Giáo trình Tài chính - Tiền tệ (Phần 2)

CHƯƠNG VI  
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP  
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÀI CHÍNH DOANH  
NGHIỆP  
1. Khái niệm  
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh doanh nhằm mục đích sinh lời được pháp  
luật thừa nhận, được phép kinh doanh trên một số lĩnh vực nhất định, có từ một chủ  
sở hữu trở lên và chủ sở hữu phải đảm bảo trước pháp luật bằng toàn bộ tài sản của  
mình, có tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định.  
Trong nền kinh tế thị trường các loại hình doanh nghiệp phát triển một cách đa  
dạng, phong phú. Có nhiều cách tiếp cận về doanh nghiệp. Nếu xét trên một góc độ  
cung cầu vốn trong nền kinh tế thì doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp tài  
chính kinh doanh tiền tệ và doanh nghiệp phi tài chính kinh doanh hàng hoá dịch vụ  
thông thường. Nếu dựa vào quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất thì doanh nghiệp  
được chia thành doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và công ty cổ phần.  
Nếu dựa vào hình thức pháp lý tổ chức của doanh nghệp thì doanh nghiệp được  
phân chia thành doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu  
hạn, công ty hợp danh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp tư  
nhân.  
Dù là cách phân chia nào thì đối với một doanh nghiệp khi tiến hành hoạt  
động kinh doanh đều phải sử dụng tài chính doanh nghiệp để thực hiện mục tiêu  
kinh doanh. Trong chương này chỉ đề cập đến doanh nghiệp phi tài chính. Để tiến  
hành hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có những yếu tố cần thiết là tư  
liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động, đòi hỏi doanh nghiệp phải có  
một lượng vốn nhất định. Muốn vậy doanh nghiệp phải hình thành và sử dụng các  
quỹ tiền tệ. Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình hình  
thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp. Trong quá trình đó,  
phát sinh và hình thành các luồng tiền tệ gắn liền với các hoạt động đầu tư và hoạt  
động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp. Các luồng tiền tệ bao hàm các  
117  
luồng tiền tệ đi vào và các luồng tiền tệ đi ra khỏi doanh nghiệp, tạo thành sự vận  
động của các luồng tài chính doanh nghiệp.  
Bên trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh  
nghiệp là các quan hệ kinh tế, các quan hệ này được gọi là các quan hệ tài chính và  
bao gồm các quan hệ như:  
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể khác thể hiện  
trong việc góp vốn, vay vốn, cho vay vốn…, trong việc thanh toán cho việc mua  
hoặc bán tài sản, vật tư, hàng hoá, dịch vụ…  
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với người lao động trong doanh  
nghiệp: trả lương, thưởng, phạt vật chất.  
- Quan hệ giữa các bộ phận trong doanh nghiệp như thanh toán giữa các  
bộ phận trong doanh nghiệp, phân phối lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp, hình  
thành và sử dụng quỹ của doanh nghiệp.  
- Quan hệ tài chính nảy sinh trong các hoạt động xã hội của doanh  
nghiệp như tài trợ cho các tổ chức xã hội, các quỹ từ thiện, thể dục, thể thao, văn  
hoá…  
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp nước ngoài  
như liên doanh liên kết với doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam, thanh  
toán xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ…  
Từ các dạng quan hệ tài chính trên có thể kết luận tài chính doanh nghiệp xét  
về nội dung vật chất là quỹ tiền tệ trong doanh nghiệp được tạo lập, sử dụng cho  
mục đích kinh doanh của doanh nghiệp, xét về thực chất là những quan hệ kinh tế  
giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế xã hội trong và ngoài nước. Từ đó, có thể  
khái quát tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá  
trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động kinh  
doanh của doanh nghiệp nhằm đạt tới mục tiêu của doanh nghiệp.  
2. Đặc điểm của tài chính doanh nghiệp  
Tài chính doanh nghiệp là một khâu của hệ thống tài chính và là khâu cơ sở,  
nên có những đặc điểm sau đây:  
118  
Thứ nhất, gắn liền với quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có  
các quan hệ tài chính doanh nghiệp đa dạng phát sinh như quan hệ nộp, cấp giữa  
doanh nghiệp với nhà nước, quan hệ thanh toán với các chủ thể khác trong xã hội,  
với người lao động trong doanh nghiệp.  
Thứ hai, sự vận động của quỹ tiền tệ, vốn kinh doanh có những nét riêng biệt  
đó là: sự vận động của vốn kinh doanh luôn gắn liền với các yếu tố vật tư là lao  
động: ngoài phần tạo lập ban đầu chúng còn được bổ sung từ kết quả kinh doanh; sự  
vận động của vốn kinh doanh vì mục tiêu doanh lợi.  
Cũng giống như các khâu tài chính khác, tài chính doanh nghiệp có chức năng  
khách quan đó là chức năng phân phối và chức năng giám đốc. Nhờ có chức năng  
phân phối mà doanh nghiệp có khả năng động viên khai thác và thu hút các nguồn  
tài chính trong nền kinh tế để hình thành vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Sau khi  
đã hình thành vốn kinh doanh, để sử dụng vốn, một lần nữa phải có sự tham gia của  
chức năng phân phối. Lúc này phân phối vốn lại đồng nghĩa với việc đầu tư vốn:  
đầu tư bên trong hay đầu tư bên ngoài. Lợi nhuận thu được là yếu tố quan trọng  
nhất, quyết định phương hướng và cách thức đầu tư của doanh nghiệp. Mục tiêu  
cuối cùng của mọi quá trình kinh doanh của doanh nghiệp là thu lợi nhuận, vì thế  
bên cạnh khả năng phân phối để thoả mãn về vốn kinh doanh, tài chính doanh  
nghiệp còn có khả năng giám sát dự báo hiệu quả của quá trình phân phối. Chức  
năng giám đốc của tài chính doanh nghiệp có khả năng phát hiện những khuyết tật  
trong khâu phân phối để từ đó điều chỉnh quá trình phân phối nhằm thực hiện  
phương hướng mục tiêu chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Song  
chức năng khách quan đó của tài chính doanh nghiệp phát huy đến mức nào thì phụ  
thuộc vào sự nhận thức một cách tự giác và hoạt động chủ quan của người quản lý.  
Đó chính là vai trò của tài chính doanh nghiệp.  
3. Vai trò của tài chính doanh nghiệp  
Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tài chính doanh nghiệp có  
những vai trò chủ yếu sau đây:  
- Huy động đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của  
doanh nghiệp.  
