiết. Ở đây, tác giả thấy rằng tỷ  
suất dòng tiền thu được từ hoạt động kinh  
doanh trên tài sản, khi so sánh tỷ số này  
giữa 2 công ty với nhau, thì công ty nào có  
tỷ suất CFO cao hơn thì công ty đó có  
dòng tiền lớn hơn tức các ngân hàng đầu tư  
vào các hoạt động cho kinh doanh, dịch  
vụ, do đó sẽ ít có xu hướng tham gia vào  
các hoạt động xã hội và báo cáo về CSR.  
H6: Tỷ số dòng tiền thuần từ hoạt  
động kinh doanh trên tổng tài sản tác động  
ngược chiều với hoạt động công bố trách  
nhiệm xã hội.  
động kinh doanh sinh lời.  
Cochran và Wood (1984) cho rằng  
tuổi của tài sản cố định càng cao thì mức  
độ thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh  
nghiệp càng thấp. Thực vậy, trong quá  
trình sử dụng, mức chi phí khấu hao hằng  
năm cũng như chi phí bảo hành, sửa chữa,  
nâng cấp tài sản cố định là không nhỏ. Khi  
ngân hàng ngày càng mở rộng mạng lưới  
hoạt động cũng như gián tiếp đầu tư vào  
bất động sản thông qua cho vay tín dụng,  
các chi phí này đồng loạt tăng lên. Với  
nguồn vốn doanh nghiệp hữu hạn, một khi  
doanh nghiệp tập trung đầu tư vào tài sản  
cố định hữu hình thì sẽ không còn ngân  
sách cho các hoạt động thể hiện trách  
nhiệm xã hội. Do đó, giá trị tài sản cố định  
hữu hình của doanh nghiệp càng lớn thì  
mức độ công bố trách nhiệm xã hội càng  
thấp. Từ đó, tác giả đưa ra giả thuyết  
nghiên cứu:  
H7. Tài sản cố định hữu hình càng  
tăng thì công bố trách nhiệm xã hội của  
doanh nghiệp càng giảm.  
Đòn bẩy tài chính (Leverage - LEV)  
được tính bằng tỷ số tổng nợ ngắn hạn và  
dài hạn trên tổng tài sản. Nghiên cứu của  
Ullmann (1985) đã cho thấy vai trò quan  
trọng của nguồn lực tài chính đối với hoạt  
động của doanh nghiệp. Đối với một doanh  
nghiệp có giá trị thị trường thấp, doanh  
nghiệp đứng trước nguy cơ khó huy động  
vốn từ nhà đầu tư, ngân hàng hay bất kỳ  
một nguồn lực nào khác. Chính vì vậy,  
việc thể hiện chất lượng hoạt động doanh  
nghiệp đối với bên cho vay để chứng tỏ  
khả năng hoàn trả là yếu tố quyết định kết  
quả huy động vốn. Điều này đồng nghĩa  
với việc doanh nghiệp luôn ưu tiên cho các  
hoạt động cải thiện lợi nhuận hơn đầu tư  
vào trách nhiệm xã hội. Lý thuyết các bên  
Giá trị tài sản cố định hữu hình của  
doanh nghiệp (Property, Plant and  
Equipment - PPE). Trước năm 2011, thị  
trường từng chứng kiến hoạt động mở rộng  
mạng lưới ồ ạt của các ngân hàng thương  
mại. Việc mở rộng chi nhánh đồng nghĩa  
với việc ngân hàng mở rộng mua bất động  
sản, quyền sử dụng đất, các thiết bị, máy  
móc, phương tiện vận tải,… phục vụ cho  
văn phòng chi nhánh cũng như các hoạt  
38  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
liên quan giả định rằng, đòn bẩy tài chính  
tác động ngược chiều đối với công bố  
trách nhiệm xã hội (Chiu và Wang, 2014).  
Dựa vào những lập luận trên, tác giả đưa ra  
giả thuyết nghiên cứu:  
H8. Đòn bẩy tài chính càng cao thì  
mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã  
hội càng giảm.  
Bảng 1. Các giả thuyết nghiên cứu và mối quan hệ kỳ vọng  
Giả  
thuyết  
Nội dung giả thuyết  
Các nghiên cứu trước đây Kỳ vọng  
Quy mô Ban giám đốc tác động  
Pathan, 2009; Branco và  
H1  
cùng chiều với công bố trách nhiệm Rodrigues, 2008  
xã hội.  