119  
Để thực hiện mọi quá trình kinh doanh của doanh nghiệp trước hết phải có  
một yếu tố tiền đề đó là vốn kinh doanh. Vai trò của tài chính doanh nghiệp trước  
hết được thể hiện ở việc xác định đúng đắn nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động của  
doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Tiếp đó phải lựa chọn các phương pháp và hình  
thức huy động vốn thích hợp, đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn để hoạt động của  
các doanh nghiệp được thực hiện một cách nhịp nhàng liên tục với chi phí huy động  
vốn thấp nhất.  
- Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả. Việc tổ chức sử dụng vốn  
tiết kiệm và hiệu quả được coi là điều kiện tồn tại và phát triển của mọi doanh  
nghiệp. Tài chính doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc đánh giá và lựa  
chọn dự án đầu tư tối ưu; huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh,  
phân bổ hợp lý các nguồn vốn, sử dụng các biện pháp để tăng nhanh vòng quay của  
vốn, nâng cao khả năng sinh lời của vốn kinh doanh.  
- Đòn bẩy kích thích và điều tiết kinh doanh. Vai trò này của tài chính  
doanh nghiệp được thể hiện thông qua việc tạo ra sức mua hợp lý để thu hút vốn  
đầu tư, lao động, vật tư, dịch vụ, đồng thời xác định giá bán hợp lý khi phát hành cổ  
phiếu, hàng hoá bán, dịch vụ và thông qua hoạt động phân phối thu nhập của doanh  
nghiệp, phân phối quỹ tiền thưởng, quỹ tiền lương, thực hiện các hợp đồng kinh  
tế…  
- Giám sát kiểm tra chặt chẽ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.  
Tình hình tài chính của doanh nghiệp là một tấm gương phản ánh trung thực nhất  
mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu tài chính thực  
hiện mà các nhà quản lý doanh nghiệp dễ dàng nhận thấy thực trạng quá trình kinh  
doanh của doanh nghiệp, để từ đó có thể đánh giá khái quát và kiểm soát được các  
mặt hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện kịp thời những vướng mắc, tồn tại để từ  
đó đưa ra các quyết định điều chỉnh các hoạt động kinh doanh nhằm đạt tới mục  
tiêu đã định.  
Vai trò của tài chính doanh nghiệp sẽ trở nên tích cực hay thụ động trước hết  
là phụ thuộc vào sự nhận thức và vận dụng các chức năng của tài chính, sau nữa còn  
phụ thuộc vào môi trường kinh doanh, cơ chế tổ chức tài chính doanh nghiệp và các  
nguyên tắc cần quán triệt trong mọi hoạt động tài chính doanh nghiệp.  
120  
II. TỔ CHỨC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP  
Để sử dụng tốt công cụ tài chính, phát huy vai trò tích cực của chúng trong sản  
xuất kinh doanh cần phải tổ chức tài chính. Tổ chức tài chính doanh nghiệp là việc  
hoạch định chiến lược về sử dụng tài chính và hệ thống các biện pháp để thực hiện  
chiến lược đó nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời  
kỳ nhất định. Song việc tổ chức tài chính doanh nghiệp lại chịu ảnh hưởng của  
nhiều nhân tố (như sự khác nhau về hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp, đặc  
điểm kinh tế kỹ thuật của ngành, môi trường kinh doanh…) và các nguyên tắc cần  
quán triệt.  
1. Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức TCDN  
1.1. Hình thức pháp lý của tổ chức doanh nghiệp  
Theo hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp, ở nước ta hiện nay có các loại  
hình doanh nghiệp sau đây:  
- Doanh nghiệp nhà nước.  
- Công ty cổ phần.  
- Công ty trách nhiệm hữu hạn.  
- Công ty hợp danh.  
- Doanh nghiệp tư nhân.  
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.  
Các loại hình doanh nghiệp khác nhau chi phối đến việc tổ chức, huy động  
vốn cũng như việc phân chia lợi nhuận cũng khác nhau. Chẳng hạn, doanh nghiệp  
nhà nước được Ngân sách nhà nước đầu tư vốn toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ  
ban đầu. Ngoài vốn nhà nước đầu tư, doanh nghiệp được quyền huy động vốn dưới  
các hình thức phát hành trái phiếu, vay vốn, nhận góp liên doanh… nhưng không  
thay đổi hình thức sở hữu của doanh nghiệp. Việc phân phối lợi nhuận sau thuế  
được thực hiện theo quy định của chính phủ. Đối với doanh nghiệp tư nhân thì vốn  
là do chủ doanh nghiệp tư nhân tự bỏ ra, cũng có thể huy động thêm từ bên ngoài  
dưới hình thức đi vay. Loại doanh nghiệp này không được phép phát hành một loại  
chứng khoán nào trên thị trường để tăng vốn. Phần thu nhập sau thuế thuộc quyền  
sở hữu và sử dụng của chủ doanh nghiệp. Còn đối với công ty trách nhiệm hữu hạn  
121  
thì vốn điều lệ của công ty là do các thành viên đóng góp. Trong quá trình hoạt  
động vốn có thể tăng nên nhờ kết nạp thêm thành viên mới, trích từ quỹ dự trữ hoặc  
đi vay bên ngoài nhưng không được phép phát hành chứng khoán. Việc phân chia  
lợi nhuận sau thuế do các thành viên quyết định, mức lợi nhuận các thành viên nhận  
được phụ thuộc vào vốn đóng góp…  
1.2. Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành kinh doanh  
Tổ chức tài chính doanh nghiệp còn dựa vào đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của  
ngành kinh doanh. Mỗi ngành kinh doanh có đặc điểm về mặt kinh tế và kỹ thuật  
riêng. Những đặc điểm đó đã ảnh hưởng đến cơ cấu vốn kinh doanh của doanh  
nghiệp (ngành công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến vốn cố định chiếm tỷ  
trọng khác nhau trong tổng số vốn kinh doanh); ảnh hưởng đến tốc độ luân chuyển  
vốn (tốc độ luân chuyển vốn của doanh nghiệp sản xuất chậm hơn tốc độ luân  
chuyển vốn của các doanh nghiệp thương mại dịch vụ, doanh nghiệp sản xuất kinh  
doanh có tính chất thời vụ khác với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh liên tục…).  
1.3. Môi trường kinh doanh  
Môi trường kinh doanh bao gồm tất cả các điều kiện bên ngoài ảnh hưởng tới  
hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, việc tổ chức tài chính doanh nghiệp phải tính  
đến tác động của môi trường kinh doanh.  
Môi trường kinh doanh bao gồm: sự ổn định về kinh tế, thị trường, lãi suất, cơ  
sở hạ tầng của nền kinh tế, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, chính  
sách kinh tế, tài chính của nhà nước… Sự ổn định của nền kinh tế sẽ tạo môi trường  
thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nền kinh tế biến động có thể  
gây nên những rủi ro cho kinh doanh, những rủi ro đó ảnh hưởng tới các khoản chi  
phí đầu tư, ảnh hưởng nhu cầu về vốn, ảnh hưởng tới thu nhập của doanh nghiệp, cơ  
sở hạ tầng của nền kinh tế phát triển cũng ảnh hưởng đến tiết kiệm chi phí trong  
kinh doanh…  
Thị trường, gia cả, lãi suất đều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của  
doanh nghiệp.  
Thị trường tài chính, thị trường hàng hoá phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho  
doanh nghiệp huy động vốn từ bên ngoài cũng như mua vật tư, thiết bị bán hàng hoá  
của doanh nghiệp được dễ dàng.  
122  
Giá cả, lãi suất đều ảnh hưởng tới sự tăng giảm về chi phí tài chính và sự hấp  
dẫn của các hình thức tài trợ khác nhau. Mức lãi suất cũng là một yếu tố đo lường  
khả năng huy động vốn vay.  
Sự tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ đòi hỏi doanh nghiệp không ngừng  
cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ đảm bảo cho sản phẩm của doanh nghiệp tồn  
tại và phát triển, đứng vững trong cạnh tranh. Từ đó, đòi hỏi doanh nghiệp phải có  
vốn đầu tư lớn và chọn hướng đầu tư thích hợp…Chính sách kinh tế và tài chính  
của nhà nước đối với doanh nghiệp (như chính sách khuyến khích đầu tư, chính  
sách thuế, chính sách tín dụng và lãi suất, chính sách ngoại hối, chế độ khấu hao…)  
phù hợp với môi trường tài chính vĩ mô sẽ ổn định, tạo điều kiện cho các doanh  
nghiệp đầu tư phát triển, khuyến khích các doanh nghiệp tích tụ vốn, sử dụng vốn  
tiết kiệm và có hiệu quả.  
2. Nguyên tắc tổ chức tài chính doanh nghiệp  
Tổ chức tài chính của doanh nghiệp không những chỉ dựa vào các nhân tố trên  
mà còn phải quán triệt đầy đủ các nguyên tắc sau đây:  
Thứ nhất: Nguyên tắc tôn trọng luật pháp  
Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu chung của các doanh nghiệp là đều  
hướng tới lợi nhuận. Vì lợi nhuận tối đa mà các doanh nghiệp có thể kinh doanh với  
bất cứ giá nào có thể phương hại tới lợi ích quốc gia, đến lợi ích của các doanh  
nghiệp khác. Do đó, song song với bàn tay vô hình của nền kinh tế thị trường phải  
có bàn tay hữu hình của nhà nước để điều chỉnh nền kinh tế. Nhà nước đã sử dụng  
hàng loạt các công cụ như luật pháp, chính sách tài chính, tiền tệ, giá cả… để quản  
lý vĩ mô nền kinh tế. Các công cụ đó một mặt tạo điều kiện kích thích mở rộng đầu  
tư, tạo môi trường kinh doanh, mặt khác tạo ra khuôn khổ luật pháp kinh doanh rất  
chặt chẽ. Vì vậy, nguyên tắc hàng đầu của tổ chức tài chính doanh nghiệp là phải  
tôn trọng luật pháp. Doanh nghiệp phải hiểu luật để đầu tư đúng hướng – nơi được  
nhà nước khuyến khích (như giảm thuế, tài trợ tín dụng…)  
Thứ hai: Nguyên tắc hạch toán kinh doanh  
Hạch toán kinh doanh là nguyên tắc quan trọng nhất, quyết định tới sự sống  
còn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Yêu cầu tối cao của nguyên  
tắc này là lấy thu bù chi, có doanh lợi. Nó hoàn toàn trùng hợp với mục tiêu của các  
123  
doanh nghiệp là kinh doanh để đạt được lợi nhuận tối đa. Do có sự thống nhất đó  
nên hạch toán kinh doanh không chỉ là điều kiện để thực hiện mà còn là yêu cầu bắt  
buộc các doanh nghiệp phải thực hiện nếu như không muốn doanh nghiệp bị phá  
sản. Thế nhưng hạch toán kinh doanh chỉ có thể được phát huy tác dụng trong môi  
trường đích thực là nền kinh tế hàng hoá mà đỉnh cao của nó là nền kinh tế thị  
trường và doanh nghiệp được tự chủ về mặt tài chính, tự chủ trong kinh doanh.  
Doanh nhiệp được quyền sở hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình, chủ động lựa  
chọn ngành nghề, địa bàn đầu tư, hình thức đầu tư kinh doanh, góp vốn vào các  
doanh nghiệp khác; lựa chọn hình thức và cách thức huy động vốn, chủ động tìm  
kiếm thị trường khách hàng và ký kết hợp đồng; tuyển thuê và sử dụng lao động  
theo yêu cầu kinh doanh; chủ động áp dụng phương thức quản lý khoa học hiện đại  
để nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh. Mục tiêu hiệu quả kinh tế phải được  
coi là mục tiêu bao trùm chi phối hoạt động tài chính của doanh nghiệp.  
Thứ ba: Nguyên tắc giữ chữ tín  
Giữ chữ tín không chỉ là một tiêu chuẩn đạo đức trong cuộc sống đời thường  
mà còn là nguyên tắc nghiêm ngặt trong kinh doanh nói chung và trong tổ chức tài  
chính doanh nghiệp nói riêng. Trong thực tế kinh doanh cho thấy, kẻ làm mất chữ  
tín, chỉ ham lợi trước mắt sẽ bị bạn hàng xa lánh. Đó là nguy cơ dẫn đến phá sản.  
Do đó trong tổ chức tài chính doanh nghiệp để giữ chữ tín cần tôn trọng nghiêm  
ngặt các kỉ luật thanh toán, chi trả các hợp đồng kinh tế, các cam kết về góp vốn đầu  
tư, và phân chia lợi nhuận. Mặt khác để giữ chữ tín doanh nghiệp cũng cần mạnh  
dạn đầu tư, đổi mới công nghệ, cải tiến kĩ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm để  
luôn giữ được giá trị của nhãn hiệu hàng hoá của doanh nghiệp.  
Thứ tư: Nguyên tắc an toàn phòng ngừa rủi ro  
Đảm bảo an toàn, phòng ngừa rủi ro bất trắc cũng được coi là nguyên tắc quan  
trọng trong kinh doanh nói chung và tổ chức tài chính doanh nghiệp nói riêng. Đảm  
bảo an toàn là cơ sở vững chắc cho việc thực hiện mục tiêu kinh doanh có hiệu quả.  