+
-
Tuổi của CEO có ảnh hưởng tiêu  
cực đến công bố trách nhiệm xã hội.  
Oh và cộng sự, 2014  
H2  
H3  
Giới tính của CEO liên quan ngược Pelled và cộng sự, 1999;  
chiều với công bố trách nhiệm xã  
hội, trong đó, CEO nam được mã  
hóa là 1, CEO nữ được mã hóa là 0.  
Bear và cộng sự 2010; Webb  
và cộng sự 2008  
-
Quy mô doanh nghiệp có tác động Cowen và cộng sự, 1987;  
tích cực đến công bố trách nhiệm xã Watson và cộng sự, 2002;  
hội với quy mô doanh nghiệp là số Prencipe, 2004; Barnea và  
H4  
+
logarit của tổng tài sản.  
Rubin 2010; Ho và Taylor,  
2013; Kaur và Lodhia, 2014  
Tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản tác Jizi, 2013; Zheng, 2014; Li,  
động ngược chiều với công bố trách 2013; Muttakin, 2015; Võ  
H5  
H6  
nhiệm xã hội.  
Xuân Vinh và Trần Thị  
Phương Mai, 2015; Liao,  
2016  
-
-
Tỷ số dòng tiền thuần từ hoạt động Chiang, 2015; Janssen, 2017  
kinh doanh trên tổng tài sản tác  
động ngược chiều với hoạt động  
công bố trách nhiệm xã hội  
Tài sản cố định hữu hình càng tăng Cochran và Wood, 1984  
thì công bố trách nhiệm xã hội của  
doanh nghiệp càng giảm.  
H7  
H8  
-
-
Đòn bẩy tài chính càng cao thì mức Ullmann, 1985; Chiu và  
độ công bố thông tin trách nhiệm xã Wang, 2014  
hội càng giảm.  
39  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
toán của các ngân hàng trong nghiên cứu.  
Các ngân hàng chỉ được chọn khi có  
đủ tất cả các chỉ số cần thiết để phục vụ  
cho việc tính toán, đồng thời phải có đầy  
đủ báo cáo tài chính đã được kiểm toán và  
báo cáo thường niên được công bố trong  
giai đoạn nghiên cứu, tạo ra tính cân bằng  
mạnh (balanced panel) của mẫu dữ liệu.  
Tuy nhiên, trong quá trình chọn mẫu, còn  
tồn tại một vài nguyên nhân làm hạn chế  
số lượng mẫu, như thời gian thành lập sau  
năm 2008, mức độ phát triển của website  
chính thức làm hạn chế số lượng báo cáo  
tài chính hợp nhất đã kiểm toán cũng như  
báo cáo thường niên được công bố.  
Trong mô hình động, do biến trễ của  
biến phụ thuộc đóng vai trò là biến độc lập  
nên biến trễ có thể có tương quan với các  
biến độc lập còn lại của mô hình nghiên  
cứu nên kết quả ước lượng thu được có  
khả năng không vững. Những phương  
pháp hồi quy phù hợp với dữ liệu bảng như  
Pooled OLS, FEM, REM, GLS không thể  
khắc phục được vấn đề nội sinh như  
phương pháp GMM hệ thống. Vì vậy, tác  
giả vận dụng mô hình động GMM để phân  
tích nghiên cứu về tác động của đặc điểm  
ban giám đốc và đặc điểm doanh nghiệp  
đến việc công bố trách nhiệm xã hội ở các  
ngân hàng thương mại ở Việt Nam.  
2.4. Mô hình nghiên cứu  
2.3. Dữ liệu  
Tác giả kế thừa mô hình nghiên cứu  
của Jizi (2013), Holder-Webb và cộng sự  
(2009) để đo lường tác động của đặc điểm  
Ban giám đốc và đặc điểm doanh nghiệp  
đến công bố trách nhiệm xã hội. Mô hình  
nghiên cứu được đề xuất như sau:  
Mẫu nghiên cứu là tất cả 30 ngân hàng  
thương mại chưa niêm yết và đã niêm yết  
trên thị trường chứng khoán Việt Nam  
trong khoảng thời gian 2008 – 2017.  