Nguyên tắc an toàn cần được quán triệt trong mọi khâu của công tác tổ chức tài  
chính doanh nghiệp: an toàn trong việc lựa chọn nguồn vốn, an toàn trong việc lựa  
chọn đối tác đầu tư liên doanh, an toàn trong việc sử dụng vốn…An toàn và mạo  
hiểm trong kinh doanh là hai thái cực đối lập nhau. Mạo hiểm trong đầu tư thường  
phải chấp nhận nhiều rủi ro lớn, nhưng cũng thường thu được lợi nhuận cao và  
124  
ngược lại. Điều này đòi hỏi các nhà tài chính phải có những quyết sách đúng đắn  
trong các thời cơ thích hợp để lựa chọn phương án đầu tư vừa đảm bảo an toàn, vừa  
mang lại hiệu quả cao. Ngoài các giải pháp lựa chọn phương án an toàn trong kinh  
doanh, cần thiết phải tạo lập quỹ dự phòng (quỹ dự trữ tài chính) hoặc tham gia bảo  
hiểm. Mặt khác, việc thành lập công ty, hình thức phát hành cổ phiếu cũng là biện  
pháp vừa để tập trung vốn, vừa để san sẻ rủi ro cho các cổ đông nhằm tăng độ an  
toàn vốn trong kinh doanh của doanh nghiệp.  
Trên đây là những nguyên tắc rất cơ bản cần được quán triệt trong công tác tổ  
chức tài chính doanh nghiệp. Để sử dụng tốt công cụ tài chính doanh nghiệp, cần  
thiết phải tìm hiểu những nội dung hoạt động của tài chính doanh nghiệp.  
III. NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA HOẠT  
ĐỘNG TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP.  
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của tài chính doanh nghiệp có vị trí  
quan trọng đặc biệt, chi phối tất cả các khâu của quá trình kinh doanh của một  
doanh nghiệp.  
Tuỳ từng loại hình doanh nghiệp mà có những nội dung hoạt động tài chính  
khác nhau, trọng tâm và mức độ quản lý trong từng khâu cũng khác nhau. Ở phần  
này chỉ giới thiệu nội dung hoạt động tài chính của doanh nghiệp phi tài chính  
(doanh nghiệp sản xuất kinh doanh). Hoạt động tài chính của các doanh nghiệp sản  
xuất kinh doanh bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:  
1. Quản lý sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp  
Trong nội dung hoạt động tài chính của doanh nghiệp, quản lý và sử dụng vốn  
kinh doanh là khâu quan trọng nhất, có tính chất quyết định tới mức độ tăng trưởng  
hoặc suy thoái của một doanh nghiệp. Quản lý sử dụng vốn kinh doanh bao gồm  
nhiều khâu như xác định nhu cầu vốn kinh doanh, khai thác tạo lập vốn kinh doanh,  
đầu tư sử dụng và bảo toàn vốn kinh doanh…Vậy vốn kinh doanh là gì, nó có  
những đặc trưng gì trong quá trình vận động của nó. Nhận thức được vấn đề này  
không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa trong việc định ra những  
luận cứ cho các phương pháp quản lý vốn.  
125  
1.1.Vốn kinh doanh và những đặc trưng của nó  
Để tiến hành bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có  
vốn. Vốn là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyết định tới các bước tiếp theo của  
quá trình kinh doanh. Để tiến hành sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp dùng vốn đó  
để mua sắm các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh như sức lao động, đối  
tượng lao động và tư liệu lao động. Do sự tác động của lao động vào đối tượng lao  
động thông qua tư liệu lao động mà hàng hoá dịch vụ được tạo ra và tiêu thụ trên thị  
trường. Cuối cùng, các hình thái vật chất khác nhau đó được chuyển hoá về hình  
thái tiền tệ ban đầu. Để đảm bảo sự tồn tại phát triển của doanh nghiệp, số tiền thu  
được do tiêu thụ sản phẩm phải đảm bảo bù đắp toàn bộ các chi phí đã bỏ ra và có  
lãi. Như vậy, số tiền đã ứng ra ban đầu không những chỉ được bảo tồn mà nó còn  
được tăng thêm do hoạt động kinh doanh mang lại. Toàn bộ giá trị ứng ra ban đầu  
và các quá trình tiếp theo cho sản xuất kinh doanh được gọi là vốn. Vốn được biểu  
hiện cả bằng tiền lẫn cả giá trị vật tư tài sản và hàng hoá của doanh nghiệp, tồn tại  
dưới cả hình thái vật chất cụ thể và không có hình thái vật chất cụ thể. Từ đó có thể  
hiểu, vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản  
hữu hình và tài sản vô hình được đầu tư vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.  
Vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp là một quỹ tiền tệ đặc biệt. Vốn kinh  
doanh của doanh nghiệp nhằm phục vụ cho sản xuất kinh doanh tức là mục đích  
tích luỹ. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp nhằm phục vụ cho sản xuất kinh doanh.  
Vốn kinh doanh phải đạt tới mục tiêu sinh lời và vốn luôn thay đổi hình thái biểu  
hiện, nó vừa tồn tại dưới hình thái tiền vừa tồn tại dưới hình thái vật tư hoặc tài sản  
vô hình, nhưng kết thúc vòng tuần hoàn phải là hình thái tiền.  
Ở đây cần có sự phân biệt giữa tiền và vốn. Tiền được gọi là vốn phải đồng  
thời thỏa mãn những điều kiện sau đây:  
Thứ nhất, tiền phải đại diện cho một lượng hàng hoá nhất định (tiền phải được  
đảm bảo bằng một lượng tài sản có thực).  
Thứ hai, tiền phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định, đủ sức để  
đầu tư cho một dự án kinh doanh.  
Thứ ba, khi đã đủ về số lượng, tiền phải được vận động nhằm mục đích sinh  
lời. Cách vận động và phương thức vận động của tiền lại do phương thức đầu tư  
kinh doanh quyết định. Các phương thức đầu tư có thể mô phỏng theo sơ đồ sau:  
126  
SLĐ  
T – H … SX … H’ - T  
TLSX  
Trường hợp đầu tư vào lĩnh vực thương mại  
T – H – T  
Trường hợp đầu tư mua cổ phiếu trái phiếu, góp vốn liên doanh …  
T – T  
Trong thực tế, một doanh nghiệp có thể vận dụng đồng thời cả ba phương thức  
đầu tư vốn tiền tệ theo các mô hình trên miễn sao đạt được mục tiêu có mức doanh  
lợi cao và nằm trong khuôn khổ của pháp luật. Mục đích vận động của tiền vốn là  
để sinh lời. Trong quá trình vận động, vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện  
nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là giá trị - là tiền.  
Đồng tiền phải quay về nơi xuất phát với giá trị lớn hơn. Đó là nguyên lý đầu tư, sử  
dụng và bảo toàn vốn. Trong nền kinh tế thị trường, giá trị thực của một doanh  
nghiệp không phải chỉ là phép cộng giản đơn các loại vốn cố định và vốn lưu động  
hiện có, mà còn tính đến giá trị của những tài sản khác có khả năng sinh lời của  
doanh nghiệp như vị trí địa lý của doanh nghiệp, bí quyết về công nghệ chế tạo sản  
phẩm, mức độ uy tín của nhãn hiệu sản phẩm trên thị trường, uy tín của người lãnh  
đạo doanh nghiệp, trình độ tay nghề công nhân… Những tài sản trên được gọi là tài  
sản vô hình. Những tài sản này có vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra khả năng  
sinh lời của doanh nghiệp. Vì thế, khi góp vốn liên doanh, các hội viên có thể góp  
bằng tiền, vật tư, máy móc thiết bị, nhà xưởng, đất kinh doanh và cả bí quyết kỹ  
thuật hoặc khả năng uy tín kinh doanh . Tất nhiên, khi góp vốn, những tài sản đó  
đều phải được lượng hoá để quy về giá trị, đó chính là giá trị thực của doanh  
nghiệp. Những nhận thức trên đây về vốn kinh doanh không chỉ giúp cho việc xác  
định giá trị thực của một doanh nghiệp, mà còn giúp cho công tác quản lý vốn có  
tầm nhìn rộng để khai thác, sử dụng những tiềm năng sẵn có của doanh nghiệp phục  
vụ cho đầu tư kinh doanh trong nền kinh tế thị trường  
1.2 Đầu tư vốn kinh doanh  
Căn cứ vào mục đích kinh doanh của doanh nghiệp, vốn đầu tư được đồng  
nghĩa với vốn kinh doanh. Đó là số vốn được dùng vào kinh doanh trong một lĩnh  
vực nhất định nhằm mục đích sinh lời. Đầu tư vốn là hoạt động chủ quan có cân  
nhắc của người quản lý trong việc bỏ vốn vào một mục tiêu kinh doanh nào đó với  
hy vọng sẽ đưa lại hiệu quả kinh tế cao trong tương lai. Việc bỏ vốn vào mục đích  
127  
kinh doanh nào đó nhằm mục đích thu lợi nhuận thì được gọi là đầu tư vốn. Trong  
thực tế, giữa khả năng thu lợi nhuận cao với khả năng an toàn về vốn thường mâu  
thuẩn với nhau: mức lợi nhuận càng cao thì độ rủi ro càng lớn. Do đó, người đầu tư  
cần phải lựa chọn hướng đầu tư và phương án đầu tư thích hợp.  
Theo phạm vi đầu tư, đầu tư của doanh nghiệp chia ra đầu tư vào bên trong và  
đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp.  
Đầu tư vào bên trong doanh nghiệp được chia làm hai loại, đó là đầu tư xây  
dựng cơ bản và đầu tư vốn lưu động. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là vốn đầu tư  
nhằm tạo ra tài sản cố định của doanh nghiệp (TSCĐ). Theo tính chất công việc,  
đầu tư xây dựng cơ bản chia làm ba loại: đầu tư cho xây và lắp, đầu tư mua máy  
móc thiết bị và đầu tư xây dựng cơ bản khác. Theo hình thái vật chất của kết quả  
đầu tư, đầu tư XDCB chia làm hai loại: đầu tư TSCĐ hữu hình và đầu tư TSCĐ vô  
hình (mua bằng phát minh, sáng chế, bản quyền, quy trình công nghệ sản xuất mới,  
nhãn hiệu thương mại ….). Đầu tư vốn lưu động (VLĐ): doanh nghiệp cần dự trữ  
thường xuyên về nguyên vật liệu, bán thành phẩm, công cụ sản xuất nhỏ … tương  
ứng với quy mô sản xuất kinh doanh để đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp  
được thực hiện. Ngoài ra phải có một số vốn lưu động bằng tiền mặt.  
Đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp là góp vốn liên doanh với doanh nghiệp  
khác, mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nhgiệp khác hoặc của Nhà nước. Trong nền  
kinh tế thị trường, để phát triển và bảo toàn vốn phòng ngừa rủi ro, doanh nghiệp  
thường dành một tỷ lệ vốn đầu tư nhất định đầu tư tài chính ra bên ngoài.  
Việc phân loại vốn đầu tư theo cơ cấu vốn giúp doanh nghiệp xem xét tính  
hợp lý các khoản đầu tư trong tổng vốn kinh doanh của doanh nghiệp phù hợp với  
điều kiện cụ thể của môi trường cạnh tranh nhằm đạt hiệu quả đầu tư cao.  
Trong mục tiêu đầu tư cụ thể của doanh nghiệp, đầu tư của doanh nghiệp được  
chia thành các loại sau:  
- Đầu tư cho việc tăng năng lục sản xuất của doanh nghiệp.  
- Đầu tư cho đổi mới sản phẩm.  
- Đầu tư thay đổi thiết bị công nghệ.  
- Đầu tư để mở rộng tiêu thụ sản phẩm, tăng năng lực cạnh tranh.  
- Đầu tư tài chính ra bên ngoài.  
128  
Việc phân loại này giúp cho doanh nghiệp kiểm soát được tình hình thực hiện  
đầu tư dài hạn theo những mục tiêu nhất định, qua đó có thể tập trung vốn cho  
những mục tiêu đạt hiệu quả cao nhất hoặc những mục tiêu nằm trong chiến lược  
kinh doanh của doanh nghiệp.  
Đầu tư dài hạn của doanh nghiệp là một nhân tố quyết định sự phát triển của  
doanh nghiệp, do đó việc lựa chọn hướng đầu tư có tầm quan trọng quyết định.  
Về mặt kinh tế kỹ thuật và công nghệ, quyết định đầu tư dài hạn có ảnh hưởng  
đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong suốt một thời gian dài,  
ảnh hưởng có tính chất quyết định đến quy mô, trình độ trang thiết bị kỹ thuật, công  
nghệ sản xuất của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, đến  
tiêu thụ sản phẩm và lợi nhuận đạt được trong tương lai.  
Về mặt tài chính, quyết định đầu tư dài hạn là một quyết định tài chính dài hạn  
và thường là phải vay hoặc huy động từ bên ngoài. Đầu tư sai sẽ gây hậu quả  
nghiêm trọng cho doanh nghiệp, lãng phí vốn, gây nên tình trạng nợ nần, hoạt động  
kém hiệu quả và có thể dẫn đến phá sản.  