Nguồn dữ liệu lấy từ báo cáo thường niên,  
báo cáo tài chính hợp nhất đã được kiểm  
Trong đó: i = 1; 2;...; 30 (với i thể hiện  
cho 30 ngân hàng thương mại Việt Nam); t  
= 1; 2;..; 10 (với t là khoảng thời gian 10  
năm từ 2008-2017); Biến CSR i,t - Biến  
phụ thuộc, đại diện đo lường cho công bố  
trách nhiệm xã hội của ngân hàng i tại thời  
điểm t. Được đo lường như sau:  
Theo các nghiên cứu trước (Jizi, 2013;  
Haniffa và Cooke, 2005; Holder-Webb và  
cộng sự, 2009), trách nhiệm xã hội của  
doanh nghiệp được đo lường thông qua  
điểm số của bốn nhóm tiêu chí (xã hội,  
môi trường, nhân viên, chất lượng dịch vụ  
và sản phẩm xã hội). Thông qua cách đo  
lường trên, mỗi ngân hàng có thể đạt được  
tối đa 31 điểm trách nhiệm xã hội. Nhằm  
nâng cao độ chính xác và tính khách quan,  
nhóm tác giả đánh giá các tiêu chí thông  
qua báo cáo thường niên của 30 ngân hàng  
thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2007  
– 2018. Khi ngân hàng thực hiện các hoạt  
động tương đương với một tiêu chí, điểm  
trách nhiệm xã hội sẽ tăng lên 01 điểm.  
Điểm số được trình bày dưới dạng tỷ số  
điểm đạt được trên tổng số tiêu chí, sau đó  
được quy đổi thành số thập phân để tiến  
40  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
hành chạy dữ liệu.  
(2015) với (ROA = Lợi nhuận sau thuế/  
Tổng tài sản); Biến CFO – Biến độc lập,  
thể hiện tỷ số dòng tiền thuần từ hoạt động  
sản xuất kinh doanh trên tổng tài sản của  
ngân hàng i tại thời điểm t. Biến được đo  
lường dựa trên nghiên cứu của Jansen  
(2017) với (CFO = Dòng tiền thuần từ hoạt  
động sản xuất kinh doanh/ Tổng tài sản);  
Biến PPE – Biến độc lập, thể hiện giá trị  
của tài sản cố định hữu hình của ngân hàng  
i tại thời điểm t, được đo lường tương tự  
như cách thức đo lường tuổi của tài sản cố  
định trong nghiên cứu của Cochran và  
Wood (1984); Biến LEV – Biến độc lập,  
thể hiện tỷ số nợ ngắn và dài hạn trên tổng  
tài sản của ngân hàng i tại thời điểm t,  
được đo lường dựa trên nghiên cứu của  
Chiu (2014) với (LEV = Tổng nợ phải trả/  
Tổng tài sản); – hệ số tự do; 1, 2, … 9- hệ số  
hồi quy đo lường mức thay đổi của trách  
nhiệm xã hội doanh nghiệp trên một đơn vị  
thay đổi của biến độc lập khi mà giá trị của  
các biến độc lập khác là không đổi; – là sai  
số ngẫu nhiên.  
Biến BOARDsize – Biến độc lập, thể  
hiện số lượng thành viên của Ban giám đốc  
của ngân hàng i tại thời điểm t, được đo  
lường tương tự cách thức đo lường số  
lượng thành viên hội đồng quản trị của  
Chang (2015); Biến CEOage – Biến độc  
lập, thể hiện tuổi của CEO ngân hàng i tại  
thời điểm t, được đo lường theo tuổi trung  
bình của CEO trong nghiên cứu của Chang  
(2015); Biến CEOgender – Biến độc lập,  
thể hiện giới tính CEO của ngân hàng i tại  
thời điểm t, nếu CEO có giới tính nam sẽ  
được mã hóa là 1, nữ là 0. Biến được đo  
lường tương tự dựa trên nghiên cứu của  
Bear và cộng sự (2010) về số lượng nữ  
giới trong Ban giám đốc; Biến size –Biến  
độc lập, thể hiện số logarit của tổng tài sản  
ngân hàng i tại thời điểm t; được đo lường  
dựa trên nghiên cứu của Cowen và cộng sự  
(1987); Biến ROA – Biến độc lập, thể hiện  
lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản của  
ngân hàng i tại thời điểm t. Biến được đo  
lường dựa trên nghiên cứu của Muttakin  
3. Kết quả và thảo luận  
3.1. Thống kê mô tả  
Bảng 2. Thống kê mô tả các biến nghiên cứu  
BOARD CEO  
CEO  
Biến  
CSR  
size ROA CFO PPE LEV  
size  
age  
gender  
Giá trị trung bình 0,293 8,869 46,488 0,882 31,851 0,008 0,023 0,007 0,892  
Độ lệch chuẩn  
Giá trị nhỏ nhất  
0,177 3,535 7,523  
0,323  
0
1,212 0,007 0,088 0,007 0,074  
28,515 -0,055 -0,47 0,001 0,075  
34,721 0,048 0,368 0,039 0,973  
0
2
28  
65  
Giá trị lớn nhất 0,839  
Số quan sát 281  
26  
1
270  
246  
271  
283  
282  
283 283 283  
41  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
Theo số liệu thống kê mô tả của tất cả  
các biến trong bảng thống kê mô tả, CSR  
của các ngân hàng niêm yết dao động từ 0  
đến 0,839 với mức trung bình là 0,293  
trong giai đoạn từ 2008-2017, nhỏ hơn giá  
trị trung bình của CSR là 0,564 trong bài  
nghiên cứu (Hồ Thị Vân Anh, 2013). Điều  
này chứng tỏ các ngân hàng ít quan tâm  
đến CSR hơn các doanh nghiệp thuộc các  
lĩnh vực khác.  