Để có quyết định dầu tư dài hạn đúng đắn, doanh nghiệp phải quyết định hợp  
lý các quan hệ cấu thành vốn kinh doanh của doanh nghiệp như:  
- Quan hệ hợp lý giữa vốn cố định và vốn lưu động.  
- Quan hệ gữa tài sản hữu hình và tài sản vô hình.  
- Quan hệ giữa đầu tư bên trong và đầu tư bên ngoài.  
- Quan hệ giữa đầu tư ban đầu và đầu tư mở rộng, đầu tư đổi mới.  
- Quan hệ đầu tư trong nước và đầu tư ra nước ngoài.  
1.3. Nguồn vốn kinh doanh  
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần có vốn: vốn đầu tư ban  
đầu và vốn bổ sung để mở rộng sản xuất kinh doanh. Đối với một doanh nghiệp,  
vốn đầu tư được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Có thể có các nguồn vốn do  
Ngân sách Nhà nước cấp, nguồn vốn do chủ kinh doanh bỏ ra, nguồn vốn tích lũy  
được trong quá trình kinh doanh, nguồn vốn do liên doanh, nguồn vốn từ phát hành  
cổ phiếu và nguồn vốn huy động khác.  
129  
Nguồn vốn từ Ngân sách nhà nước: là nguồn vốn do Ngân sách nhà nước cấp  
cho các doanh nghiệp nhà nước lúc mới hình thành doanh nghiệp. Nguồn vốn Ngân  
sách nhà nước cấp phát cho các doanh nghiệp nhà nước sẽ có xu hướng giảm đáng  
kể cả về tỷ trọng và số lượng. Các doanh nghiệp nhà nước phải chủ dộng bổ sung  
vốn bằng các nguồn tài trợ khác.  
Nguồn vốn tự có là nguồn vốn do chủ đầu tư bỏ ra. Nguồn vốn gốc của vốn tự  
có là tiền để dành, tích lũy được từ lợi nhuận hàng năm của doanh nghiệp hoặc huy  
động vốn cổ phần do phát hành cổ phiếu. Cổ phiếu là giấy chứng nhận quyền sở  
hữu của số vốn đã góp vào công ty cổ phần và nhờ đó được hưởng những quyền lợi  
của doanh nghiệp. Huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu là một phương thức  
huy động có hiệu quả các nguồn tài chính trong xã hội để có một số vốn lớn, ổn  
định cho đầu tư kinh doanh.  
Theo luật kinh doanh, để được kinh doanh trong một lĩnh vực nhất định, vốn  
tự có của doanh nghiệp đạt đến một quy mô nhất định. Nhà nước quy định bắt buộc  
khi doanh nghiệp ra đời phài có vốn pháp định ở mức mà luật pháp quy định cho  
từng ngành nghề, đồng thời phải có vốn điều lệ để hoạt động với yêu cầu vốn điều  
lệ không nhỏ hơn vốn pháp định.  
Nguồn vốn liên doanh: là những nguồn đóng góp theo tỷ lệ giữa các chủ đầu  
tư để cùng kinh doanh và cùng hưởng lợi nhuận. Việc góp vốn liên doanh có thể  
được hình thành từ nhiều nguồn tùy theo từng loại hình doanh nghiệp, có thể là liên  
doanh giữa nguồn vốn ngân sách với các nguồn vốn tự có của tư nhân, liên doanh  
giữa vốn ngân sách của quốc gia này với quốc gia khác hoặc liên doanh giữa tư  
nhân với nhau … Hình thức góp vốn liên doanh thích hợp với các công ty có quy  
mô nhỏ, tổ chức quản lý sản xuất và quản lý vốn, chia lãi giản đơn.  
Nguồn vốn tín dụng: là khoản vốn mà doanh nghiệp có thể vay dài hạn của các  
ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm hoặc các tổ chức tài  
chính trung gian khác, huy động của cán bộ công nhân viên làm việc trong doanh  
nghiệp hoặc vay nước ngoài theo cơ chế tự vay tự trả, cũng có thể bằng hình thức  
doanh nghiệp phát hành trái phiếu để huy động vốn cho đầu tư kinh doanh. Trái  
phiếu là phiếu nhận nợ do doanh nghiệp phát hành khi vay vốn của người khác để  
kinh doanh, cam kết trả lợi tức và hoàn trả vốn vay theo thời hạn nhất định. Theo  
định kỳ, doanh nghiệp phải trả cho người có trái phiếu một khoản lợi tức cố định và  
130  
đến thời hạn thanh toán doanh nghiệp phải thanh toán số tiền vay. Đối với doanh  
nghiệp, trái phiếu là phương tiện tài chính để vay vốn trên thị trường. Tuy nhiên vay  
được hay không còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố của doanh nghiệp. Các chủ nợ cho  
doanh nghiệp vay thường quan tâm đến các vấn đề như: tình hình tài chính của bản  
thân doanh nghiệp có lành mạnh không, mà trước tiên là khả năng thanh toán, uy tín  
của doanh nghiệp trên thị trường, cho vay có bị mất vốn hay không. Ở đây có tác  
động của yếu tố lạm phát làm giảm sức mua của vốn cho vay, có cả rủi ro của  
doanh nghiệp, lãi suất thực tế có được bao nhiêu… Còn đối với doanh nghiệp khi  
vay cần phải cân nhắc xem xét kỹ:  
- Nếu hiệu quả thực tế của khoản vay không đủ để trả giá cả khoản vay thì  
không nên vay.  
- Nếu hiệu quả thực tế của khoản vay tương đương với giá cả khoản vay  
thì cân nhắc kỹ, nhất là phải tính tới các rủi ro có thể xảy ra.  
- Nếu hiệu quả thực tế các khoản vay cao hơn giá cả các khoản vay thì nên  
vay, vì vay tốt hơn là phát hành cổ phiếu (bán bớt quyền sở hữu tài sản)  
Nghiên cứu nội dung, tính chất của các nguồn vốn giúp cho doanh nghiệp có  
thể lựa chọn nguồn vốn, khai thác huy động vốn phù hợp với nhu cầu và khả năng  
cho phép của mỗi doanh nghiệp. Mỗi một loại hình doanh nghiệp cũng chỉ có thể  
khai thác huy động vốn trên một số nguồn nhất định. Chẳng hạn, đối với doanh  
nghiệp nhà nước được phép huy động nguồn vốn từ Ngân sách nhà nước, còn các  
loại hình doanh nghiệp khác thì không có khả năng. Đối với công ty trách nhiệm  
hữu hạn, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân, ngoài nguồn vốn tự có của mình,  
thì có thể vay của các tổ chức tài chính trung gian để bổ sung vốn sản xuất kinh  
doanh, nhưng không được phát hành chứng khoán. Trong khi đó, đối với các công  
ty cổ phần, để huy động vốn cho sản xuất kinh doanh thì thông qua việc phát hành  
chứng khoán lại là chủ yếu. Việc nghiên cứu các nguồn vốn không chỉ giúp cho các  
doanh nghiệp lựa chọn nguồn vốn và khai thác các nguồn vốn đó phục vụ quá trình  
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mà còn tạo cho doanh nghiệp có biện pháp  
huy động vốn nhanh, đáp ứng kịp thời cho nhu cầu của doanh nghiệp với chi phí  
(giá cả) thấp nhất, đồng thời có phương hướng sử dụng hợp lý số vốn đã huy động  
được từ các nguồn vốn khác nhau cho các nhu cầu khác nhau của doanh nghiệp.  
Chẳng hạn, khi cần huy động vốn bổ sung cho quá trình kinh doanh của mình thì  
131  
doanh nghiệp có thể xem xét, lựa chọn hình thức nào có lợi nhất để phát hành cổ  
phiếu, phát hành trái phiếu, đi vay vốn của các tổ chức tài chính trung gian hay gọi  
vốn liên doanh. Dù huy động dưới hình thức nào cũng phải trả một khoản chi phí và  
đảm bảo những điều kiện nhất định, đòi hỏi doanh nghiệp phải tính toán hiệu quả,  
cân nhất lãi suất, thời hạn và điều kiện.  
Đối với doanh nghiệp cũng cần phải hiểu rằng khi có nhu cầu đầu tư vốn dài  
hạn, trước hết doanh nghiệp phải huy động tối đa nguồn vốn từ bên trong để thực  
hiện kế hoạch đầu tư của mình. Chỉ khi nguồn vốn từ bên trong không đủ đáp ứng  
thì doanh nghiệp mới bổ sung nguồn vốn từ bên ngoài. Việc huy động nguồn vốn  
bên trong doanh nghiệp là một vấn đề hết sức quan trọng trong sự phát triển của  
doanh nghiệp. Nguồn tài trợ từ bên ngoài là cần thiết nhưng không nên mong đợi  
quá mức vào nguồn vốn đó.  
1.4. Sử dụng và bảo toàn vốn kinh doanh  
Căn cứ vào công dụng kinh tế thì vốn kinh doanh của doanh nghiệp được chia  
thành vốn cố định, vốn lưu động và vốn đầu tư tài chính. Các loại vốn này có đặc  
điểm chu chuyển khác nhau. Chính sự khác nhau về đặc điểm chu chuyển đó đã chi  
phối đến phương thức quản lý, phương thức bù đắp và bảo toàn vốn cũng khác  
nhau.  
1.4.1. Vốn cố định  
Vốn cố định của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền toàn bộ TSCĐ của doanh  
nghiệp. TSCĐ của doanh nghiệp là những tài sản có giá trị lớn, thời gian sử dụng  
dài, có chức năng là tư liệu lao động.  
TSCĐ của doanh nghiệp có thể chia thành hai loại:  
- Tài sản hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất cụ thể như nhà  
xưởng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải … trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ  
cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.  
- Tài sản vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất cụ thể  
như chi phí để mua bằng phát minh, sáng chế, bản quyền tác giả…  
TSCĐ có những đặc điểm là:  
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, TSCĐ không thay đổi hình thái hiện vật,  
nhưng năng lực sản xuất và kèm theo đó là giá trị của chúng bị giảm dần. Đó là do  
132  
chúng bị hao mòn. Có hai loại hao mòn là hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình.  
Hao mòn hữu hình là hao mòn có liên quan đến việc giảm giá trị sử dụng của  
TSCĐ. Hao mòn vô hình lại có liên quan tới việc mất giá của TSCĐ. Việc mất giá  
của TSCĐ có nhiều nguyên nhân:  
- TSCĐ cũ có thể bị mất giá do TSCĐ mới được sản xuất ra với giá như  
cũ nhưng có năng lực sản xuất cao hơn hoặc TSCĐ cũ bị mất giá do TSCĐ mới  
được sản xuất ra có công suất bằng tài sản cũ nhưng giá trị lại rẻ hơn.  
- TSCĐ cũ bị mất giá do sản phẩm của chúng sản xuất ra không còn  
phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng.  
Đối với TSCĐ hữu hình thì thường bị cả hai loại hao mòn hữu hình và vô  
hình, còn TSCĐ vô hình thì chỉ bị hao mòn vô hình.  
Bộ phận giá trị đại diện cho phần hao mòn được gọi là tiền khấu hao. Tiền  
khấu hao là một yếu tố của chi phí sản xuất, một bộ phận của giá thành sản phẩm.  
Khi sản phẩm được tiêu thụ, tiền khấu hao được trích lại hình thành nên quỹ khấu  
hao.  
Từ đặc điểm vận động của TSCĐ đã quyết định đến đặc điểm vận động của  
vốn cố định.:  
Vốn cố định tham gia nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm và chuyển dần từng  
phần vào giá thành sản phẩm tương ứng với phần hao mòn của tài sản cố định.  
Vốn cố định được thu hồi dần từng phần tương ứng với phần hao mòn của tài  
sản cố định, đến khi TSCĐ hết thời gian sử dụng, giá trị của nó được thu hồi về đủ  
thì vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển.  
Những đặc điểm luân chuyển trên đây của vốn cố định đã chi phối đến phương  
thức bù đắp và phương thức quản lý vốn cố định.  
Vốn cố định được bù đắp (thu hồi) bằng biện pháp khấu hao, tức là trích lại  
phần giá trị hao mòn của tài sản cố định. Tiền trích lại đó hình thành nên quỹ khấu  
hao. Quỹ khấu hao dùng để duy trì năng lực sản xuất bình thường của TSCĐ và  
dùng để tái sản xuất toàn bộ tài sản cố định.  
Việc quản lý vốn cố định phải luôn gắn liền với việc quản lý hình thái hiện vật  
của nó là các TSCĐ của doanh nghiệp. Nói cách khác, quản lý vốn cố định là quản  
lý quỹ khấu hao. Để quản lý tốt quỹ khấu hao cần phải đánh giá và đánh giá lại tài  
133  
sản cố định một cách thường xuyên và chính xác, tạo cơ sở cho việc xác định mức  
khấu hao hợp lý để thu hồi vốn. Mặt khác, cần phải lựa chọn phương pháp khấu hao  
thích hợp để đảm bảo thu hồi vốn nhanh và bảo toàn được vốn.  