dao động từ -0,055 đến 0,048 với mức  
trung bình là 0,007 trong giai đoạn từ 2008  
– 2017. Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh  
doanh trên tổng tài sản dao động trong  
khoảng từ -0,47 đến 0,368, với giá trị trung  
bình là 0,023. Giá trị tài sản cố định hữu  
hình của doanh nghiệp thuộc khoảng 0,001  
đến 0,039 với giá trị trung bình là 0,007.  
Đòn bẩy tài chính dao động từ 0,075 đến  
0,97 với mức trung bình là 0,892 trong giai  
đoạn từ 2008 – 2017.  
Quy mô ban giám đốc dao động từ 2  
đến 26 với mức trung bình là 3,535 trong  
giai đoạn từ 2008 – 2017, nghĩa là có sự  
khác biệt lớn về quy mô ban giám đốc giữa  
các ngân hàng niêm yết. Độ tuổi trung bình  
của CEO dao động từ 28 đến 65 với mức  
trung bình là 7,523 trong giai đoạn từ 2008  
– 2017 cho thấy khả năng lãnh đạo hiệu  
quả của tài năng trẻ tuổi, tuy nhiên, độ tuổi  
trung bình đã chứng minh sự cân bằng  
trong thời gian hoạt động và kinh nghiệm  
của CEO. Trung bình về giới tính của CEO  
là 0,882 (với quy ước nam là 1, nữ là 0),  
chứng minh hiện nay tại các ngân hàng  
thương mại ở Việt Nam, CEO chủ yếu là  
nam giới. Quy mô doanh nghiệp dao động  
từ 28,515 đến 34,721 với mức trung bình  
là 31,851 trong giai đoạn từ 2008 – 2017.  
Tỷ số lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản  
3.2. Phân tích tương quan  
Bảng 3 cho thấy quy mô ban giám  
đốc, giới tính của CEO, quy mô doanh  
nghiệp và đòn bẩy tài chính có tương  
quan thuận với trách nhiệm xã hội, trong  
khi biến còn lại bao gồm tuổi của CEO, tỷ  
số lợi nhuận trên tổng tài sản, dòng tiền  
thuần từ hoạt động kinh doanh trên tổng  
tài sản và tài sản cố định hữu hình có  
tương quan nghịch. Tương quan về dấu  
của các biến phụ thuộc và biến độc lập  
đều phù hợp với lý thuyết, ngoài trừ  
những biến tuổi và giới tính CEO và đòn  
bẩy tài chính.  
Hệ số tương quan giữa các biến độc  
lập với nhau đều bé hơn 0,8. Điều này thể  
hiện không có hiện tượng đa cộng tuyến  
trong mối tương quan giữa các biến.  