Quản lý mặt hiện vật của vốn cố định là quản lý TSCĐ. Để quản lý tốt tài sản  
cố định cần phải phân loại TSCĐ theo những tiêu thức khác nhau (phân loại theo  
hình thái biểu hiện, theo mục đích sử dụng, theo công dụng kinh tế, theo tình hình  
sử dụng) để từ đó xác định trọng tâm của công tác quản lý.  
Do đặc điểm tài sản cố định là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh  
song vẫn giữ nguyên hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu, còn giá trị lại  
chuyển dần vào giá trị sản phẩm nên nội dung bảo toàn vốn cố định bao gồm hai  
mặt giá trị và hiện vật. Trong đó bảo toàn về hiện vật là tiền đề để bảo toàn vốn cố  
định về giá trị.  
Bảo toàn vốn cố định về mặt hiện vật không chỉ là giữ nguyên hình thái vật  
chất và duy trì thường xuyên năng lực sản xuất ban đầu của nó. Điều đó đòi hỏi  
trong quá trình sử dụng, doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ không làm mất tài sản  
cố định, thực hiện đúng quy chế sử dụng, bảo dưỡng nhằm duy trì và nâng cao năng  
lực hoạt động của TSCĐ, không để TSCĐ hư hỏng trước thời hạn quy định.  
Bảo toàn vốn cố định về mặt giá trị là phải duy trì được sức mua của vốn cố  
định ở thời điểm hiện tại so với thời điểm bỏ vốn đầu tư ban đầu bất kể sự biến  
động của giá cả, tỷ giá hối đoái, tiến bộ khoa học kỹ thuật.  
Để bảo toàn và phát triển vốn cố định của doanh nghiệp cần đánh giá đúng đắn  
các nguyên nhân dẫn đến tình trạng không bảo toàn được vốn để có biện pháp xử lý  
đúng (như phải đánh giá đúng giá trị của TSCĐ để trích đủ, trích đúng chi phí khấu  
hao, không để mất vốn; lựa chọn phương pháp khấu hao thích hợp không để mất  
vốn, hạn chế ảnh hưởng của hao mòn vô hình; chú trọng đổi mới trang thiết bị; thực  
hiện chế độ bảo dưỡng sửa chữa; thực hiện các biện pháp đề phòng rủi ro trong kinh  
doanh …) Một trong các biện pháp chủ yếu bảo toàn phát triển vốn cố định là sử  
dụng có hiệu quả vốn cố định.  
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định có thể sử dụng một số chỉ tiêu tổng  
hợp và phân tích sau đây:  
134  
Doanh thu (doanh thu thuần) trong kỳ  
Số vốn cố định bình quân trong kỳ  
Chỉ tiêu hiệu suất  
vốn cố định  
=
Ý nghĩa của chỉ tiêu này: Phản ánh một đồng vốn cố định tạo ra bao nhiêu  
đồng doanh thu.  
Lợi nhuận trước thuế  
= ------------------------------------------  
Số vốn cố định bình quân trong kỳ  
Chỉ tiêu tỷ suất lợi  
nhuận vốn cố định  
Ý nghĩa của chỉ tiêu này: Phản ánh một đồng vốn cố định tạo ra bao nhiêu  
đồng lợi nhuận.  
Hoặc chỉ tiêu hệ số hao mòn TSCĐ.  
Số tiền khấu hao luỹ kế  
= ---------------------------------------  
NG TSCĐ ở thời điểm đánh giá  
Hệ số hao mòn tài  
sản cố định  
Ý nghĩa của chỉ tiêu này: Phản ánh mức độ hao mòn của TSCĐ trong  
doanh nghiệp so với thời điểm đầu tư ban đầu.  
NG TSCĐ bình quân trong kỳ  
= --------------------------------------  
Số lượng công nhân trực tiếp sản xuất  
Hệ số trang bị tài  
sản cố định  
Ý nghĩa của chỉ tiêu này: Phản ánh giá trị TSCĐ bình quân trang bị cho một  
công nhân trực tiếp sản xuất  
135  
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định có ý nghĩa to lớn về kinh tế tài  
chính: giúp cho doanh nghiệp tăng được khối lượng sản phẩm sản xuất ra, tiết kiệm  
chi phí đầu tư, giảm hoặc tránh được hao mòn vô hình, hạ giá thành đơn vị sản xuất,  
từ đó tăng doanh lợi.  
Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định thì cần phải áp dụng các biện pháp  
để nâng cao hiệu suất sử dụng TSCĐ; nâng cao chất lượng quản lý vốn cố định và  
bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề cho công nhân.  
1.4.2. Vốn lưu động  
Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền toàn bộ tài sản lưu động của doanh  
nghiệp phục vụ cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.  
Tài sản lưu động của doanh nghiệp chia làm hai loại:  
- Tài sản lưu động sản xuất (nguyên nhiên vật liệu, bán thành phẩm, sản  
phẩm dở dang …)  
- Tài sản lưu thông (sản phẩm thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn  
bằng tiền, vốn trong thanh toán, chi phí trả trước …)  
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu  
động lưu thông luôn vận động, thay thế và chuyển hoá lẫn nhau, đảm bảo cho quá  
trình sản xuất được tiến hành liên tục.  
Đặc điểm của tài sản lưu động là tham gia vào từng chu kỳ sản xuất, tài sản  
lưu động bị tiêu dùng hoàn toàn trong việc chế tạo ra sản phẩm và thay đổi hình thái  
biểu hiện.  
Đặc điểm của tài sản lưu động đã chi phối đến đặc điểm của vốn lưu động.  
Vốn lưu động chuyển một lần toàn bộ vào giá thành sản phẩm mới được tạo ra. Vốn  
lưu động được thu hồi một lần toàn bộ sau khi bán hàng và thu tiền về và lúc đó kết  
thúc vòng tuần hoàn của vốn.  
Từ đặc điểm về phương thức vận động của tài sản lưu động và phương thức  
chuyển dịch giá trị của vốn lưu động đã ảnh hưởng chi phối đến công tác quản lý sử  
dụng vốn lưu động. Muốn quản lý tốt vốn lưu động thì phải quản lý trên tất cả các  
hình thái biểu hiện của vốn. Để quản lý, sử dụng vốn lưu động có hiệu quả cần phải  
tiến hành phân loại vốn lưu động theo các tiêu thức khác nhau: phân loại theo vai  
trò của từng loại vốn lưu động trong sản xuất kinh doanh (vốn lưu dộng ở khâu dự  
136  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 70 trang yennguyen 14880 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Tài chính - Tiền tệ (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_tai_chinh_tien_te_phan_2.pdf