Bảng 3. Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình  
CSR BOARD CEO  
age  
CEO  
gender  
size  
ROA CFO PPE- LEV  
LAG  
size  
CSR  
1,000  
BOARDsize  
CEOage  
CEOgender  
SIZE  
ROA  
CFO  
0,224*  
-0,073  
0,034*  
0,465*  
-0,016*  
-0,088*  
-0,062*  
0,225*  
1,000  
0,005 1,000  
0,142 -0,135  
0.463 -0,007  
0,063 0,187  
0,026 0,053  
-0,152 0,191  
0,201 -0,080  
1,000  
0,221 1,000  
0,017 -0,111 1,000  
0,032 -0,010 0,130 1,000  
-0,367 -0,374 0,210 -0,086 1,000  
0,061 0,591 -0,213 0,030 -0,387 1,000  
PPELAG  
LEV  
42  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
3.3. Kết quả phân tích hồi quy  
Bảng 4. Kết quả phân tích hồi quy GMM của mô hình  
Ước lượng  
Hệ số hồi Sai số  
Kiểm  
định t  
Mức ý  
nghĩa  
quy  
chuẩn  
khoảng tin cậy  
Lag.CSR  
BOARDsize  
CEOage  
CEOgender  
SIZE  
0,458*  
0,007***  
0,0004***  
-0,052**  
0,017***  
-3,839  
0,063  
7,27  
0,000  
0,329 0,587  
0,001 0,013  
-0,003 0,004  
-0,106 0,003  
0,014 0,021  
-5,985 -1,692  
-0,226 -0,034  
0,003  
0,002  
0,027  
0,002  
1,049  
0,047  
3,644  
0,045  
2,37  
0,32  
0,024  
0,753  
0,062  
0,000  
0,001  
0,010  
-1,94  
9,91  
ROA  
-3,66  
-2,76  
-2,65  
-7,98  
CFO  
-0,130**  
-9,638  
PPELAG  
LEV  
0,013 -17,090 -2,186  
0,000 -0,448 -0,266  
-0,357**  
Kiểm định Arellano-  
Bond  
0,002  
P-value (AR1)  
Kiểm định Arellano-  
Bond  
0,461  
P-value (AR2)  
*, **, *** tương ứng với mức ý nghĩa 10%, 5%, 1%  
Bảng 4 cho thấy kết quả hồi quy liên  
quan đến mối liên hệ giữa các đặc điểm  
Ban giám đốc, đặc điểm doanh nghiệp và  
công bố trách nhiệm xã hội trong giai đoạn  
2008 – 2017 của các ngân hàng thương  
mại niêm yết và chưa niêm yết trên thị  
trường chứng khoán tại Việt Nam.  
Kiểm định AR(2) cho kết quả giá trị p  
lớn hơn 0,1, nghĩa là giả thuyết ban đầu về  
việc không tồn tại mối tương quan chuỗi 2  
bậc bị loại bỏ. Do đó, tất cả các kết quả  
trong GMM đều có ý nghĩa. Như vậy, kết  
quả ước lượng mô hình theo phương pháp  
GMM động phù hợp với dữ liệu nghiên cứu.  
Kết quả cho thấy rằng tất cả các biến  
độc lập trừ biến Tuổi của CEO (CEOage)  
đều có ý nghĩa thống kê ở mức 10%. Kết  
quả nghiên cứu cho thấy quy mô Ban giám  
đốc (BOARDsize) tác động thuận chiều  
đến công bố trách nhiệm xã hội. Các  
nghiên cứu trước đây đa số đều nghiên cứu  
về quy mô của hội đồng quản trị (Jizi,  
2013; Liao, 2016), chưa đề cập đến số  
lượng thành viên Ban giám đốc có tác  
động như thế nào đến công bố trách nhiệm  
xã hội. Kết quả chỉ ra trong bối cảnh ở  
Việt Nam, quy mô Ban giám đốc tác động  
tích cực đến việc công bố trách nhiệm xã  
hội tại các ngân hàng thương mại. Giới  
tính của CEO (CEOgender) có tác động  
43  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
ngược chiều đến công bố trách nhiệm xã  
hội. Điều này phù hợp với quan điểm cho  
rằng phụ nữ có khả năng thực hiện các  
hoạt động từ thiện nhiều hơn nam giới, do  
đó sự có mặt của họ trong Ban điều hành  
sẽ thúc đẩy công bố CSR nhiều hơn (Bear  
và cộng sự, 2010).Quy mô doanh nghiệp  
(size) có ảnh hưởng tích cực đến công bố  
CSR. Điều này phù hợp với kết quả nghiên  
cứu trước đây (Muttakin, 2015; Chang và  
cộng sự, 2015). Hệ số hồi quy của biến lợi  
nhuận thuần trên tổng tài sản (ROA) thể  
hiện mối quan hệ ngược chiều với công bố  
trách nhiệm xã hội, phù hợp với giả thuyết  
của tác giả. Khi lợi nhuận cao, các ngân  
hàng thương mại Việt Nam có xu hướng  
đầu tư tiếp vào các hoạt động sinh lời hơn  
là các hoạt động liên quan trách nhiệm xã  
hội nhằm tăng năng lực cạnh tranh của họ  
trong điều kiện ngày càng có nhiều ngân  
hàng thành lập ở Việt Nam. Điều này trái  
ngược với các nghiên cứu về trách nhiệm  
xã hội ở các quốc gia khác (Jizi, 2013;  
Zheng, 2014; Li, 2013; Liao, 2016;  
Muttakin, 2015) với kết quả ROA thúc đẩy  
công bố trách nhiệm xã hội. Ngành ngân  
hàng ở Việt Nam đang dần tiếp cận với  
những chính sách thể hiện xu hướng quốc  
tế: quan tâm đến môi trường xã hội, nhưng  
mức độ thực hiện chưa cao, do đó các ngân  
hàng chú trọng vào các hoạt động sinh lời  
hơn là trách nhiệm xã hội.Dòng tiền thuần  
từ hoạt động kinh doanh trên tổng tài sản  
(CFO) có tác động ngược chiều đến công  
bố trách nhiệm xã hội. Kết quả này trái  
ngược với nghiên cứu của Chiang (2015)  
và cho thấy mức độ tác động của CFO rõ  
rệt hơn so với Janssen (2017). Tương tự  
ROA, khi ngân hàng có tỷ số CFO cao, tức  
là ngân hàng đang có hiệu quả kinh doanh  
tốt, nên sẽ có xu hướng đầu tư vào hoạt  
động kinh doanh thay vì hoạt động trách  
nhiệm xã hội.  
Giá trị tài sản cố định hữu hình (PPE)  
thể hiện tác động ngược chiều với công bố  
trách nhiệm xã hội, tương đồng với nghiên  
cứu của Cochran và Wood (1984). Ngân  
hàng càng sở hữu nhiều tài sản cố định hữu  
hình, càng thiếu nguồn lực đầu tư vào các  
hoạt động khác, cụ thể là hoạt động trách  
nhiệm xã hội, phù hợp với giả thuyết  
nghiên cứu. Hệ số hồi quy của dòn bẩy tài  
chính (LEV) thể hiện tác động nghịch  
chiều đối với công bố trách nhiệm xã hội  
và có ý nghĩa thống kê, nhất quán với  
nghiên cứu trước đây (Chiu, 2014; Li và  
Zhang, 2010; Zheng, 2014).  
4. Kết luận và kiến nghị  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, ngoại  
trừ tuổi của CEO không cho thấy mức ý  
nghĩa về mặt thống kê, các đặc điểm Ban  
giám đốc và đặc điểm doanh nghiệp đều  
tác động đến công bố trách nhiệm xã hội  
tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.  
Tác giả cũng đề cập một vài hạn chế  
nghiên cứu và hướng nghiên cứu trong  
tương lai. Thứ nhất, vấn đề công bố thông  
tin của nhóm ngân hàng trong mẫu dữ liệu  
không đầy đủ nên không thể thu thập tất cả  
dữ liệu để được kết quả chính xác nhất.  
Thứ hai, do thời gian và kiến thức còn hạn  
hẹp nên tác giả chỉ chọn một mô hình để  
đo lường trách nhiệm xã hội. Thứ ba, bài  
viết loại bỏ các doanh nghiệp tài chính  
cũng như dữ liệu trước năm khủng hoảng  
tài chính 2008 nên không sử dụng cho các  
ngành đặc thù như đã đề cập. Thứ tư, các  
nghiên cứu nước ngoài chủ yếu nghiên cứu  
về tác động của hội đồng quản trị cũng như  
sử dụng các biến độc lập trong nghiên cứu  
của tác giả làm biến kiểm soát nên bài viết  
còn hạn chế về nghiên cứu và lý thuyết  
44  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
nền. Nghiên cứu tương lai có thể xem xét  
để lựa chọn đối tượng nghiên cứu, quy mô  
mẫu và phương pháp nghiên cứu đa dạng  
hơn nhằm tăng độ tin cậy cho kết quả.  
Đối với các quy định, chính sách của  
Nhà nước  
đóng góp vào sự phát triển bền vững của  
xã hội. Các ngân hàng cần chú trọng hơn  
đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội  
thông qua áp dụng Chiến lược phát triển  
bền vững do Chính phủ phê duyệt, giai  
đoạn từ 2011 – 2020 cũng như tăng cường  
công bố thông tin trên Báo cáo thường  
niên, Báo cáo phát triển bền vững,… Hiện  
nay, khi việc phát triển một doanh nghiệp  
không chỉ đơn thuần là phát triển về qui  
mô, doanh thu, lợi nhuận,… mà còn là  
phát triển về thương hiệu, niềm tin của  
người tiêu dùng, người lao động cũng như  
chủ sở hữu đối với doanh nghiệp, công bố  
trách nhiệm xã hội cần được nghiêm túc  
nhìn nhận và thực hiện rộng rãi.  
Đối với cơ quan quản lý Nhà nước,  
bài nghiên cứu sẽ cung cấp một cái nhìn  
đầy đủ về việc công bố trách nhiệm xã hội  
đặc biệt là đo lường tác động của đặc điểm  
ban giám đốc và đặc điểm doanh nghiệp  
đến công bố trách nhiệm xã hội, từ đó có  
những chính sách khuyến khích thực hiện  
trách nhiệm xã hội cũng như công bố  
những thông tin này một cách hiệu quả  
hơn. Hiện nay, trong thông tư 155/2015-  
BTC về công bố thông tin trên thị trường  
chứng khoán do Bộ Tài chính ban hành,  
chưa đề cập đến công bố thông tin về trách  
nhiệm xã hội, trong khi vấn đề này đang  
ngày càng được nhiều doanh nghiệp nhận  
thức và thực hiện. Các hoạt động trách  
nhiệm xã hội tuy là tự nguyện, nhưng các  
cơ quan nhà nước cũng cần đưa ra những  
chính sách, khung pháp lý cụ thể để các  
doanh nghiệp nhận thức được tầm quan  
trọng của trách nhiệm xã hội, từ đó đẩy  
mạnh thực hiện nghiêm túc và hiệu quả  
các hoạt động này hơn.  
Tài liệu tham khảo  
Adam, C. and Frost, G. R. R. (2006).  
Accessibility and functionlity of the  
corporate web site: Implication for  
sustainability reporting. Business Strategy  
and the Environment, 15 (4), pp. 275-287.  
Hồ Thị Vân Anh (2013). Trách nhiệm xã hội và  
hiệu quả tài chính: bằng chứng từ các công  
ty niêm yết Việt Nam. Luận án Tiến sĩ,  
Trường Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh.  
Barnea, A. and Rubin, A. (2010). Corporate  
social responsibility as a conflict between  
shareholders. Journal of Business Ethics, 97  
(1), pp. 71-86.  
Bear, S., Rahman, N. and Post, C. (2010).  
The impact of board diversity and  
gender composition on corporate social  
responsibility and firm reputation. Journal  
of Business Ethics, 97 (2), pp. 207-221  
Branco, M. C. and Rodrigues, L. L. (2008).  
Factors influencing social responsibility  
disclosure by Portuguese companies. Journal  
of Business Ethics, 83 (4), pp. 685-701.  
Đối với ngân hàng  
Đối với các ngân hàng niêm yết và  
chưa niêm yết, bài nghiên cứu sẽ giúp  
ngân hàng nhìn nhận về trách nhiệm xã hội  
cũng như vận dụng mối quan hệ giữa đặc  
điểm Ban giám đốc, đặc điểm doanh  
nghiệp và công bố trách nhiệm xã hội phù  
hợp để phát triển ngân hàng một cách bền  
vững và hoàn toàn tự nguyện công bố các  
hoạt động trách nhiệm xã hội. Sự phát triển  
bền vững của doanh nghiệp nói chung và  
các ngân hàng thương mại nói riêng sẽ  
Chiang, J. J. Taylor, S. E and Bower, J. E.  
(2015). Early adverity, neural development  
and information. Rewiev Article, 75 (8),  
45  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 5  
pp. 887-907.  
sector. Journal of Business Ethics, 125  
(4), pp. 601-615.  
Chiu, S. I. (2014). The Relation between  
Life Stress and Smartphone Addiction  
on Taiwanese University Students:  
Kaur, A. and K. Lodhia, S. (2014). The state of  
disclosures on stakeholder engagement in  
sustainability reporting in Australian local  
councils. Pacific Accounting Review, 26  
(1/2), pp. 54-74.  
A
Mediation Model of Learning  
Self-Efficacy and Social Self-Efficacy.  
Computer in Human Behavior.  
Cochran, P. L. and Wood, R. A. (1984).  
Corporate social responsibility and  
financial performance. Academy of  
Management Journal, 27 (1), pp. 42-56.  
Cowen, S. S., Ferreri, L. B. and Parker, L. D.  
(1987). The impact of corporate  
characteristics on social responsibility  
disclosure: A typology and frequency-  
based analysis. Accounting, Organizations  
and Society, 12 (2), pp. 111-122.  
Nguyễn Vĩnh Khương (2018). Quản trị công ty  
và công bố thông tin trách nhiệm xã hội  
tại các Ngân hàng Thương mại Việt Nam.  
Tạp chí Kinh tế và Phát triển, 254 (8),  
tr. 81-89.  
Li, Q., Luo, W., Wang, Y. and Wu, L. (2013).  
Firm performance, corporate ownership,  
and corporate social responsibility  
disclosure in China. Business Ethics: A  
European Review, 22 (2), pp. 159-173.  
Liao, L., Lin, T. P. and Zhang, Y. (2018).  
Corporate board and corporate social  
responsibility assurance: Evidence from  
China. Journal of Business Ethics, 150  
(1), pp. 211-225.  
Gulyás, A. (2009). Coporate social responsibility  
in the British media industries preliminary  
findings. Ter és Tarsadalom Journal,  
23 (2), pp. 155-169.  
Haniffa, R. M. and Cooke, T. E. (2005). The  
impact of culture and governance on  
corporate social reporting. Journal of  
Accounting and Public Policy, 24 (5),  
pp. 391-430.  
Ho, P. L. and Taylor, G. (2013). Corporate  
governance and different types of  
voluntary disclosure: Evidence from  
Malaysian listed firms. Pacific Accounting  
Review, 25 (1), pp. 4-29.  
Holder-Webb, L., Cohen, J., Nath, L. and  
Wood, D. (2009). The supply of corporate  
social responsibility disclosures among  
U.S. firms. Journal of Business Ethics, 84  
(4), pp. 497-527.  
Muttakin, M. B., Khan, A. and Subramaniam,  
N. (2015). Firm characteristics, board  
diversity and corporate social responsibility:  
evidence  
from  
Bangladesh. Pacific  
Accounting Review, 27 (3), pp. 353-372.  
Oh, W. Y., Chang, Y. K. and Cheng, Z.  
(2014). When CEOcareer horizon  
problems matter for corporate social  
responsibility: The moderating roles of  
industry-level discretion and blockholder  
ownership. Journal of Business Ethics.  
doi:10.1007/s10551-014-2397-z.  
Pathan, S. (2009). Strong boards, CEO power  
and bank risk-taking. Journal of Banking  
and Finance, 33 (7), pp. 1340-1350.  
Janssen, D. (2017). Corporate Social Responsibility.  
Culture and Earnings Management.  
Master thesis, Raboud University  
Nijmegen, Netherlands.  
Jizi, M. I., Salama, A., Dixon, R. and Stratling,  
R. (2013). Corporate governance and  
corporate social responsibility disclosure:  
Evidence from the US banking  
Pelled, L. H., Eisenhardt, K. and Xin, K. R.  
(1999). Exploring the black box: An  
analysis of work group diversity, conflict  
and performance. Administrative Science  
Quarterly, 44 (1), pp. 1-28.  
Ullmann, A. (1985). Data in search of a  
theory: A critical examination of the  
relationships among social performance,  
46  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 5  
social disclosure, and economic performance  
of US firms. Academy of Management  
Review, 10 (3), pp. 540-557.  
Wood, D. J. (2010). Measuring corporate  
social performance: A review. International  
Journal of Management Reviews, 12, pp.  
50-84.  
Zheng, L., Balsara, N. and Huang, H. (2014).  
Regulatory pressure, blockholders and  
corporate social responsibility (CSR)  
disclosures in China. Social Responsibility  
Journal, 10 (2), pp. 226-245.  
Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai  
(2015). Lợi nhuận và rủi ro từ đa dạng  
hóa thu nhập của ngân hàng thương mại  
Việt Nam. Tạp chí Phát triển kinh tế, 26  
(8), tr. 54-70  
Watson, A., Shrives, P. and Marston, C. (2002).  
Voluntary disclosure of accounting ratios in  
the UK. The British Accounting Review, 34  
(4), pp. 289-313.  
47  
pdf 14 trang yennguyen 8840 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tác động của đặc điểm ban giám đốc và đặc điểm doanh nghiệp đến công bố trách nhiệm xã hội tại các ngân hàng thương mại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftac_dong_cua_dac_diem_ban_giam_doc_va_dac_diem_doanh_nghiep.pdf